THI VĂN DẠY ĐẠO

Thơ Đường luật (8 câu) Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển 1:

1.

Tròi trọi mình không mới thiệt bần,
Một nhành sen trắng náu nương chân.
Ở nhà mượn đám mây xanh kịt,
Đỡ gót nhờ con hạc trắng ngần.
Bố hóa người đời gây mối đạo,
Gia ân đồ đệ dựng nền nhân.
Chừng nào đất dậy Trời thay xác,
Chư Phật, Thánh, Tiên xuống ở trần.

2.

Tân tả BẠCH NGỌC KINH

Một Tòa Thiên các ngọc làu làu,
Liền bắc cầu qua nhấp nhóa sao.
Vạn trượng then gài ngăn Bắc đẩu,
Muôn trùng nhịp khảm hiệp Nam tào.
Chư Thần chóa mắt màu thường đổi,
Liệt Thánh kinh tâm phép vẫn cao.
Dời đổi chớp giăng đoanh đỡ nổi,
Vững bền vạn kiếp chẳng hề xao.

Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng chú thích bài thi số 2:
Vạn trượng then gài ngăn Bắc đẩu,
Muôn trùng nhíp khảm hiệp Nam tào.

3.

Huỳnh lương một giấc cuộc đời in,
Có trí có mưu phải xét mình.
Phú quí lớn là giành với giựt,
Lợi danh cao bởi mượn và xin.
Trăm năm lẩn quẩn đường nhơn nghĩa,
Một kiếp đeo đai mối nợ tình.
Biết số biết căn tua biết phận,
Đường xưa để bước lại Thiên Đình.

 

CHÚ THÍCH:
Bài thi số 3, cặp trạng ở trên là chép theo bản Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển 1 in năm 1964, còn bản in năm 1928, cặp trạng trên là:

Danh lợi lớn là giành với giựt,
Phú quí cao bởi mượn và xin.

4.

Đời hiếp lẫn nhau nỡ chẳng thương,
Thương đời nên mới đến đem đường.
Đường dài vó ngựa tua bền sức,
Sức yếu lòng người khéo để gương.
Gương Đạo noi theo đời Thuấn Đế,
Đế dân vẹn giữ lối Văn Vương.
Vương hầu lê thứ, ai là chí,
Chí quyết làm cho thế khác thường.

 

CHÚ THÍCH:
Thuấn Đế:
Vua Thuấn, nối ngôi vua Nghiêu. Dưới 2 thời vua nầy, dân chúng sống trong cảnh thái bình thạnh trị.Văn Vương: Vua Văn Vương là vị vua khai sáng ra nhà Châu bên Tàu. Ngài có công nghiên cứu và chế ra Bát Quái Hậu Thiên, giải thích Kinh Dịch.
Lối Văn Vương: Đường lối của vua Văn Vương là dụng đạo đức để thu phục lòng người.

5.

Thanh thanh nhựt nguyệt Cửu Trùng Thiên,
Hiện xuất cao nhơn tại nhãn tiền.
Bất quản hổ tranh thâu Bắc Cực,
Chỉ nguy long đấu đoạt Nam Uyên.
Sanh tồn cụ pháp vô công trác,
Tử hậu cùng đồ uổng lộ diên.
Hữu đạo, hữu công du tự khả,
Vô công, vô đạo tổng đồ nhiên.

 

CHÚ THÍCH:
Trời xanh, mặt nhựt, mặt nguyệt và Cửu Trùng Thiên,
Trước mắt xuất hiện một vị cao nhơn.
Không quản ngại cọp tranh giành thâu cõi Bắc,
Chỉ hiểm nguy rồng tranh đấu đoạt vực Nam.
Đầy đủ các pháp để sanh tồn, không cần công sức giồi mài,
Sau nầy đến đường cùng thì chết, uổng công kéo dài con đường.
Có đạo có công thì tự mình vượt qua được,
Không đạo không công thì tất cả không được gì cả.

6.

Hảo Nam bang! Hảo Nam bang!
Tiểu quốc tảo khai Hội Niết Bàn.
Hạnh ngộ Cao Đài truyền Đại Đạo,
Hảo phùng Ngọc Đế ngự trần gian.
Thi ân, tế chúng thiên tai tận,
Nhược thiệt, nhược hư vạn đại an.
Chí bửu nhơn sanh vô giá định,
Năng tri giác thế sắc cao ban.

 

CHÚ THÍCH:
Tốt đẹp thay nước Việt Nam!
Một nước nhỏ sớm khai Hội Long Hoa.
May mắn gặp Đấng Cao Đài truyền cho nền Đại Đạo,
Tốt đẹp gặp Đấng Thượng Đế ngự xuống cõi trần.
Ban ơn, cứu giúp dân chúng ngàn tai nạn mất hết,
Như là thực, như là không thực, muôn đời an ổn.
Rất quí báu cho nhơn sanh, không thể định giá trị được,
Nên biết giác ngộ người đời thì được Đức Chí Tôn ban thưởng.

Cặp trạng của bài thi nầy thường được dùng làm đôi liễn viết vào hai bên Thiên Bàn thờ tại tư gia.

7.

Hữu văn hữu võ hữu phong ba,
Nhựt Nguyệt Âm Dương tứ quí hòa.
Thiên Địa Càn Khôn kiêm vạn loại,
Nhơn quần thảo mộc cập chư hoa.
Ly kỳ cảnh vật cao nhơn thưởng,
Đáo để san hà thượng khách ca.
Ngã vấn chư nhu hà thủ tạo?
Kỉnh Ngô vi chủ, Đạo như hà?

Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng chú thích bài thi số 7:
Hữu vân hữu võ hữu phong ba,
Nhựt Nguyệt Âm Dương tứ quí hòa.
... ... ...

 

CHÚ THÍCH:
Có mây có mưa, có sóng gió,
Mặt trời, mặt trăng, khí âm, khí dương, bốn mùa hòa hợp.
Trời Đất, Càn khôn thế giới bao gồm vạn vật,
Loài người, thảo mộc, đến các thứ hoa,
Cảnh vật đẹp lạ lùng cho cao nhơn thưởng thức,
Cảnh núi sông, thượng khách hết sức ca ngợi,
Ta hỏi chư nhu, tay ai tạo ra các thứ ấy?
Kính Ta làm chủ, nền Đạo liệu như vậy sao?

8.

Ngọc ẩn thạch kỳ ngọc tự cao,
Hoàng Thiên bất phụ chí anh hào.
Giáng ban phúc hạnh nhơn đồng lạc,
Thế tạo lương phương thế cộng giao.
Giáo hóa nhơn sanh cầu triết lý,
Đạo truyền thiên hạ ái đồng bào.
Nam nhơn tỉnh cảm sanh cao khí,
Phương tiện tu tâm kế diệt lao.

 

CHÚ THÍCH:
Ngọc ẩn trong đá núi, ngọc ấy tự nó có giá trị cao,
Trời không phụ ý chí của người anh hùng hào kiệt.
Giáng trần để ban hạnh phúc cho loài người cùng vui vẻ.
Đời tạo phương hay, đời giao hòa cùng chung với nhau.
Giáo hóa nhơn sanh cầu cái triết lý cao siêu của Đạo,
Đem Đạo truyền cho dân chúng biết thương yêu đồng bào.
Người Việt Nam  tỉnh ra cảm ứng sanh chí khí cao thượng.
Phương tiện tu tâm là kế tiêu diệt các nỗi khổ đau.

9.

Tường quang nhứt khí chiếu minh đông,
Tam Giáo qui nguyên giữ cộng đồng.
Phật Pháp khuyến nhơn qui mỹ tục,
Nho Tông phục thế hưởng thuần phong.
Diệu huyền chơn đạo tu tông hướng,
Mê hoặc tà mưu khả tự phòng.
Thế thượng dục tri Thiên sứ đáo,
Tam Kỳ Phổ Độ lập kỳ công.

Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng chú thích bài thi số 9:
Tường quang nhứt khí chiếu minh đông,
Tam Giáo qui nguyên dữ cộng đồng.
... ... ...

 

CHÚ THÍCH:
Một khí sáng lành chiếu sáng phương đông,
Tam giáo qui nguyên và cùng chung với nhau.
Giáo lý của Phật khuyên người trở về mỹ tục,
Đạo Nho làm cho đời trở lại hưởng thuần phong.
Nền Chơn đạo huyền diệu, nên hướng sự tu hành về đó,
Mưu kế tà quái mê hoặc nhơn sanh, khá tự đề phòng,
Trên đời muốn biết các Thiên sứ đã đến,
Hãy lập công quả lớn trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

THI VĂN DẠY ĐẠO

Thơ Đường luật (8 câu) Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển 2:

10.

Khổ đời muốn lánh gắng tìm phương,
Giành giựt đừng mong chác thế thường.
Xạo xự tuồng đời lừng bợn tục,
Trau tria nét đạo nực mùi hương.
Rừng thiền ngàn dặm Trời soi bước,
Biển khổ muôn chia khách lạc đường.
Gặp được nẻo ngay đời có mấy?
Thìn lòng khối ngọc tạo nên gương.

11.

Gắng sức trau giồi một chữ tâm,
Đạo đời muôn việc khỏi sai lầm.
Tâm thành ắt đạt đường tu vững,
Tâm chánh mới mong mối đạo cầm.
Tâm ái nhơn sanh an bốn biển,
Tâm hòa thiên hạ trị muôn năm.
Đường tâm cửa Thánh dầu chưa vẹn,
Có buổi hoài công bước Đạo tầm.

12.

Phải giữ chơn linh đặng trọn lành,
Ngọc Hư toàn ngự đấng tinh anh.
Luật điều Cổ Phật không chừa tội,
Hình phạt Chí Tôn chẳng vị tình.
Chánh trực kinh oai loài giả dối,
Công bình vừa sức kẻ chơn thành.
Mũi kim chẳng lọt xưa nay hẳn,
Biết sợ xin khuyên cẩn thận mình.

Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng chú thích bài thi số 12:
Chánh trực kinh oai loài giả dối,
Công bình vùa sức kẻ chơn thành.
... ... ...

13.

Màn Trời đã vẹt ngút mây trương,
Bước tới đài hoa thấy tỏ tường.
Ngọc sáng non Côn đà gặp nẻo,
Lối mòn động Bích chớ lầm đường.
Chánh tà đôi nẻo tua tầm chước,
Hư thiệt muôn phần gắng định phương.
Mê tỉnh chuông khua phân biệt tiếng,
Rừng thiền nô nức loán mùi hương.

 

CHÚ THÍCH:
Đài hoa:
Ý nói Đài vinh quang. Ngọc sáng non Côn: Ngọc đẹp trong đá của núi Côn. Động Bích: Bích Du Cung của Thông Thiên Giáo Chủ.
Cặp trạng:
Gặp được Chánh đạo quí báu, Chớ lầm đường vào Tà đạo.

14.

Tìm Đạo mà chi khá hỏi mình,
Bến mê mới vững vớt quần sinh.
Vun trồng cội phúc ơn chan thấm,
Dong ruổi đường Tiên nghĩa tạc gìn.
Tâm chánh nương nhau dìu lối chánh,
Lòng thanh nhờ lẫn lóng hơi thanh.
Thiên cơ tuy hẳn nêu trường khảo,
Lướt khỏi, ngàn thu quả đắc thành.

Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng chú thích bài thi số 14:
Tâm chánh nương nhau dìu lối chánh,
Lòng thành nhờ lẫn lóng hơi thanh.
Thiên cơ tuy hẳn nên trường khảo,
Lướt khỏi, ngàn thu quả đắc thành.

15.

Đổi tục về Tiên sắc đượm nhuần,
Rưới chan cho khắp giọt hồng ân.
Rừng tòng thanh nhã say mùi Đạo,
Bể khổ mênh mang vớt khách trần.
Linh dược đầy bầu là cội ái,
Kinh luân nặng túi ấy nguồn nhân.
Buồm trương lái vững chờ sông lệ,
Đưa chiếc thuyền sen đến đảnh Thần.

 

CHÚ THÍCH:
Sông lệ:
Ý nói: Biển khổ. Lệ là nước mắt. Thuyền sen: Chiếc thuyền do Phật Tổ lấy một cánh sen nơi cõi Cực Lạc Thế Giới tạo thành. Đó là chiếc thuyền Bát Nhã. Đảnh Thần: Núi Thần, chỉ cõi Tiên.

tnhtq2/48

Cậy kẻ dạy con cũng lẽ thường,
Cho roi cho vọt mới là thương.
Nhơn tình ví chẳng mưu thâu phục,
Thế giới mong chi phép độ lường.
Nhỏ dạy Thầy nuôi mùi Đạo hạnh,
Lớn khôn bây xứng mặt hiền lương.
Vinh hoa phẩm cũ ngôi xưa đó,
Khổ cực các con chớ bỏ trường.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển 2, bài 48

16.

Trau giồi cho xứng phận nga mi,
Tấn thối riêng lo kịp thế thì.
Thanh sử từng nêu gương nữ kiệt,
Hồng ân chi kém bạn nam nhi.
Lọc lừa chớ để đen pha trắng,
Lui tới đừng cho bạc lộn chì.
Hạnh đức điểm tô non nước Việt.
Muôn năm bia tạc tiếng còn ghi.

 

CHÚ THÍCH:
Nga mi:
Mày tằm, mày ngài, chỉ người con gái đẹp. Thanh sử: Sử xanh, ý nói sách lịch sử. Nữ kiệt: Người phụ nữ tài trí hơn người.

17.

Thiều quang nhặt thúc khuất màu xuân,
Trở bước quanh co rán liệu chừng.
Hứng giọt Ma Ha lau tục lụy,
Ngừa thuyền Bát Nhã thoát mê tân.
Trau tâm hiệp sức vun nền Thánh,
Dưỡng tánh chờ khi sạch bợn trần.
Phước gặp Tam Kỳ Trời cứu độ,
Gắng tu kịp buổi lướt Đài Vân.

 

CHÚ THÍCH:
Giọt Ma Ha:
Nước Thánh dùng trong phép Tắm Thánh và Giải Oan. Ma Ha thủy năng hủy oan nghiệt tội chướng chi đọa: Nước Ma Ha có khả năng tiêu hủy sự đày đọa do oan nghiệt tội chướng. Tục lụy: Nỗi phiền não nơi cõi trần. Ngừa: Chờ. Mê tân: Bến mê, chỉ cõi trần. Đài Vân: Cái đài cất cao tới mây để vẽ hình và ghi tên các đại công thần thời nhà Hán. Ý nói đài vinh quang của người đắc đạo.

tnhtq2/34

Rừng thiền nhặt thúc tiếng chuông trưa,
Phước gặp về Ta buổi đã vừa.
Nẻo hạnh làu soi gương nguyệt thấm,
Sân ngô rạng vẻ cảnh thu đưa.
Mai tàn tuyết xủ đời thay đổi,
Dữ tận hiền thăng khách lọc lừa.
Mùi Đạo gắng giồi lòng thiện niệm,
Duyên may tìm lại phẩm ngôi xưa.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển 2, bài 34

18.

Rẽ lối non sông thấy Động đào,
Bừng con mắt tỉnh giấc chiêm bao.
Đường gai gốc gắng lần qua khỏi,
Cảnh rạng ngần tua rán bước vào.
Mùi tục lần xa, vui đạo đức,
Cõi tâm rộng mở khổ giồi trau.
Nước dương rưới sạch trần ai cũ,
Bờ giác nương theo nguyệt rọi làu.

 

CHÚ THÍCH:
Động đào:
Cõi Tiên. Nước dương: Nước nhành dương, chỉ nước Cam Lồ. Bờ giác: Giác ngạn, bờ giác ngộ, chỉ cõi của người đắc đạo.

19.

Cần lo học Đạo chí đừng lơi,
Phú quí sương tan lố bóng Trời.
Lợi lộc xôn xao rồi một kiếp,
Nghĩa nhơn tích trữ để muôn đời.
Làm lành sau cũng lành vay trả,
Chác dữ âu hay dữ vốn lời.
Mấy kẻ xét mình tâm tự cải,
Thân danh bể khổ mặc buông trôi.

20.

Lần lừa ngày tháng cảnh đưa xuân,
Ướm chổi huỳnh lương tỉnh dậy lần.
Rạng nẻo chung soi đèn Bạch Ngọc,
Dò đường xúm núp bóng Hồng Quân.
Hồi chuông cảnh tỉnh vang rừng Thánh,
Tiếng trống giác mê nhặt đỉnh Thần.
Biết Đạo khá lo trau hạnh đức,
Dữ lành đợi buổi cũng cân phân.

21.

Ngày chầy dặm thẳng gắng đưa qua,
Chịu khổ trau tâm chí mới già.
Vẹt ngút mây xanh Trời tỏ rõ,
Quét lằn bụi đỏ thế phui pha.
Lòng trần gội sạch noi đường chánh,
Nét Đạo gìn thanh lánh nẻo tà.
Đèn huệ chực soi mau tiến bước,
Nơi miền Cực Lạc dễ đâu xa.

22.

Đường về muốn vẹn để công trình,
Bóng nguyệt tua dò nẻo rạng thinh.
Xuân hé đã hay cơn ác lố,
Đông tàn khá biết lúc Trời chinh.
Trau tài trau phận tua trau đức,
Biết thế biết nhân mới biết mình.
Dặm khổ qua rồi ngôi vị sẵn,
Hay chi thế tục chước cầu vinh.

23.

Nhiệm mầu Tạo hóa cuộc vần xây,
Thưởng phạt cũng do một buổi nầy.
Đức trước hưởng thừa tâm vẹn giữ,
Nhân sau để dấu chí đừng lay.
Đường mây thẳng gió hồng trương cánh,
Bước Đạo êm chơn nguyệt rọi mày.
Dìu dắt sanh linh lo tế độ,
Thiên niên danh tạc chốn Vân Đài.

24.

Liễu Huệ nhuần sương Liễu Huệ tươi,
Chiều Xuân nguyệt rạng vẻ hoa cười.
Màn Trời mây khỏa muôn sao lố,
Thuyền Đạo buồm treo một sắc phơi.
Cội trước gió đưa hơi nhắn khách,
Rừng tòng khách giục cảnh chờ người.
Lần theo bước rạng non Thần đến,
Chớ luyến phồn hoa lụy đến nơi.

25.

Vun nền đạo hạnh khá rèn lòng,
Gặp hội đành vui chữ sắc không.
Cúc rải đường qua vang tiếng nhạn,
Rừng tà bóng khuất vẳng hơi thung.
Xuôi chiều đổ bến êm dòng bích,
Phải lúc nương mây chớp cánh hồng.
Nhuần gội ơn Trời âm chất vẹn,
Mau chơn ngày tháng đã qua đông.

 

CHÚ THÍCH:
Sắc Không:
chỉ sự tu hành, do câu kinh trong Bát Nhã Tâm Kinh: Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc. Vắng hơi thung: Ý nói vắng bóng người tu hành. Cánh hồng: Cánh của con chim hồng.

26.

Rừng thung bóng nhựt đã hầu chinh,
Tỏ rạng gần nơi bước vẹn gìn.
Ách đất rắp nhồi trường náo nhiệt,
Cửa Trời kịp mở vớt quần sinh.
Nâng đời khá gắng trau nhơn đức,
Học Đạo tua năng luyện tánh tình.
Khổ hạnh chí mong qui nẻo chánh,
Ngoài tai chớ chác miếng hư vinh.

 

CHÚ THÍCH:
Rừng thung:
Chỉ cảnh chùa, nơi tu hành. Ách đất: Tai họa do đất gây ra, như động đất, núi lửa. Trường náo nhiệt: Nơi tranh giành danh lợi kịch liệt. Hư vinh: Cái vinh dự hảo huyền, không thật.

27.

Non chiều ác xế bóng Trời thâu,
Nẻo chánh may nương buổi đáo đầu.
Theo bước kịp thì tìm ánh sáng,
Ngừa thuyền ấy lúc lánh dòng sâu.
Soi gương hạnh đức trau lòng tục,
Hứng giọt từ bi rửa bợn sầu.
Nhặt thúc quang âm xuân đã lụn,
Liệu qua cho khỏi cuộc tang dâu.

 

CHÚ THÍCH:
Đáo đầu:
Đến đầu cùng, ý nói việc đến lúc kết thúc. Ngừa thuyền: Chờ thuyền. Giọt từ bi: Giọt nước Cam lồ của Phật. Tang dâu: Ý nói Tang điền thương hải: Ruộng dâu biến thành biển xanh, chỉ cuộc đổi thay của Trời Đất không lường trước được.

28.

Thìn trau đức tánh để nêu gương,
May gặp Đạo mầu gắng liệu phương.
Cội Bắc chim về chiều ngã bóng,
Non Nam ác lố ánh tan sương.
Thuyền từ sông lệ buồm trương cánh,
Cảnh trí rừng thung khách lướt đường.
Độ chúng cứu đời công nghiệp để,
Thiên ân hưởng trọn khá lo lường.

 

CHÚ THÍCH:
Non Nam ác lố ánh tan sương:
Đạo mở ra ở nước VN như ánh mặt trời mọc, làm tan màn sương u ám. Thuyền từ: Thuyền từ bi của Phật, đó là chiếc thuyền Bát Nhã. Cảnh trí: Cảnh của người trí huệ, cảnh Tiên.

29.

Cành mai thơ thới đượm hơi xuân,
Dìu dắt đem nhau lại đảnh Thần.
Tích đức để lòng trau khổ hạnh,
Diệt phàm gắng chí thoát mê tân.
Lừng Trời vẹt ngút mây xây mịt,
Đài ngọc khoe gương sắc rạng ngần.
Công nghiệp dồi dào âm chất đủ,
Long Hoa đợi hội hưởng Thiên ân.

 

CHÚ THÍCH:
Diệt phàm:
Tiêu diệt các nét tầm thường thấp kém của mình, tức là phải tu thân. Đài ngọc: Đài vinh quang. Âm chất: Công đức thầm kín, không phô trương. Long Hoa đợi hội: Đợi đến Hội Long Hoa.

30.

Đã nhiều danh lợi bước đua tranh,
Nhọc xác lao tâm hỏi có thành?
Ác lố rọi tan lằn gió bụi,
Nguyệt lờ soi gượng bước công khanh.
Đường tu ví sớm noi gương rạng,
Cội phúc mai sau hưởng quả lành.
Mộng ảo trò đời đâu mấy chốc,
Ngựa qua cửa sổ cuộc tan tành.

 

CHÚ THÍCH:
Bước công khanh:
Ý nói bước đường làm quan. Ngựa qua cửa sổ: Chữ Hán là Bạch câu quá khích, ý nói thời gian qua rất mau.

tnhtq2/12

Dặm dài bước lạ nẻo chưa quen,
Tánh chất dầu trau gẫm chẳng hèn.
Bóng trải diềm dà xuân đợi chúa,
Tiết nồng thơ thới hạ khoe sen.
Nhành dương nước rưới tan lòng tục,
Nguồn Thánh đạo dìu lại cõi Tiên.
Phước gặp kỳ ba Trời dẫn độ,
Mau chơn rán lướt tới rừng thiền.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Quyển 2, bài 12

31.

Day mặt Hồng Quân ngó địa hoàn,
Rưới chan vạn vật khối sinh quang.
Cõi Tiên mở rộng cung Đâu Suất,
Nước Phật sửa an cảnh Niết Bàn.
Cứu thế quyết ngưng quyền Địa phủ,
Độ đời cố tạo phước nhơn gian.
Thần thông trói chặt Ma vương quái,
Dìu bước vạn linh đến cảnh nhàn.

 

CHÚ THÍCH:
Địa hoàn:
Trái đất. Khối sinh quang: Cái khối phát ra ánh sáng để nuôi dưỡng sự sống cho chúng sanh. Cứu thế quyết ngưng quyền Địa phủ: Đức Chí Tôn mở Đạo Cao Đài cũng là mở Đại Ân Xá Kỳ Ba nên ra lịnh đóng cửa Địa ngục và mở rộng cửa Trời.

32.

Viết thử Thiên thơ với nét trần,
Hầu sau bền giữ nghiệp Hồng Quân.
Chuyển luân thế sự đưa kinh Thánh,
Trừ diệt tà gian múa bút Thần.
Kìa lóng non Kỳ reo tiếng phụng,
Nầy xem nước Lỗ biến hình lân.
Công danh nước Việt tay đành nắm,
Mưa mốc dân sanh gắng gội nhuần.

 

CHÚ THÍCH:
Kìa lóng non Kỳ reo tiếng phụng:
Nghe tiếng phụng gáy ở núi Kỳ Sơn, báo hiệu có vua Thánh ra đời là Văn Vương, mở ra nhà Châu. Nước Lỗ biến hình lân: Nước Lỗ có kỳ lân xuất hiện báo hiệu cho biết có Thánh nhơn (Đức Khổng Tử) ra đời phục hưng Nho giáo.

33.

Đường mây sẵn lối gặp may duyên,
Nâng gánh xa thơ sửa mối giềng.
Anh tuấn đất gìn nung khí phách,
Uy linh Trời giữ tạc đài liên.
Hồn về nước cũ đời nương thế,
Hạc lại tùng xưa đức lập quyền.
Đảnh Việt chờ qua cơn bão tố,
Muôn năm tỏ rạng mối chơn truyền.

 

CHÚ THÍCH:
Đường mây:
Đường công danh. Xa thơ: Xe và sách, ý nói nền văn hóa của một dân tộc. Mối giềng: Ý nói Tam cang và Ngũ thường, dịch là 3 giềng và 5 mối. Uy linh: Oai quyền thiêng liêng. Đài liên: Đài sen, tòa sen.

34.

Có hiệp đem đường nẻo mới thông,
Phân chia cội Đạo uổng vun trồng.
Quanh đường chớ cậy chơn Kỳ Ký,
Ngược gió tài chi sức Hộc Hồng.
Bể khổ mênh mang lo giải khổ,
Nền công nghiêng ngửa gắng nên công.
Phong ba dầu được dìu qua khỏi,
Nhớ bởi chung nhau kết dải đồng.

 

CHÚ THÍCH:
Kỳ Ký:
Ngựa Kỳ và ngựa Ký, là loại thiên lý mã, chạy mau và xa. Hộc Hồng: Chim Hộc và chim Hồng, loại chim cánh rất khỏe, bay cao và xa. Dải đồng: Cái dây thắt lưng bằng lụa dùng tặng cho nhau để biểu thị tình cảm khắng khít. Kết dải đồng: Kết chặt tình thương mến.

35.

Bạch Vân nhàn lạc khỏe thân già,
Thương kẻ nặng mang nợ quốc gia.
Đời rạng lưu tồn gương nhựt nguyệt,
Đạo thành vạn đại chiếu sơn hà.
Thiện nam gắng giữ nền nhân nghĩa,
Chơn nữ hằng ghi thuyết cộng hòa.
Trách nhiệm thiệt hành cho vẹn phận,
Hồng ân chung hưởng buổi âu ca.

 

CHÚ THÍCH:
Bạch Vân:
Bạch Vân Động. Bài thi nầy của Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ, Ngài là Sư Phó của Bạch Vân Động nơi cõi thiêng liêng. Thiện nam: Người nam lành. Chơn nữ: Người nữ chơn thật. Âu ca: Ca hát vui vẻ, ý nói thời thái bình thịnh trị.

36.

Trần thế hầu gây náo nhiệt trường,
Lánh nguy nguồn Đạo vẹn tìm phương.
Vùi sầu nay gắng chung vai gánh,
Hưởng phước sau may hiệp bước đường.
Cay đắng lần soi gương trí huệ,
Chia phui chờ trải lối tang thương.
Dặn mình tua chặt trong gan tấc,
Sau trước lòng son giữ đặng thường.

 

CHÚ THÍCH:
Trí huệ:
Trí não được khai sáng đặc biệt, biết được những điều huyền vi của Trời Đất. Tang thương: Do thành ngữ: Tang điền thương hải, ý nói việc đời luôn luôn thay đổi không lường được. Lòng son: Tấm lòng tốt đẹp không thay đổi.

37.

Biến chuyển Trời Nam cuộc đảo huyền,
Trả vay cho sạch vết oan khiên.
Trường Đời đem thử gan Anh Tuấn,
Cửa Đạo mới ra mặt Thánh Hiền.
Đau khổ rán gìn nhơn nghĩa vẹn,
Tang thương chờ hưởng huệ ân riêng.
Non sông Việt chủng ngày êm lặng,
Chung sức cùng nhau đức lập quyền.

38.

Những là khổ nhọc chịu cơ đời,
Hạnh phúc thử nhìn đặng mấy mươi.
Vinh nhục đòi phen vui lẫn khóc,
Ghét thương lắm lúc giận pha cười.
Đường tâm tự tỉnh chơn ra giả,
Nẻo đức gồm theo thiệt hóa chơi.
Thoát tục ví ai tìm nẻo Thánh,
Bến mê lướt sóng đến ven Trời.

39.

Bóng dương tỏ rạng lố chơn mây,
Đầm ấm hơi xuân nở mặt mày.
Tranh thế bớt pha lằn bợn trược,
Cuộc đời thêm rạng vẻ thanh bai.
Trường Tiên mở rộng chơn du khách,
Nẻo hoạn buông khơi trí đặc tài.
Lọc nước rửa đời Trời để dấu,
Riêng che Nam đảnh một cân đai.

40.

Ác lồng nhựt rạng tản sương mơi,
Gặp lối đường quanh khó tách dời.
Thuyền Đạo đẩy đưa lằn sóng biển,
Bước đời dùn thẳng bước thang Trời.
Đai cân mảng luyến chưa nên phận,
Danh lợi ham giành khó vẹn ngôi.
Nhắn nhủ phồn hoa mau thức tỉnh,
Lần lừa bỏ quá kiếp xuân thời.

41.

Lồng sương gió thoảng bặt hơi xuân,
Để bước tìm nơi Đạo gội nhuần.
Sóng khỏa thuyền về còn lắc lở,
Rừng chờ khách trở buổi cân phân.
Trau gương hạnh đức pha lòng tục,
Giồi trí thanh cao giữ tánh Thần.
Thưa nhặt thoi đưa trời xế bóng,
Xét mình một khắc một mau chân.

42.

Dìu dắt tìm ra lối lạ lùng,
Bóng Trời xúm xít đỡ nương chung.
Dài đường chớ ngán con Kỳ Ký,
Ngược gió đừng nao cánh Hộc Hồng.
Nhướng mắt tua dò theo kẻ trí,
Thìn lòng khá gắng đắp nền công.
Sen tàn cúc nở qua ngày tháng,
Nhặt bước đường hoa đến cội tùng.

43.

Cái kiếp hồng nhan kiếp đọa đày,
Phải làm cho gái hóa ra trai.
Linh oai vẻ ngọc là gươm sắc,
Mềm mỏng hình hoa ấy phép tài.
Phòng tía cất thành hình thổ võ,
Cung loan lập giống dạng Cao Đài.
Muốn đi cho tận trường sanh địa,
Phải đổi giày sen lấy thảo hài.

 

CHÚ THÍCH:
Vẻ ngọc:
Sắc đẹp của phụ nữ. Gươm sắc: Cây gươm bén. Hình hoa: Hình dáng của phụ nữ. Phòng tía: Cái phòng sơn màu tím, chỉ chỗ ở của đàn bà con gái. Thổ võ: Đất đai của một nước. Cung loan: Nơi ở của người vợ. Trường sanh địa: Cõi TLHS, vì con người ở nơi đó thì trường sanh bất tử. Giày sen: Giày của người phụ nữ. Thảo hài: Giày bằng cỏ của người tu hành.

44.

Bắt ấn trừ yêu đã tới kỳ,
Ngọc Hư định sửa mối Thiên thi.
Cửu Trùng không kế an thiên hạ,
Phải để Hiệp Thiên đứng trị vì.
Thành pháp dìu đời qua nẻo khổ,
Nên công giúp thế lánh cơn nguy.
Quyền hành từ đấy về tay nắm,
Phải sửa cho nên đáng thế thì.

 

CHÚ THÍCH:
Bài thi 44: Cặp trạng cho biết Ngọc Hư Cung trở pháp, giao cho Hiệp Thiên Đài nắm quyền nền Đạo. (Xem bài Thánh ngôn ngày 12-02-1934 (âl. 29-12-Quí Dậu) - Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.2 bài 77 & Chú Thích bài 164)

45.

Đào Nguyên lại trổ trái hai lần,
Ai ngỡ Việt Thường đã thấy lân.
Cung Đẩu vít xa gươm xích quỉ,
Thiềm cung mở rộng cửa hà ngân.
Xuân Thu định vững ngôi lương tể,
Phất Chủ quét tan lũ nịnh thần.
Thổi khí vĩnh sanh lau xã tắc,
Mở đường quốc thể định phong vân.

 

CHÚ THÍCH:
Đào Nguyên:
Nguồn đào, chỉ cảnh Tiên. Việt Thường: Tên xưa của nước VN. Xích quỉ: Quỉ đỏ. Thiềm cung: Chỉ mặt trăng. Hà ngân: Ngân hà, sông Ngân, chỉ biển khổ. Xuân Thu: Cổ pháp của Nho giáo, chỉ đạo Nho. Phất chủ: Cổ pháp, cũng là bửu bối của đạoTiên.

46.

Mở rộng đường mây rước khách trần,
Bao nhiêu tình gợi nhắn nguyên nhân.
Biển mê cầu ngọc liên phàm tục,
Cõi thọ sông Ngân tiếp đảnh Tần.
Chuyển nổi Càn Khôn xây Võ Trụ,
Nhẹ nâng Nhựt Nguyệt chiếu Đài Vân.
Cầm gươm huệ chặt tiêu oan trái,
Dìu độ quần sanh diệt quả nhân.

 

CHÚ THÍCH: Cầu ngọc: Cây cầu thấy trắng như ngọc, bắc qua biển khổ. Gươm huệ: Cây gươm trí huệ. Người tu dùng trí huệ của mình như cây kiếm để quyết thắng giặc vô minh và phiền não.

 
về trang chủ  

xem trang sau