SỰ THÔNG-CÔNG GIỮA CON NGƯỜI VỚI THẾ-GIỚI SIÊU-LINH
& HIỆN-TƯỢNG
CƠ-BÚT
DÃ
TRUNG TỬ sưu tập
TIỂU-DẪN
Cao-Đài giáo được khai-nguyên là do Thượng-Đế dùng cơ-bút làm
trung-gian thâu-nhận đệ-tử và tiếp-xúc với họ để truyền-bá giáo-lý, giáo-luật
và đạo-pháp xuống thế-gian. Đến nay nền Đạo đã phát-triển hơn hai phần ba
thế-kỷ, có hơn năm triệu tín-đồ trên toàn thế-giới. Qua cơ bút Thượng-Đế đã
ban cho nhân-loại một Thiên-Đạo Công-bình Giải-thoát, một Thế-Đạo Nhơn-nghĩa
Đại-đồng :
- Về Thiên-Đạo thì Thượng-Đế đã phổ-độ rộng-rãi từ Thiên-tử đến Thứ-dân không
phân-biệt sang hèn màu da sắc tóc, ban cho một đường hướng tu-hành để chế-ngự
thất tình lục-dục, lập công bồi đức, hầu đạt một cuộc đời thân tâm an-lạc, như
sống trong một thiên-đường ngay tại thế-gian, chứ không cần đợi sang bên kia
cỏi tử, mà còn thoát đọa luân-hồi trở về hợp nhất với Thượng-Đế.
- Về Thế-Đạo thì Thượng-Đế đã khuyến dạy nhơn-sanh dùng Nhân, Nghĩa để chung
sống với nhau một cách hoà-bình, không còn kỳ-thị Tôn-giáo, phân-biệt
chủng-tộc, hận-thù giai-cấp, chia rẻ giàu nghèo. Thượng-Đế không chủ-trương
sang bằng tài-sản mà chủ-trương sang bằng tham-vọng của con người, để họ tự
biết xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, hầu nâng-đở lẫn nhau tiến-hóa đồng đều
trên cả hai phương-diện vật-chất lẫn tinh-thần, làm cho xã-hội loài người đạt
đến Chân Thiện Mỹ, tạo ra một thế-giới huynh-đệ Đại-đồng.
Đây là một tôn-giáo do Thượng-Đế trực-tiếp sáng-lập có một nền triết-học
cậân-đại, một giáo-lý vừa huyền-linh vừa khoa-học, vì những tôn-chỉ mục đích
cao-thượng và tốt lành nêu trên, mà đang được các triết-gia và học-giả trên
thế-giới đang quan-tâm nghiên-cứu, có nhiều Viện Đại-học trên thế-giới đã đem
khoa Cao-Đài giáo vào chương-trình giảng-dạy, có nhiều sinh-viên cao-học đang
nghiên-cứu Cao-đài-giáo để bảo-vệ luận-án Tiến-sĩ của mình.
Nhưng cũng có một số người nhân-danh một thứ đạo-lý cực- đoan đã cho Cao-Đài
là một tôn-giáo xuất-phát từ cơ-bút là một hiện-tượng mê-tín dị-đoan cần phải
bài-trừ.
Vì cơ-bút là một phương-tiện đón nhận những thông-tin từ thế-giới
siêu linh, đã có sẵn từ nghìn xưa, không phải của Cao-Đài sáng chế ra, để độc-quyền
sử-dụng mê-hoặc chúng-sanh, như có người đã từng xuyên-tạc. Nên để tìm hiểu đâu
là “lẽ thật” chúng tôi cố-gắng sưu-tập một số dữ-kiện liên-quan đến hiện-tượng
cơ bút trên khắp thế-giới tuy không đầy đủ, nhưng cũng tạm để chúng ta cùng
nhau tìm hiểu một số dữ-kiện liên-quan đến hiện-tượng nầy. Mục-đích không phải
là chứng-minh cơ-bút là hoàn-toàn chân-thật mà khuyến-khích việc sử-dụng một
cách bừa-bãi, hoặc là cho cơ-bút là giả-dối, hoàn-toàn mê-tín dị-đoan, mà
bài-bác tất-cả những gì liên-quan đến nó, nhưng để giúp chúng ta nhận chân được
giới-hạn giữa chánh và tà, giữa mê và giác, để chứng-minh rằng Cao-Đài giáo xuất-phát
từ cơ-bút là một điều chân-thật, là một chánh-giáo. Chứ không phải như một số
luậân-điệu đã xuyên-tạc cho đây là một tôn-giáo mê-tín dị-đoan.
TÍN-NIỆM TIÊN-QUYẾT
Muốn nghiên-cứu về hiện-tượng cơ-bút một cách chính-xác chúng ta
cần phải nhận chân những tín-niệm sau đây :
- Thượng-Đế là một Đấng Tự-hửu và Hằng-hửu đã tạo dựng nên vũ-trụ và vạn-hửu
chúng-sanh, trong đó có con người.
- Con người được Thượng-Đế tạo-dựng có ba phần Tinh, Khí, Thần tức là
thân-xác, tình-cảm và tư-tưởng. Ngôn-ngữ của Cao-Đài giáo gọi là Phàm-thân,
Pháp-thân và Linh-thân. Khi chết Phàm-thân tan-rả, sẽ tan biến trở lại vật-chất.
Pháp-thân và Linh-thân khi thoát xác sẽ trở về cỏi hư-linh và tồn-tại ở đó, đời
sống con người hiện-hửu ở ba cỏi : Hạ-giới, Trung-giới và Thượng-giới. Những điều
con người đã học hỏi trong kiếp đương sanh, vẫn tồn-tại trải dài ở cỏi trần
đến bên kia cỏi tử, vì khi thân xác chết đi, thì tình-cảm và tư-tưởng vẫn lưu
giữ trong Pháp-thân và Linh-thân, làm thành sự hiểu biết của kiếp lai-sinh,
còn đối với người đã đắc Đạo thoát ra khỏi vòng luân-hồi sinh-tử, thì tình-cảm
và tư-tưởng nầy vẫn tồn-tại trong sinh-hoạt của người đó ở cỏi thượng-giới,
Phật-giáo gọi là Niết-bàn, Thiên-Chúa-giáo gọi là Thiên-đường, Cao-Đài-giáo
gọi là cỏi Thiêng-liêng hằng sống.
- Sự tương-quan giữa Thượng-Đế và Chúng-sanh, thì Thượng-Đế là ngọn đuốc, còn
Chúng-sanh là những tia lửa lớn nhỏ khác nhau, chiếc-xuất từ Ngài, cả hai đồng-phẩm
chứ không đồng lượng.
- Theo khoa-học, thì con người là một khối năng-lượng sinh-học, dưới nhiều dạng
khác nhau, đó là năng-lượng trong vật-chất và năng-lượng trong tinh-thần. Theo
định-luật bảo-toàn năng-lượng của Lavoisier thì trong quá-trình chuyển-hoá, năng-lượng
không tự sinh ra, mà cũng không tự mất đi, chỉ chuyển hoá từ thể nay sang thể
khác, hoặc nhập vào trạng-thái nầy hay trạng-thái khác. Khi thân-thể chết đi,
năng-lượng trong nguyên-tử vật-chất sẽ tái-tạo lại dưới một hình-thể mới. Năng-lượng
tinh-thần sẽ thoát xác và phản-phấùt nơi cỏi siêu-linh. Nên hiệân-tượng cơ bút
là một phương-tiện tiếp-xúc với khối năng-lượng nầy.
Chúng ta cũng có thể kết-luận Thượng-Đế là một khối năng-lượng
khổng-lồ, còn mỗi chúng-sanh là một phần năng-lượng nhỏ thua, được chiết-xuất
ra từ Thượng-Đế. Nên con người vẫn trường-tồn, bất tiêu, bất diệt. Do đó mà
Cao-đài-giáo có những phép tu-luyện để đón nhận nguồn năng-lượng bao-la của
Thượng-Đế bổ-sung cho mình, vì Ngài là Đấng Đại Từ-phụ với tình thương-yêu
bao-la. Thượng-Đế luôn luôn ban rải năng-lượng xuống trần-gian để hổ-trợ cho
con cái cuả Ngài là chúng ta, nên Ngài đã khẳng-định rằng: “Các con là
Thầy, Thầy là các con” (TNHT/Q1/ trang 30/ Giòng 31).
Trên đây là những tín-niệm tiên-quyết để cùng nhau tìm hiểu các
vấn-đề liên quan đến đề-tài nầy. Còn nếu ai đã có định-kiến cho rằng chẳng có
Thượng-Đế nào cả, mà Thượng-Đế do ảo-tưởng của con ngừơi tạo ra. Còn vũ-trụ
hình-thành là do sự kết-hợp ngẫu-nhiên của vật-chất, linh-hồn từ vật-chất mà
có. Con người do loài khỉ đẻ ra, rồi vì nhu-cầu của thân-xác mà truyền-chủng,
lại qua quá-trình phân-hoá hai chân trước thành hai tay để hái lượm, thay cho
miệng khỏi phải đớp, ngoạm, tha mồi, nhờ đó mà nảo phát-triển và nhờ lao-động
mà có văn-minh tiến-bộ. Những người đã tin như vậy thì không thể cùng nhau tìm
hiểu vấn-đề nầy, vì “đạo bất đồng, bất tương vi mưu”.
SỰ TIẾP-XÚC VỚI THẾ-GIỚI VÔ-HÌNH
Hiện-tượng tiếp-xúc với những chơn-hồn bên kia thế-giới vô-hình bằng các phương-tiện
đồng-cốt, cơ-bút là một việc làm rất xa xưa, khắp nơi trên thế-giới đều có, ở
cả trong các nền văn-hoá khác nhau, và trình-độ kiến-thức cũng khác nhau, từ
các bậc trí-thức, các giáo-sư tiến-sĩ đến kẻ bình-dân, đều tin dùng, bởi vì kết-quả
của chúng dường như đủ để làm cho con người tin theo. Có những trường-hợp
tiêu-biểu đã được chứng-nghiệm rõ-ràng sau đây :
- Vào khoản năm Kỷ-mùi (1920) Ông Ngô-Văn-Chiêu dùng cơ-bút theo cách Cầu
Tiên ở Đông-phương để cầu thuốc chữa bệnh cho thân-mẫu và sau đó tiếp-xúc với
Đức Cao-Dài Tiên-Ông và thọ phép tu-luyện.
- Vào khoản năm Giáp-tý (1925) các Ông Cao-Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc và
Cao-Hoài-Sang dùng phương-pháp xây bàn theo Thông-linh-học của Tây-phương để
tiếp-xúc với các chơn-linh cỏi vô-hình xướng hoạ thi-thơ, và do đó Thượng Đế
đã thâu nhận ba Ông làm đệ-tử truyền bá Đạo Cao Đài xuống thế gian bằng phương-tiện
nầy.
- Vào năm Ất-sửu (1926) Thượng-Đế giáng cơ khuyên hai nhóm Cao-Đài của Các Ông
Cao-Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc và Cao-Hoài-Sang phối-hợp với nhóm Cao-Đài của Ông
Ngô-Văn-Chiêu để phổ-truyền quảng-bá Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ.
- Rồi từ đó trở đi Thượng-Đế cũng dùng Đồng-tử thông qua trung-gian Cơ-bút
thâu nhận đệ-tử và truyền-đạo, gọi là cơ-bút phổ-độ để khai-sáng phát-triển
Cao-Đài-giáo. Trong đó có ban-bố Pháp-Chánh-Truyền, duyệt xét Tân-luật, tấn-phong
giáo-phẩm, tổ-chức cơ-cấu Hành-pháp Đạo (Cửu-Trùng-Đài) Cơ-quan Tư-pháp Đạo (Hiệp-Thiên-Đài)
để thông công với Cơ-quan Lập-Pháp Vô-vi (Bát-Quái-Đài). Cùng thành-lập
tổ-chức, điều-hành các cơ-cấu hửu-vi của nền Đạo từ trung-ương đến địa phương
trên toàn thế-giới.
Trong những ngày nền Đạo còn phôi-thai chưa có nơi đặt cơ-sở thờ-tự
thì Thượng-Đế đã giáng-cơ hướng-dẫn các vị tiền-bối của Đạo đến liên-lạc với
Hòa Thượng Như-Nhãn mượn chùa Từ-lâm-tự, Gò-kén, Tây-ninh làm nơi thờ-phụng,
và thiết-lễ khai Đạo tại đây vào ngày 15 tháng 10 Bính-dần (19-11-1926), đồng
thời Thượng-Đế cũng thâu nhận Hòa-thượng Như-Nhãn làm đệ-tử và tấn-phong Ông
làm Thái Chưỡng-Pháp. Sau đó ba tháng thì Hòa Thượng Như Nhãn đòi lại chùa
một cách khẩn-cấp.
Trong lúc còn đương phân-vân chưa biết phải dời đi đâu, thì Đức Lý Giáo-Tông
đã giáng cơ chỉ bảo Hội-Thánh tìm đến mua một khu rừng hoang của một Pháp-kiều
làm nghiệp-chủ tại làng Long-thành Tây-ninh, để di-chuyển toàn-bộ cơ-sở đầu
tiên của nền Đạo từ chùa Từ-lâm-tự về nơi đây. Khu rừng đó ngày nay đã trở
thành châu-thành Thánh-địa của Tòa Thành Tây-ninh. Thậm chí Đức Lý Giáo-Tông
còn dạy đến giá-cả mua đất :
“ Người Lang-sa đòi hai mươi ngàn, Lão dặn trả giá mười bảy, mười tám ngàn
thì mua đặng”.
Đức Lý-Giáo-Tông còn dạy thêm rằng :
“Đất nay còn rẽ, đất chung quanh Thánh-địa ngày sau hoá vàng. Chư hiền-hửu lo
lập, ngày sau rất quý báu”.
Đến ngày nay thì quả ứng-nghiệm như vậy, ngay bây giờ nơi đây đã trở thành
khu đô-thị trù-phú, nhà cửa lầu đài san-sát nhau, giá đất tại ngoại ô Thánh-địa
một mét vuông đã hơn bạc triệu .
- Ngay ngôi Đền Thánh khởi công vào ngày 1 tháng 11 Bính-tý (1936) cũng đã
được Đức Chí-Tôn và Đức Lý Giáo-Tông giáng cơ chỉ dạy họa-đồ xây-dựng và chọn
nơi đặt nền móng, mỗi chi-tiết đều được sự hướng-dẫn bằng cơ-bút cho đến ngày
hoàn-thành, không có Kiến-trúc-sư, không có chuyên-viên xây-dựng lành nghề, sự
xây cất và đốc-công chỉ toàn là Thầy và Thợ “tay ngang” của bổn Đạo đảm-trách.
Về trình-độ kỷ-thuật kiến-trúc lúc bấy giờ tuy còn hạn-chế, chưa có máy-móc
tân-tiến, chỉ thực-hiện bằng tay chân, nhưng đã xây-dựng một Đền Thánh
nguy-nga tráng-lệ bằng bê-tông cốt sắt và ngay cả hệ-thống ánh sáng bằng đường
dây điện chôn ngầm, cũng đã hiện-đại hoàn-hảo, đến mức mà trình-độ các Kiến-trúc-sư
đầu ngành xây-dựng ngày nay cũng không thể chê chỗ nào được.
Như vậy cơ-bút quả là một phương-tiện đón nhận những thông-tin chỉ-thị của
Thần Tiên một cách chính-xác.
- Trường-hợp Nữ Đồng-tử Sarah Barthel ở Pháp :
Trong khi Đức Hộ-Pháp Phạm-Công-Tắc thoát xác quy Thiên vào lúc 13 giờ 30 phút
(giờ Cam-pu-chia) ngày 17-05-1959 tại Thánh-thất Tuol-Svay-Prey, Nam-vang (Cam-pu-chia),
sự kiện nầy cũng không có sự thông-báo bằng phương-tiện truyền-thông trên thế-giới.
Thế mà cũng vào ngày giờ nầy tại Paris (Pháp) Nữ Đồng-tử Sarah Barthel ở tại
số nhà 20 đường Albert-Paris 10è đã thông-công nhìn thấy những Thiên-thần cầm
lọng vàng và các Đấng Thiêng-liêng mặc áo ba màu vàng xanh đỏ và áo trắng, đến
đón tiếp Đức Ngài. Và nghe tiếng nói trong không trung về sự Liễu-Đạo của Đức
Hộ-pháp. Bà còn nói thêm rằng : Cũng vào ngày giờ nầy tất cả những người trong
Đại Cơ-quan Đồng-tử trên thế giới đều được nhận thấy hiện-tượng và nghe những
tiếng nói nầy. (Sự kiện nầy đã được tường-thuật và đăng-tải rõ-ràng trên Báo
Le Lien số 4 Juin 1959 trang 30).
- Trường-hợp của Giáo-sư Tiến-sĩ Nguyễn-Hoàng-Phương (Giảng-sư Đại-học
Tổng-hợp Hà-nội) Ông đã chấp bút viết nên bộ sách dày trên một nghìn trang
nhan-đề: “Octonion Cơ-sở Phổ-quát của Khoa-học Đông Tây thống-nhất” đây là
Công-trình Khoa-học lớn, kết-hợp Dịch-học phương Đông và Toán-học phương Tây.
Công-trình nầy được các Nhà Báo, Nhà Văn, các bậc trí-thức học-giả, các Giáo-sư
Tiến-sĩ trong nước và trên thế-giới đánh giá cao. . . Ông cũng không ngần-ngại
gởi tặng bộ sách nầy cho Bộ Chính-trị Đảng Cọng-sản Việt-nam. Thủ-tướng và Phó
Thủ-tướng Chính-phủ. Ủy-ban Unesco Việt-nam và Quốc-tế. Tài-liệu nầy cũng được
báo-cáo trong Hội-thảo Quốc-tế Việt-nam-học tại Hà-nội. Ông cũng còn gởi tặng
cho các Bộ Ngành, cùng các Cơ-sở Văn-hoá, Giáo-dục, Khoa-học, Xã-hội. Các Cơ-sở
Tôn-giáo, nơi nào cũng nhiệt-liệt hoan-nghinh.
Như vậy thì cầu-cơ chấp-bút đâu phải là mê-tín.
Trên đây chỉ nêu lên một số trường-hợp trong Đạo và ngoài Đời để dẫn-chứng
cho việc sử-dụng đồng-tử và cơ bút trong nhiều lãnh-vực khác nhau. Nếu sưu-tập
hết các trường hợp linh-ứng về thông-công giữa con người với các chơn-hồn ở
cỏi Thiêng-liêng-hằng-sống trên khắp thế-giới, thì phải bằng nhiều pho sách
dày mới ghi hết. Nên chỉ ghi lại mấy trường-hợp đã có sự ứng-nghiệm rõ ràng
nêu trên, cũng tạm đủ cho chúng ta nhận thấyï tại sao hiện-tượng thông-công
với cỏi hư-linh bằng đồng-tử và cơ-bút lại đủ sức làm cho người ta tin-tưởng
như vậy.
Nhưng đây lại là một vấn-đề tế-nhị, mang nhiều màu sắc huyền-bí, không
phải một hiẹân-tượng cụ-thể, nếu không trải-nghiệâm, hoặc không chịu khó
quan-tâm tìm hiểu một cách đa-phương đa-diện để biết đâu là giới-hạn của sự
ứng-dụng hiẹân-tượng nầy, thì không dễ gì hiểu được và cũng khó phân-biệt đâu
là huyền linh, và khoa-học cùng mê-tín dị-đoan. Nên nhiều người chỉ dùng một
nhãn-quan thiển-cận nhìn một cách hời-hợt và phiến-diện, thì không thể nào
tránh khỏi những lập-luận hồ-đồ cho đây là hiện-tương hoàn-toàn mê-tín dị-đoan.
CHÂN-LÝ VÔ-ĐỐI VÀ TƯƠNG-ĐỐI
Theo quan-niệm thông-thường của quần-chúng trước các vấn-đề mới lạ, dù
đó là chân-lý vô-đối, thì thái-độ của nhân-loại thường chia ra ba hạng người
tiêu-biểu, một hạng tin theo, một hạng lưng-chừng, một hạng chống đối. Trường-hợp
những con người chống-đối đó thiển-cận mà lại có quyền-lực, thì chân-lý mới
mẻ dù có hay đến đâu cũng bị họ tiêu-diệt không nương tay, vì họ cũng
nhân-danh chân-lý, dù chân-lý đó chỉ có tính-chất tương-đối, đôi khi còn
thiển-cận và lỗi thời, nhưng họ cố bám víu vào để độc-quyền thao-túng, hầu có
lý-do tiêu-diệt cái chân-lý vô-đối mà họ cho là có nguy-cơ cho quyền-lực của
họ.
Như trường-hợp Galilée (1564-1642) đã dùng kính thiên-văn để
quan-sát bầu trời và đã phát-minh rằng quả đất tròn, và quay chung quanh mặt
trời, nhưng có những người ở đầu thế-kỷ XVII nhận-thức qua cái nhìn thiển-cận
của đôi mắt, chưa có óc suy-luận theo khoa-học, họ vẫn tin-tưởng vào cái nhìn
của họ, là mặt đất bằng-phẳng đứng yên, trong lúc mặt trời di-chuyển, sáng mọc
ở đằng đông, chiều lặn theo đằng tây. Cho nên đối với họ thì Galilée sai lầm,
dù là do cái nhìn thiển-cận của một thứ giác-quan mù-quáng, của thời bán khai
đã khiến họ tin như vậy là đúng, thạâm-chí họ không dám nhìn vào ông kính
thiên-văn lúc bấy giờ, để khỏi phải ảnh-hưởng đến điều họ đã tin, vì đối với
họ đó là chân-lý bất-biến.
Như vậy tuy Galilée ngày xưa được Thượng-Đế tác-động trên tinh-thần
của Ông, để dìu-dắt nhân-loại nhận-chân được hình-thể đích-thực của vũ-trụ. Đó
là một bước tiến trong đời sống trí-tuệ nhân-loại, thế nhưng vẫn có những phần-tử
cường-quyền lúc bấy-giờ đã từ-chối sự phát-minh mới-mẻ nầy, và họ còn
quan-niệm rằng chồng đối lại nhận-định của Galilée là một hành-vi đạo-đức, bảo-vệ
chân-lý mà giác-quan và con mắt họ đã nhận-định như vậy. Thậm-chí họ cho rằng
“Ống Kính Thiên-văn là một phát-minh ma-quỷ, Galilée chính là tay sai của ma
quỷ” nên cường-quyền lúc bấy-giờ đã tra-tấn ông rất dã-man, và định đem tội
tử-hình để áp-dụng cho ông. Vì không chịu nỗi cực hình, nên ông phải quỳ gối
trước sức mạnh của bạo-lực, để tỏ vẻ sự hối-hận, mặc dù đó chỉ là dấu-hiệu bên
ngoài của ông, chứ trong thâm-tâm ông vẫn tin-tưởng vào sự quan-sát các
thiên-thể của ông bằng kính thiên-văn. Mặc dù sức mạnh của cường-quyền lúc bấy
giờ đã trấn-áp được Galilée, nhưng cũng vẫn không ngăn-cản được chân-lý vô-đối
lưu-hành. . .
Cũng tương-tự như vậy, cơ-bút là phương-tiện của con người
phàm-trần tiếp-xúc với các chơn-hồn ở cảnh-giới siêu-linh, không rõ có từ
bao-giờ, có lẽ có từ khi văn-minh tinh-thần con người được phát-triển, nên
ngày nay Thượng-Đế cũng dùng nó làm phương-tiện tiếp-xúc với đệ-tử tại trần-gian
để mở Đạo. Cũng vì vậy mà Cao-Đài giáo đã phát-triển một cách nhanh-chóng và
được nhiều thành-phần từ người trí-thức cho đến giới bình-dân đều tín-ngưỡng
mạnh-mẽ, và thực-chất triết-thuyết Cao-Đài cũng đã điều-chỉnh những vấn-đề
xã-hội thiết-thực, gây ấn-tượng mạnh-mẽ trong khối đông-đảo tín-đồ, đã mang
lại cho họ những lợi lạc cả thân tâm, mà không ai có thể chối cải được. Như
vậy cơ-bút chỉ là cái máy điện-thoại di-đọâng để đón nhận thông-tin, tự nó
không mê-tín hay chánh-tín gì cả, mê hay chánh là tuỳ nơi người sử-dụng nó mà
thôi. Cũng như xe cộ là phương-tiện giao-thông, có từ nghìn xưa. Còn xe cộ đâm
chết người, hoặc người dùng xe cộ đi cướp của giết người, thì không ăn-nhập gi với xe cộ cả. Những người có tinh-thần khoa-học tiến-bộ, không
thể quy-nạp
một cách mù-quáng là xe cộ gây ra chết người, rồi vịn vào lý-do đó để cấm dùng
xe cộ, cũng như cơ-bút là phương-tiện cho những người quang-minh chánh-đại tiếp-nhận
những Chân-lý từ cỏi Thiêng-liêng, hướng-dẫn chúng sanh quay về nẻo thiện, góp
phần cho thế-giới thanh-bình, càn-khôn an-tịnh, mà cũng là phương-tiện của
những người vô lương-tâm, không đạo-đức liên-hệ với ma quỷ, để mê-hoặc
chúng-sanh mưu lợi-ích cho mình. Nên cần phải hướng-dẫn nhơn-sanh hiểu rõ để
phân-biệt đâu là chánh tà, chân giả.
.
CÁC PHƯƠNG-THỨC THÔNG-CÔNG VỚI CỎI HƯ-LINH
Trên thế-giới từ xưa đến nay có nhiều phương-thức thông công với cỏi hư-linh
khác nhau. Sau đây chỉ nêu lên những phương-thức thông- dụng hiện nay .
THÔNG-CÔNG BẰNG CƠ-BÚT
Phương-thức thông-công với cỏi hư-linh bằng cơ-bút là một hình-thức sơ-đẳng
đơn-giản dễ thực-hiện nhất.
Thông-công bắng cơ-bút có các hình-thức thực-hiện sau đây :
- Cầu cơ : Phương-thức nầy thông-dụng ở phương Đông, rất
lâu đời, các người tu Tiên theo Lão-giáo hay dùng để liên-lạc với Tiên-giới.
Họ dùng một miếng gổ thường đẻo theo hình trái tim nên mới có tên là “con cơ”.
Khi thông-công thì một hoặc hai đồng-tử ngồi đặt tay lên con cơ, tịnh tâm một
hồi lâu, khi chơn-linh vô hình giáng nhập thì con cơ di-động viết thành chữ,
hoặc di-động trên bản viết 24 chữ cái ABC… rồi ráp lại thành chữ, người hầu đàn
tiếp-xúc trò chuyện với chơn-linh vô-hình có thể hỏi bằng ngôn-ngữ còn chơn-linh
đáp bằng cách chỉ từng chữ ABC… rồi ráp thành vần. Hình-thức con cơ cũng có
thể đẻo thành hình con chim, hoặc một hình gì tuỳ ý.
- Cũng có loại Ngọc cơ tức là đan một cái lồng bằng tre, cột trên miệng giỏ
tre một cần gổ, đầu chạm hình con chim loan có gắn một cây cọ để viết, cách
nầy có thể viết thẳng thành chữ, khỏi phải chỉ từng chử ABC rồi ráp vần lại,
như vậy sẽ nhanh hơn. Khi cầu bằng ngọc cơ thì một hoặc hai đồng-tử cầm miệng
giỏ tre, tịnh-tâm một hồi lâu, khi chơn-linh nhập thì cơ di-động viết thành
chữ. Nên cách nầy gọi đồng-tử là người Phò-loan. Phương-thức dùng ngọc cơ nầy
theo nhiều trải-nghiệm cho biết các Đấng Thiêng-Liêng thích tiếp-xúc hơn là
các loại cơ khác, Ngài Ngô-Văn-Chiêu đã tiếp-xúc với các Tiên-ông, và Thượng-Đế
bằng phương-thức nầy.
- Chấp bút : Trường-hợp nầy người đồng-tử cầm bút ngồi
tịnh-tâm, khi chơn-linh giáng-nhập đồng-tử viết ra lời. Trường-hợp nầy có hai
cách giáng-thủ và giáng-tâm. Giáng thủ là xem như chơn-linh nhập vào tay và
cây bút để đồng-tử viết ra lời. Giáng-tâm là đồng-tử giao-cảm với tư-tưởng của
chơn-linh giáng-đàn vào trong tâm mình rồi viết ra.
- Xây bàn
: Phương-thức nầy do phái Thông-linh-học ở Tây phương du-nhập vào Việt-nam,
vào khoản thập niên 1920, các công-chức Tây học hay dùng tiếp-xúc với các chơn-linh
vô-hình. Có hai cách thực-hiện khác nhau :
* Quay bàn : Dùng một bàn độc mặt tròn, mặt bàn được quay trên
trụ một chân, trên mặt bàn có vẽ một mũi tên, bên ngoài bàn tròn có đặt một
bản đối diện với mũi tên, viết những mẫu tự ABC. . . (chữ quốc-ngữ) hay các
nét chấm phảy (chữ Hán). Khi xây bàn thì một hoặc nhiều Đồng-tử ngồi đặt hai
bàn tay úp lên mặt bàn, tịnh tâm, khi chơn-linh nhập thì bàn xoay mũi tên chỉ
vào mẫu-tự, hoặc các nét chấm phảy rồi kết thành chữ.
* Gỏ bàn : Khi cầu thì dùng một bàn gổ 4 chân, kê hai chân đối
nhau cao hơn vài phân để tạo đôï nghiêng chênh-lệch cho hai chân còn lại, một
hai hoặc ba đồng-tử ngồi đối diện, đặt tay lên bàn. Tịnh-tâm một lúc, khi chơn-linh
nhập, thì bàn gổ động-đậy nâng chân lên và gỏ xuống có thành nhịp một, hai, ba
… tuỳ theo quy-ước, tỷ như bàn gỏ nhịp một cái là chữ A, hai nhịp là chữ B…
rồi ráp lại thành vần. Lúc bấy giờ các Ngài Cao-Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc,
Cao-Hoài-Sang đã dùng phương-thức nầy tiếp xúc với các Chơn-linh vô-hình và
Thượng-Đế.
Tại sao cái bàn hoặc con cơ là một vật thể vô tri-giác mà cử-động
được ? Theo khoa-học thì tư-tưởng nó cũng có sức nâng nổi đồ vật hửu-hình, còn
gọi là thần-lực, nên thần-lực cũng là một dạng năng-lượng, mà tính-chất của năng-lượng
khi chuyển-hoá có thể nhập vào một vật thể nào đó, khiến nó trở thành sống động.
Nên khi cầu cơ hoặc xây bàn thì cái cơ hay cái bàn tuy là vật thể vô-tri
bất-động, nhưng đã tiếp nhận hai nguồn năng-lượng, một từ đồng-tử, một nguồn
năng-lượng trong không-trung là các chơn-hồn nhập vào, nên nó trở nên một vật
thể di-động. Cũng giống như sự di-động của quả lắc trong khoa Cảm-xạ-học, chịu
sự tác-động của hai trường năng-lượng một của con người phát ra từ nảo, một
trường năng-lượng phát ra từ đối-tượng con người muốn tìm kiếm, khiến con lắc
di-động hướng về phía đối-tượng. Do đó khi cầu cơ nếu đồng-tử tịnh-tâm
hoàn-toàn, thì cơ viết ra theo tư-tưởng của chơn-linh nhập-đàn. Nên khi cầu cơ
thì đông-tử và người hầu-đàn phải thật tịnh-tâm, thì đàn cơ sẽ không bị
nhiễu-loạn bởi tư-tưởng của những người hiện-diện, như vậy bài viết ra mới
hoàn-toàn là lời lẽ của chơn-linh giáng cơ. Có đôi khi muốn tránh sự tác-động
của đồng-tử để bài cơ trung-thực, họ bịt mắt của đồng-tử không cho nhìn thấy
những ô chữ họ chỉ, hoặc chữ đã viết ra.
CÁCH-THỨC
TỔ-CHỨC MỘT ĐÀN CƠ
Muốn tổ-chức một Đàn cơ cầu Tiên phải chọn nơi thanh-tịnh, tinh-khiết
và tôn-nghiêm, ban đêm càng tốt. Nhân-vật hầu đàn và đồng-tử phải tắm gội sạch
sẽ, người hầu đàn phải có lòng thành kỉnh, đồng-tử phải giữ tâm thanh-tịnh
tránh mọi tạp-niệm. Thành-phần gồm có :
-
Một Chứng-đàn người có đạo-đức uy-tín, đứng ra điều-khiển tổng-quát buổi cầu
Tiên.
-
Một Pháp-đàn hay Pháp-sư điều khiển đồng-tử.
-
Một hoặc hai đồng-tử, trường hợp xây bàn có thể ba bốn người.
-
Một thị độc hay độc-giả để đọc chữ.
-
Một người điển-ký hay từ-hàn để ghi chép.
-
Một số người hầu đàn không bắt buộc cũng không hạn chế.
THÔNG-CÔNG TRỰC-TIẾP BẰNG ĐỒNG-TỬ
Ngoài phương-thức cơ-bút ra còn có nhiều phương-thức thông-công khác
mà ngày nay các nhà khoa-học gọi là các “hiện-tượng ngoại-cảm”. Đó là Đồng-tử
trực-tiếp với chơn-linh vô-hình bằng nhiều cách, không qua trung-gian cơ bút :
- Thông-công bằng tâm : Người đồng-tử dùng tâm để giao-cảm
với chơn-linh cỏi vô-hình qua tư-tưởng, rồi nói hoặc viết lại. Còn gọi là
hình-thức giáng tâm.
- Thông-công bằng tai nghe : Người đồng-tử có thể dùng tai
để nghe tiếng nói của chơn-linh vô-hình, rồi nói hoặc viết lại.
- Thông-công bằng mắt : Người đồng-tử có thể thấy chơn-linh
vô-hình bằng mắt, và trao đổi với chơn-linh vô-hình bằng tư-tưởng hay lời nói.
Các trường-hợp thông-công nầy do năng-khiếu thiên-phú đặc-biệt của đồng-tử,
hoặc do tu-luyện mà đạt được. Các hình-thức nầy có hai trạng-thái : đồng-tử mê
hoàn-toàn, xem như chơn-linh đồng-tử xuất khỏi xác, nhường hoàn-toàn thể-xác
cho chơn-linh nhập-thể, còn một trường-hợp đồng-tử vẫn tỉnh-táo, chỉ giao-cảm
tiếp-nhận tư-tưởng của chơn-linh vô-hình rồi truyền-đạt lại mà thôi.
Các Đồng-tử theo loại nầy thường thường chỉ tiếp-xúc với một chơn-linh
nào đó, xem như đồng-tử riêng do chơn linh đó chọn lựa để nhập xác mà thôi,
chứ không tiếp-xúc nhiều như kiểu cầu-cơ. Lối thông-công nầy Đồng-tử cũng
không cần phải biết chữ. Có nhiều người muốn xuyên-tạc cho cơ-bút là sự giả-dối,
do tư-tưởng con người viết ra, nên họ cho rằng người không biết chữ thì không
thể làm đồng-tử được. Nhưng trong thực-tế nhiều đồng-tử không biết chữ, đã
ngồi xác đồng khi chơn-linh nhập xác, họ đã đọc hoặc viết nên chữ, thậm chí có
khi còn nói tiếng, hoặc nói theo giọng của chơn linh nhập xác, hay còn biết ăn
trầu, hoặc hút thuốc theo sở thích của chơn-linh nhập xác lúc sinh tiền, mặc
dù người đồng-tử trong lúc bình-thường không dùng được những thứ nầy.
Hiện nay trong nhân-gian trên khắp thế-giới đang sử-dụng, cơ-bút, đồng-tử,
theo nhiều phương-thức khác nhau, và nhiều mục-đích khác nhau, như cầu tài-lợi,
nhờ các vong linh chỉ hướng làm ăn hoặc mách các con số trúng thưởng trong các
kỳ xổ số, cầu người thân đã lìa trần chỉ nơi chôn cất của cải, hoặc những điều
riêng tư lúc chết chưa kịp cho con cháu biết, hoặc chỉ hài cốt bị thất-lạc, người
đau ốm cầu xin chửa bệnh, hoặc hỏi về tương-lai, vận-mệnh của người còn sống
v.v… Đó là các mục-đích sử-dụng đồng-bóng, cơ-bút chung chung của những người
phàm-trần hiện nay. Nhìn chung mức-độ linh-ứng cũng không giống nhau, có trường-hợp
đúng, cũng có nhiều trường-hợp sai. Chỉ có một số ít tín-đồ của nhiều tôn-giáo
dùng cơ-bút để học đạo hoặc tiếp-nhận những thông-tin từ thế-giới thần-linh mà
thôi.
Trên đây là sơ-lược các phương-thức của người phàm-trần tiếp-xúc với
các chơn-hồn trong cỏi hư-linh từ xưa đến nay trong nhân-gian. Còn mức-độ
chính-xác tới đâu, linh hoặc không linh, chánh-tín hay mê-tín là do trình độ
đạo-đức, năng-khiếu hoặc sự điêu-luyện của đồng-tử, cùng cơ-duyên và sự
tín-thành của người sử-dụng…
Chúng ta cũng nên biết rằng sinh-hoạt các chơn-hồn ở cỏi hư-linh cũng
đủ trình-độ thứ bậc giống như nơi phàm trần, cũng có chia ra Thần, Thánh, Tiên,
Phật; cũng có phân ra Yêu, Quái, Ma, Quỹ. Trình-độ nào thì liên-hệ tiếp-xúc
trình độ đó do quy-luật đồng thanh tương-ứng, đồng khí tương-cầu. Nên nếu người
có lương-tâm mến đạo-đức thì được tiếp-xúc với Thần Thánh, còn người gian-ác
ham danh-lợi thì tiếp-xúc với ma quỹ, đó cũng là lẽ đương nhiên.
NHỮNG QUY-LUẬT SỬ DỤNG CƠ-BÚT TRONG ĐẠO CAO-ĐÀI
Vấn-đề sử-dụng cơ-bút trong cửa Đạo Cao Đài, không phải là một việc làm
tuỳ-tiện như kiểu thực-hiện cơ bút ngoài nhân-gian, mà có những quy-luật khá
đặc-biệt, tương-đối khắc-khe như sau :
- Những nhân-vật có trách-nhiệâm làm Đồng-tử sử-dụng cơ-bút truyền-giáo là
những người được Đức Chí-Tôn trực-tiếp tuyển-chọn từ khi khai Đạo, các vị này
sau nầy đều là chức-sắc Đại Thiên-phong cao-cấp trong Hiệp-Thiên-Đài đó là
Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh và Thập Nhị Thời-Quân và Thập Nhị Bảo-quân.
- Về sau khi ngưng cơ bút phổ-độ, Đức Chí Tôn đã quy-định sự thông công thuộc
trách-nhiệm Hiệp-Thiên-Đài. Thường là để Thiêng-Liêng giải-quyết các vấn-đề
quan-trọng có tính chất quyết-định của Đạo, tỷ như trường-hợp liên-quan đến
thiết-lập và thi-hành luật pháp như sau:
“ . . .Như hai đàng không thuận, thì chúng nó phải dâng lên cho Hộ-Pháp đến
Hiệp-Thiên-Đài cầu Thầy giáng xuống mà sửa lại…” (Trích Pháp-chánh-truyền
chú-giải).
Như vậy thì các Đồng tử chính thức phải là các chức-sắc Đại Thiên phong
của Hiệp-Thiên-Đài tương đương với Thập-nhị Thời-quân trở lên.
- Nơi thực-hiện đàn cơ phải tổ-chức trước Bửu-điện thờ Chí-Tôn, ngày nay phải
được thực hiện tại Cung Đạo Đền Thánh Trung-ương tại Thánh-địa Tây Ninh.
- Khi sinh-tiền, Đức Hộ-Pháp cũng có cho phép một số chức -sắc cấp dưới tập
thông-công bằng cơ bút, nhưng chỉ để cho cá-nhân của minh học Đạo mà thôi,
không được phổ-biến cho người khác.
Còn về nguyên-tắc chung về thực-hiện và sử-dung cơ bút như thế nào, xin
trích-lục nguyên bài Thánh giáo Đức Chí-Tôn đã dạy về cơ-bút như sau :
“Ngọc-Hoàng Thương-Đế viết Cao-Đài Tiên Ông Đại Bồ-Tát Ma-Ha-Tát Giáo Đạo
Nam-Phương
Thủ cơ – Chấp bút
Thủ cơ hay là chấp bút phải để cho Thần, Tâm tịnh mới xuất chơn-thần ra khỏi
phách, đặng đến hầu Thầy nghe dạy.
Khi chấp thủ thì tay tuân theo Chơn-Thần nói lại mà viết ra mường-tượng như
con đặt-để, con hiểu đặng vậy.
Chơn-Thần là gì ?
Là nhị xác thân (Périsprit), là xác-thân thiêng-liêng. Khi còn ở nơi xác phàm
thì rất khó xuất riêng ra đặng, bị xác phàm kéo níu.
Cái Chơn-Thần ấy của các Thánh Tiên Phật là huyền-diệu vô cùng, bất tiêu, bất
diệt. Bậc chân-tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước
buổi chết mà vân du thiên ngoại. Cái Chơn-Thần ấy mới đặng phép đến trước mặt
Thầy.
Như chấp cơ mà mê, thì Chơn-Thần ra trọn vẹn khỏi xác, Thầy mới dạy nó viết
chữ chi đó, nó đồ theo, Thầy nói tên chữ, xác nó cầm cơ viết ra; người đọc
trật chữ, nó nghe đặng, không chịu, Thầy buộc viết lại và rầy kẻ đọc trật ấy.
Còn chấp bút, khi Thầy đến làm cho Thần con bất-định một lát, cho Thần xuất ra
nghe Thầy dạy, còn tay con tuân theo mà viết, ấy là một phần của con, một phần
của Thầy hiệp nhứt, mới thấu đáo Càn khôn, tinh thông van-vật đặng..
Trước khi thủ cơ hay chấp bút, thì phải thay y-phục cho sạch-sẽ, trang-hoàng,
tắm gội cho tinh-khiết, rồi mới đặng đến trước bửu-điện mà hành-sự; chớ nên
thiếu sót mà thất lễ. Nếu chấp cơ thì phải để ý thanh-bạch không đặng tưởng
đến việc phàm . Tay chấp cơ cũng phải xông hương khử trược, tịnh tâm một lát,
rồi phải để tinh-thần tinh-tấn mà xuất ngoại xác thân đến hầu dạy việc. Phải
có một chơn-linh tinh-tấn mới mầu nhiệm huyền-diệu , phải trường trai mới đặng
linh-hồn tinh-tấn; phải tập-tành chí Thánh,Tiên, Phật, mới phò cơ dạy đạo cho
cả chúng-sanh. Kẻ phò cơ chấp bút cũng như tướng soái của Thầy để truyền đạo
cho thiên-hạ. Các con đừng tưởng việc cơ bút là việc tầm thường. Còn việc
truyền thần lấy điển-quang, thì ai ai cũng có điển trong mình, nó tiếp điển
ngoài rồi rồi thần của nó viết ra, có khi trúng có khi trật.
Vậy khi nào chấp cơ thì phải đợi linh Thầy rồi sẽ thi-hành.
(Thánh-giáo ngày 03/ 01/1926. Trích TNHT/ Q1/ trang 6-7).
Theo bài Thánh-giáo trích-dẫn trên đây thì việc sử-dụng cơ-bút trong
cửa Đạo Cao-Đài đòi hỏi nhiều điều-kiện khá đặc-biệt sau đây:
- Đồng tử phải là người có tinh-thần đạo-hạnh trong sáng, phải tinh-tấn chí
Thánh, tâm-thần phải thanh-tịnh.
- Chơn-thần của đồng-tử phải xuất được ra ngoại xác thân, điều nầy có được
là do thiên-phú, hoặc do thiền-định tịnh-luyện đến độ tinh-tấn, rồi nhờ các đấng
Thiêng-liêng khai mở khiếu huyền-quang nơi nê-huờn cung (mỏ-ác) thì chơn-thần
(nhị xác-thân) mới xuất ra được để tiếp-xúc với các Đấng Thiêng-Liêng.(Theo
Thiêng-Liêng Hằng Sống).
- Nên khi mới khai đạo các đồng-tử đều do Đức Chí-Tôn chọn lựa. Đó là những tướng
soái của Thầy truyền đạo xuống thế-gian. Nên về sau các đồng-tử nầy đều là
chức-sắc Đại Thiên-phong của Hiệp-Thiên-Đài đó là Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh
và Thập Nhị Thời-Quân. Ngày nay các chức-sắc Đại Thiên-phong của Hiệp-Thiên-Đài
đã quy-thiên chưa được Đức Chí-Tôn tấn-phong thay thế, nên vị-thế các đồng-tử
chính-thức của nền Đạo còn đang để trống.
- Địa-điểm thiết-lập đàn-cơ luôn đặt trước bửu-điện thờ Đức Chí-Tôn, là nơi
hoàn-toàn thanh-tịnh, tinh-khiết. Ngày nay là tại Cung Đạo Toà Thánh Tây-ninh.
MỘT SỐ DIỄN-TIẾN LIÊN-QUAN ĐẾN CƠ BÚT TRONG ĐẠO CAO-ĐÀI.
Trong buổi đầu khai Đạo Đức Chí-Tôn đã dùng cơ bút để truyền đạo thâu nhận đệ
tử, gọi là cơ bút phổ-độ, nhưng đến khi Đạo đã hình-thành có đông-đảo tín-đồ,
có Hội-Thánh có đủ cơ-cấu Hành-chánh và Pháp chánh tức là đã đủ hai quyền
Hành-pháp và Tư-pháp, thì Đức Chí-Tôn đã ngưng cơ bút phổ-độ. Vào ngày 01
tháng 06 năm 1927 (Đinh-mão) Đức Chí Tôn giáng cơ dạy rằng :
“Còn cuối kỳ tháng sáu đây thì Thầy phải ngưng hết cơ bút
truyền Đạo, các con sẽ lấy hết chí-thành đã ung-đúc bấy lâu mà lần-hồi lập cho
hoàn-toàn mối Đạo” (TNHT/ Q1/ trang 103 / giòng 23-26).
“Trước khi ngưng cơ, Thầy đã cho lịnh dùng cơ bút thế nào…”
Do đó từ đây công việc phổ-độ và giáo-hoá chúng-sanh Đức Chí-Tôn giao lại cho
Hội-Thánh, Đức Chí-Tôn cũng đã dạy rằng :
“T…,T.., C…, Từ đây nên liệu chừng nhau mà điều-đình gánh Đạo, điều nào theo
Tân-luật, do Thánh-ý, hiệp lòng chư đạo-hửu, bổ-ích cho nền Đạo thì các con
nên thung-dung liệu nhau mà thi-hành, chẳng cần phải đợi cầu hỏi (TNHT/Q1/trang
103).
Như vậy cơ bút không còn dùng để truyền đạo, mà chỉ dùng cho những
trường-hợp đặc-biệt của Đạo như Phong Thánh và cầu xin Chí-Tôn cùng các Đấng
Thiêng-liêng giải-quyết các vấn-đề cực-kỳ quan-trọng mà Hội-Thánh không quyết-định
được mà thôi.
Như chúng ta đã biết trong thế-giới vô-hình có Thần Thánh Tiên Phật
mà cũng có Yêu Quái Ma Quỹ. Nên trong sự sử-dụng cơ bút Đức Chí-Tôn cũng đã
cảnh-giác rằng Ma-Quỷ sẽ lợi dung danh-nghĩa Thần Thánh mà truyền-bá những điều
ma-giáo phá hại chánh-đạo, nên Thánh-giáo Đức Chí-Tôn đã dạy rằng :
“Buổi Bạch-Ngọc-Kinh và Lôi-Âm-Tự lập Pháp Tam-Kỳ Phổ-Độ, Quỷ-Vương đã khởi
phá-khuấy chơn Đạo. Đến danh Ta nó còn mượn, duy ngai Ta nó chẳng dám ngồi mà
thôi.
Lại còn hiểu rõ rằng Ta đến với huyền-diệu nầy, mượn cơ mầu-nhiệm, hiệp
Tam-thập-lục-động đổi gọi Tam-Thập-lục-Thiên các tên chư Thần Thánh Tiên Phật
bị mạo nhận mà lập nên Tả-Đạo” (TNHT/Q1/trang 38)
Theo Thánh-giáo đã trích dẫn trên, Đức Chí-Tôn cho biết rằng Đạo khai
thì Tà khởi để khuấy-phá, thử-thách khảo dượt những người tu-hành, nên Quỷ-vương
cũng có thể mượn danh Thượng-Đế và Tiên Thánh, cũng dùng huyền-diệu cơ-bút để
dối gạt chúng-sanh, nhưng chỉ có một điều chắc-chắn để phân-biệt thật giả đó
là ngai của Thượng-Đế tức là các Đồng-tử mà Thượng-Đế đã chọn lựa thì Ma Quỷ
không dám nhập vào mà thôi.
Tuy Đức Chí-Tôn đã cảnh-giác như thế, nhưng về sau cũng có những
chức-sắc vẫn còn dùng cơ bút, mà Đồng-tử không phải là những người của Đức
Chí-Tôn chọn lựa, đã làm cho một số nhơn-sanh mất đức tin, nên Đức Chí-Tôn
cũng đã khiển-trách như sau :
“Các con đã từng nghe lời Thầy khuyên-nhũ về chuyện ngừa cơ bút, thế mà một phần
chẳng chịu sửa cải đường ngay cho khỏi lâm vào nẻo tà mị, đã vi lịnh Thầy mà
dìu-dắt các con lạc bước, Thầy cũng đại lụy mà ngó xem một phần môn-đệ xứng-đáng
của Thầy phải sa vào vực thẳm. Các con nên ghi nhớ mà coi chừng đường lối sau
này”
C… Thầy cấm từ đây chẳng nên lấp-lửng cầu cơ hay chấp bút chi, vì là một sự
hại lớn lao cho Đạo. Đã phá đức tín-ngưỡng của chúng-sanh, lại làm cho nhơn
sanh bị nhơ-trược. (TNHT/ Q 2/ trang 48).
Đó là những nguyên-nhân chính-yếu mà Đức Chí-Tôn đã hạn chế việc dùng cơ-bút
một cách tuỳ-tiện và bừa-bải do những người không phải là Đồng-tử do Đức
Chí-Tôn chọn lựa.
SỰ THÔNG-CÔNG VỚI CỎI SIÊU-LINH NGOÀI NHÂN-GIAN
Hiện nay hiện-tượng sử-dụng Đồng-tử và cơ-bút rất là phổ-biến, từ cá-nhân đến
các tổ-chức Giáo-Hội của nhiều Tôn-giáo, trên khắp thế-giới đã phổ-biến những
Thông-điệp tiếp nhận từ Thế-giới Siêu-linh của các Thần Thánh Tiên Phật như
Di-Lặc, Thích-Ca, Lão-Tử, Khổng-Tử, Jésus… cùng các Vị khi còn sinh-tiền đã có
nhiều đóng góp tích-cực cho quốc-gia xã-hội như : Mahatma Gandhi, Tôn-Trung-Sơn…
cùng nhiều thi-nhân như Lý-Thái-Bạch, Victor Hugo… các Tướng-lĩnh như
: Quan-Công (Quan-Vân-Trường) Trần-Hưng-Đạo… các bậc nữ nhi như : Jeanne D’ Arc, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Chúa Liễu-Hạnh… thậm chí đến các vị khi sinh-tiền
là những nhà khoa-học, y-học như : Louis Pasteur, Hải-Thượng Lãn-Ông… cũng điều
có giáng-cơ, hoặc dạy đạo-đức, hoặc cho thuốc chữa bệnh…
Hiện-tượng nầy theo giải-thích của Cao-Đài-giáo thì trong thời buổi Tam-Kỳ Phổ-Độ
tất-cả chúng-sanh kể cả Thần Thánh Tiên Phật trong ba cỏi phàm-trần,
trung-giới, và thượng-giới đều phải tuỳ duyên mà lập công bồi đức để cao thăng
Thiên-vị. Sự lập công nầy có hai trường-hợp thực-hiện : phần người trần-gian
thì làm việc hửu-hình, còn các chơn-linh cỏi vô-hình thì nương vào yểm-trợ người
trần-thế để họ cũng có dịp lập công. Nên trong Phương-châm Hành Đạo Đức Quyền
Giáo-Tông Lê-Văn-Trung khuyên rằng phần hửu-vi chúng ta cần lập công bồi-đức
bằng cách làm các việc thiện cụ-thể để cho các Đấng Thiêng-Liêng họ có dịp
hổ-trợ cho mình cũng tạo cho họ có cơ-hội lập-công. Hiện nay chúng ta thường
thấy những trường-hợp ngoại-cảm, chửa bệnh, chỉ mồ-mả thất-lạc trong chiến-tranh,
hay mất của, thường là được nhiều người tin dùng và cũng nhiều ứng-nghiệm nhất.
Nhưng nhiều nơi cũng chỉ linh-ứng trong một thời-gian nào đó, rồi cũng hết
hiệu-quả, bởi vì do người chủ-trì thường hay lợi-dụng hiện-tượng nầy để
trục-lợi nên Thần Thánh cũng xa rời không tiếp-trợ nữa.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHÂN-BIỆT CƠ-BÚT THẬT HAY GIẢ ?
Nhiều người đặt vấn-đề là ngày nay việc sử-dụng cơ bút tràn lan, làm sao
phân-biệt thực giả, điều nầy chúng ta có một số nguyên-tắc phân-biệt sau đây :
A.- Phân-biệt chân giả trong cửa Đạo
:
Trong cửa Đạo Cao-Đài cũng có chân giả nên Đức Chí-Tôn cũng đã dạy rằng :
“Khi nào chấp cơ thì phải đợi lịnh Thầy rồi sẽ thi hành”,
Câu nầy rất có nhiều ý-nghĩa và nhiều phương-thức khác nhau để giám-định sự
thật giả, chúng ta cần đi sâu vào một số tiêu-chuẩn quy-định rõ-ràng chi-tiết
sau đây :
a)- Như chúng ta đã biết ngoài kênh cơ bút ra còn nhiều kênh khác để tiếp-xúc
với Thượng-Đế, nên chúng ta cũng có thể nhận chỉ thị của Thượng-Đế theo các
kênh nầy để phối-kiểm mệnh-lệnh tiếp nhận từ cơ-bút.
b)- Linh tâm là Đền ngự của Thượng-Đế vì đã có câu : “Trong lòng
Thầy ngự động Thầy hay”
Nên chúng ta cần giữ-gìn linh-tâm định tỉnh từ hoà để đón nhận những mặc-khải
và sự dạy bảo của Thượng-Đế, nhất là những vấn-đề có liên-quan đến hành-động.
c)- Các mệnh-lệnh ban ra từ Cơ-bút, thì Cơ-bút đó phải do các Đồng-tử
là chức-sắc cao-cấp của Hiệp-Thiên-Đài từ Thập Nhị Thời-quân trở lên phò-loan.
d)- Nơi giáng cơ phải là tại Cung Đạo Toà-Thánh Tây-ninh. Vì Đức
Chí-Tôn đã chỉ-thị một cách tổng-quát rằng : “. . .chi chi cũng tại
Tây-ninh đây mà thôi. . .(TNHT/Q1/Trang 91)
Đức Chí-Tôn đã có chỉ-thị cấm tất-cả việc sử-dụng cơ-bút ngoài
các quy-định nêu trên, nên tất cả các cơ bút không xuất phát từ các chức-sắc
Đại Thiên-phong của Hiệp-Thiên-Đài Toà-Thánh Tây-ninh và không có sự phổ-biến
chính-thức của Hội-Thánh thì tín-đồ không được tin dùng.
B.- Phân-biệt chân giả ngoài thế-gian :
Còn các hiện-tượng Đồng cốt, cơ-bút ngoài thế-gian thì có những phương-thức
nhận-định như sau :
- Quan-sát tìm-hiểu tôn-chỉ mục-đích của các cá-nhân hay tổ-chức sử-dụng và
phổ-biến những thông-tin từ đồng-tử hoặc cơ bút để đánh giá những thông-tin đó.
- Kết-hợp giữa huyền-linh và khoa-học để đánh giá : Khi nào tiếp-nhận một
thông-tin từ cỏi siêu-linh, trực-tiếp từ đồng-tử hay tứ cơ-bút, chúng ta nên
dùng phương-pháp suy-luận của triết-học là kết-hợp giữa trực-giác và lý-trí
bổ-sung cho nhau để nhận-định, tức là kết-hợp giữa huyền-linh và khoa học để
đối-chiếu mà phân-tích vấn-đề.
- Thông-tin đó phải vô-tư, vừa hợp lý, vừa cận nhân-tình : Tất cả những
thông-tin từ Đồng-tử và cơ-bút thì phải tránh xa danh-lợi, vừa thích-hợp với
đạo-lý vưà cận nhân-tình, vừa lý-tưởng vừa thực-tế. Phải phuc-vụ hửu ích cho
chúng sanh.
- Thông tin phải có tình-chất trung-dung không cực đoan, quá khuynh tả hay quá
khuynh hửu. Thích-nghi với lẽ Đạo, tức là chú trọng phần thực-hành. Vì Đức
Hộ-Pháp Pham-Công-Tắc đã dạy rằng :
“Đạo không phải nơi lời nói, mà tại nơi kết-quả sự thật mình làm. Chẳng phải
nơi câ kệ câu kinh mà tại hành-vi người giữ đạo. Cái khó khăn của đạo chẳng ở
nơi giảng dạy, mà ở sự thực-hành. Cái hay của đạo chẳng phải tại nơi yếu-lý,
mà ở nơi kết-quả sự giáo-truyền” (Trích Phương tu Đại-Đạo).
Lời dạy trên đây tuy là ứng-dụng một cách tổng-quát trong đường hướng tu-hành,
nhưng cũng có thể làm tiêu-chuẩn trong việc nhận-định sự chân giả của đồng-tử
và cơ-bút. Nếu dù lý-thuyết đó hay ho bao-nhiêu mà không giúp ích-gì cho
chúng-sanh trên bước đường thực-hành đạo hạnh thì cũng chỉ là giả-dối.
- Trước các hiện-tượng tiên-tri của đồng-tử và cơ bút : Như chúng ta đã biết
các hiện-tượng nầy dù là ma quỷ cũng chỉ có thể nói đúng những việc đã xảy ra
trong quá khứ mà thôi. Còn chuyện tương-lai là thuộc về thiên-cơ, mà “thiên
cơ thì bất khả lậu” . Đức Chí-Tôn đã cho biết rằng dù cho một vị Đại-la Thiên
Tiên hay Cổ Phật cũng không có quyền tiết-lộ thiên-cơ. Nên tất cả các đồng-tử
và cơ-bút tiên-tri về tương-lai chúng ta không nên cả tin.
Trên đây là một số tiêu-chuẩn tổng-quát để phân biệt các hiện-tượng đồng-bóng
và cơ-bút để phân-biện biết đâu là chân-thật hoặc giả-dối.
PHƯƠNG-THỨC SỬ-DỤNG CƠ-BÚT MỘT CÁCH HỬU-HIỆU
Theo kinh-nghiệm của nhiều người đã sử-dụng cơ-bút thì có một một số điều-kiện
tiên-quyết sau đây :
- Đồng-tử : Theo nghĩa đen của hai chữ Đồng-tử là kẻ trẻ con, tức là những đồng-nhi
niên-thiếu còn trong trắng, tinh-anh, vô-tư, chưa có nhiều dục vọng, chưa
nhiễm một định-kiến một triết thuyết nào.
Các Triết-gia của Tiên-giáo, Nho-giáo thời xưa lấy sự hồn-nhiên vô-tư vô
dục của con trẻ làm tiêu-chí tối cao của sự tu-dưỡng :
“Người có đức dày thì như con đỏ” (Hàm đức chi hậu, tỉ xích tử /Lão-tử
Đạo-đức kinh/Thiên hạ/55).
”Bậc đại nhân không đánh mất cái lòng của đứa con đỏ” (Bất thất kỳ xích tử chi
tâm/Mạnh-tử).
Các Tiên-gia thời xưa đã dựa trên tiêu-chuẩn đó mà tuyển chọn và huấn-luyện người
phò-cơ chấp-bút, nên mới đặt tên những người ấy là “đồng-tử”. Vì tâm họ còn
hư-tỉnh thuần-phát, hay là sự tu-dưỡng của họ đã đạt đến chỗ thanh-tỉnh, đại định,
như thế sẽ không làm ảnh-hưởng đến lời chỉ giáo của Thần Tiên, hay làm
nhiễu-loạn những thông-tin phát từ cỏi siêu-linh qua đồng-tử và cơ bút.
Đó cũng là lý-do chúng ta hiểu rằng vì sao buổi đầu khai-nguyên của nền
Đạo, Đức Chí-Tôn lại không dùng số đồng-tử trong những đàn cơ của các
tôn-giáo sẵn có, mà tuyển-chọn các đồng-tử trong nhóm tây-học đang làm
công-chức cho Nhà-nước thuộc Pháp, chưa biết một tí gì về các triết-thuyết
cùng phương-pháp hành-đạo và tu-luyện của Tam-giáo, Ngũ-chi. Cũng như lúc bấy-giờ
Đức Chí-Tôn đã thâu nhận Ông Trần-Văn-Tạ đang làm công-chức cho Pháp không
biết gì về thuốc men chữa bệnh, mà giao cho ông chữa bệnh cho bá-tánh, Ngài
dạy ông rằng :
“Thầy giao khổ bịnh nhơn-sanh cho con. Thầy lấy nhà con làm Thánh-thất của
Thầy”.
Do đó chúng ta mới vững tin rằng tất-cả Giáo-thuyết, Giáo-lý, Giáo-pháp của
Đại-Đạo Tam-Kỳ Phỗ-Độ (Cao-Đài-giáo) ban ra từ buổi đầu bằng cơ bút và bằng
mặc khải để truyền-bá Đạo xuống thế-gian là hoàn-toàn của Đức Chí-Tôn truyền
đạt qua một nhóm đồng-tử chưa có một tí định-kiến, hoặc một sự hiểu biết nào
về tôn-giáo.
Theo sự định nghĩa của danh-từ Đồng-tử nêu trên, nếu chúng ta muốn sử-dụng cơ-bút
một cách linh-ứng thi đều then chốt là phải chọn-lựa đồng tử theo các tiêu
chuẩn sau đây :
- Đồng tử phải là những người có thiên-phú xuất chơn thần ra ngoại xác thân,
như sinh-tiền của Đức Hộ-Pháp Phạm-Công-Tắc đã có được khả-năng nầy, vì trong
tuổi nhỏ, có những lúc Ngài đã “thiếp” đi mê mang như là một giấc ngủ bắt-buộc
sau một hồi mới tỉnh lại, sau nầy khi Đức Chí-Tôn thâu nhận Ngài làm đệ tử đã
dạy Ngài tham-thiền nhập định và khai khiếu huyền quang nơi Nê-huờn-cung để
Ngài xuất chơn thần lên tiếp cận với Đức Chí-Tôn, đã học ở Chí-Tôn những điều
bí yếu bí-trọng (Theo Con đường Thêng-liêng hằng sống).
- Nếu không phải là trương-hợp thiên-phú nêu trên thí đồng-tử phải là người
tham-thiền tịnh luyện, nếu chưa xuất chơn-thần ra khỏi xác thân được, thì cũng
đạt đến chổ đại-định, thì làm đồng-tử mới linh-ứng.
- Cần có những Đồng-tử ít nhứt phải là một người không hiểu biết một tý gì về
những thông-tin hay vấn-đề đón nhận từ cỏi siêu-linh.
- Có người hỏi rằng nếu như vậy thì dùng trẻ con chưa biết gì, làm đồng tử có
được không ? Theo kinh-nghiệm thực-tiển thì những trường-hợp dùng đồng-tử bằng
trẻ vị thành niên đều thất-bại, mà đôi khi còn nguy-hại đến chúng nó nữa. Ví
tình-trạng Tinh Khí Thần của trẻ em chưa phát-triển đầy đủ, nôi-lực còn yếu
kém, sẽ không chịu đựng nổi của điển-lực bên ngoài nhập vào, dễ khiến cho trẻ
hoá ngớ ngẫn điên-loạn rất nguy-hiểm. Vi có nhiều trường-hợp người đã
thành-niên mạnh-khoẻ, sau khi chơn-linh nhập xác xuất ra, đồng-tử đã bị yếu
sức mệt mỏi cả mấy ngày liên-tiếp rất là tổn hại cho sức khoẻ.
- Các trường-hợp cầu-cơ dùng hai đồng-tử hoặc xây bàn dùng hai hay ba đồng-tử
trở lên thì các thông-tin nhận được sẽ trung-thực hơn, vì ít bị ảnh-hưởng
tư-tưởng một chiều của một hai đổng-tử bị vọng động.
KẾT-LUẬN
Trên đây là khái-niệm về hiện-tượng thông-công giữa cỏi hữu hình với
thế-giới siêu-linh bằng khả-năng ngoại cảm của con người, hay của đồng-tử qua
trung gian của cơ-bút trong nhân-gian nói chung và trong cửa Đạo Cao-Đài nói
riêng, đó là một hiệân-tượng có thật, và kết-quả của nó dường như cũng đủ sức
làm cho con người tin-tưởng.
Nhưng đây cũng là con dao hai lưỡi, trong lãnh-vực tôn-giáo thì nó
là phương-tiện tiếp-xúc với Thượng-Đế và Thần Thánh Tiên Phật, mà cũng là phương-tiện
tiếp xúc với Sa-tăng cùng Yêu Tinh Ma Quỷ, vì thế cơ-bút là phương-tiện lập
đạo, mà cũng là phương-tiện phá đạo tùy nơi người sử-dụng nó.
Bởi vì thế mà ngay khi khai Đạo Đức Chí-Tôn cũng đã cảnh-giác một cách
rõ ràng rằng :
“Các con đừng tưởng cơ bút là việc tầm thường”,
tức là Đức Chí-Tôn đã khẳng-định rằng cầu-cơ chấp-bút là một việc làm rất
hệ-trọng, chớ nên sử-dụng nó một cách khinh-suất, và cũng để tránh những nguy
hại cho đạo, vì Ma Quỷ có thể lợi-dụng làm mất đức tin của nhơn-sanh, nên Đức
Chí-Tôn đã nghiêm cấm như sau:
“Thầy cấm từ đây các con chớ nên lấp lửng cầu cơ chấp bút chi, vì là một sự
hại lớn-lao cho đạo”.
Còn trong nhân-gian tuy là một hiện-tượng có thật, rất nhiều dân-tộc kể các
nền văn-hoá và tín-ngưỡng cùng trình-độ kiến-thức khác nhau tin dùng, vì cũng
có những trường-hợp hửu-ích nào đó, nhưng cũng là một phương-tiện dễ bị kẻ xấu
lợi-dụng cho mục-đích tư-lợi bất chánh của mình, bởi nó hư-hư thực-thực khó
phân-định ranh-giới của chánh tà, nên chúng ta cũng cần đề cao cảnh-giác, đừng
để họ dắt-dẫn chúng ta vào sự mê tín dị-đoan.
Ngay trong cửa Đạo theo chúng ta nhận thấy đã đến lúc không còn cần dùng cơ-bút
nữa, bởi vì từ khi lập đạo cho đến trước khi ngưng cơ-bút, trải qua một
thời-gian dài bảy năm Đức Chí Tôn đã un-đúc bố-hoá đầy đũ rồi, nên Ngài đã
dạy rằng:
“ Các con sẽ lấy hết chí-thành đã un-đúc bấy lâu mà lần hồi lập cho hoàn-toàn
mối đạo” (TNHT/Q1/trang 1020).
Một lần khác Đức Chí-Tôn cũng đã dạy thêm rằng :
“Từ đây nên liệu chừng nhau mà điều-đình gánh đạo, điều nào mà theo Tân-luật
do Thánh-ý, hiệp lòng chư đạo-hửu, bổ-ích cho nền Đạo thì các con cứ
thung-dung liệu nhau mà thi-hành, chẳng cần phải đợi phải cầu hỏi.” (TNHT/Q2/trang
48).
Bởi vì cơ bút nó cũng có những nhược-điểm là nếu sử-dụng một cách tuỳ-tiện
bừa-bãi, dễ dắc-dẫn con người lầm-lạc vào Tả-đạo, nên Đức Chí Tôn cảnh-giác rằng:
“…Nếu chẳng giữ theo lẽ chánh mà hành Đạo, và bày biện nhiều sự vô lối, thì
trong ít năm sau đây, sẽ trở nên một mối Tả-đạo” (TNHT/Q2/ Trang 42)
.
Lại nữa theo luật-pháp Đạo quy-định thì những người có quyền điều-hành
cơ-bút trong Đạo phải là các chức-sắc Đại Thiên-phong của Hiệp-Thiên-Đài từ phẩm
Thập-Nhị Thời-Quân trở lên, nhưng số nầy đã quy Tiên, mà vẫn chưa được Đức
Chí-Tôn tấn-phong thay thế, đó là một điều hiển-nhiên chứng tỏ rằng cơ-bút
không còn là phương-tiện cấp-thiết nữa.
Có người cho rằng không có cơ-bút thì không có Đạo Cao-Đài, đều nầy
chỉ đúng một phần nào đó, chứ thật ra trước đây các Đấng Giáo-chủ, các Vị
Tiên-Tri đã giao-cảm với Thượng-Đế qua những “kênh” khác nhau, đã khai sáng ra
các Tôn-giáo lưu-hành cả mấy nghìn năm, ngay hiện nay cũng vậy, từ ngày Đức
Hộ-Pháp và các Vị chức-sắc Đại Thiên-phong của Hiệp-Thiên-Đài quy Thiên chưa
được thay thế, nhưng sự tương-giao giữa Thượng-Đế, Thần-linh với con người vẫn
tiếp-nối liên-tục, vì Thượng-Đế đến với con cái của Người bằng ân-sủng, còn
Con người đến với Thượng-Đế bằng đức tin và tấm lòng hiếu-hạnh, sự tương-liên
hai chiều nầy vẫn luôn luôn duy-trì vượt thời-gian và không-gian, không bao
giờ gián-đoạn, nhất là trong những thập niên gần đây, hiện-tượng tương-giao
lại vượng lên dưới nhiều hình-thức khác nhau bằng tham-thiền nhập-định, bằng
trầm tư mặc-tưởng đón nhận những mặc-khải nội tâm vẫn luôn diễn ra trong nhiều
chức-sắc, tín-đồ hửu công hửu đức. Nên chúng ta đừng tưởng rằng không có cơ-bút
là cắt đứt sự tương-giao giữa Thượng-Đế và con người.
Hết
(Trích
BTÐÐ - CQTGCÐHN 2002)
|