 |
Báo
Ân Từ
(tiếp theo) |
Chúng ta trở qua hành lang bên Nam phái, đứng
bên trong hành lang và hướng ra phía ngoài, nhìn
lên phía trên, chúng ta cũng thấy những bức họa
liên tiếp từ trước ra sau Hậu Điện, rồi tiếp tục
vòng qua Nữ phái, ta cũng đếm được 29 bức họa,
theo thứ tự kể ra sau đây :
1. Tô Võ.
2. Thần đồng vấn Khổng Tử.
3. Tôn Tẫn tầm sư học Đạo.
4. Phật Nhiên Đăng - Công Chúa Diệu Thiện.
5. Khổng Tử tác Xuân Thu.
6.
Sĩ-Đạt-Ta vượt thành đi tu.
7.
Tô Huệ chức cẩm hồi văn.
8.
Châu Văn Vương ngồi ngục.
9.
Lão Tử giáng sanh.
10.
Kỉnh Tâm thọ hàm oan.
11.
Từ Giáp.
12.
Thành Bình Định, Võ Tánh thiêu mình.
13.
Trưng Nữ Vương khởi nghĩa.
14.
Đào Viên kết nghĩa.
15.
Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện.
16.
Huyền sử Ông Thầy không tên.
17.
Trung Úy Võ Đông Sơ bình hải khấu.
18.
Hạng Võ thất thủ thành Cai Hạ.
19. Sài - Triệu - Trịnh.
20. Hàn Dũ bị đày.
21. Tận trung báo quốc.
22. Hàn Tín lòn trôn.
23. Bạng Duật tương trì, Ngư ông đắc lợi.
24. Tích Mạnh Mẫu.
25. Tín nhạn.
26. Trương Lương dâng dép 3 lần.
27. Ngưu Lang - Chức Nữ.
28. Thương dương - Võ.
29. Mẫu đơn - Trĩ.
[ Các độc giả muốn biết rõ các Điển tích trên các bức họa
vẽ bên ngoài và bên trong hành lang Báo Ân Từ,
xin xem quyển : 91 Điển tích nơi Hành lang Báo Ân
Từ. ]
B. Phần Chánh Điện thờ Đức Phật Mẫu Chúng ta đã quan sát
xong phần bên ngoài Báo Ân Từ. Bây giờ chúng
ta bước vào trong Chánh Điện, quan sát sự thờ phượng
Đức Phật Mẫu.
Trên bức vách ngăn giữa Hậu Điện và Báo Ân Từ, nơi gian
giữa có đắp tượng Đức Phật Mẫu, Cửu vị Tiên Nương
và 4 Tiên đồng Nữ nhạc, ngồi trên lưng chim Thanh
loan trong tư thế đáp xuống sân Hoa Điện.
Bên tay mặt của Đức Phật Mẫu, ở phía dưới, có tượng của
ông Tiên Đông Phương Sóc đứng thẳng, 2 tay nâng
một cái dĩa lên khỏi đầu để rước 4 quả Đào Tiên
do Đức Phật Mẫu ban tặng cho Hớn Võ Đế. Phía tay
trái của Đức Phật Mẫu , bên dưới, nơi sân Hoa
Điện , có tượng của Đức Cao Thượng Phẩm tay cầm
Long Tu Phiến, đang quì ngước mặt lên cung nghinh
Đức Phật Mẫu. Trên lưng chim Thanh loan
Tượng Đức Phật Mẫu to lớn, ngồi chính giữa.
Hai bên tay mặt và tay trái của Đức Phật Mẫu là Cửu vị Tiên
Nương tay cầm bửu pháp, kể ra như sau :
1) Nhứt Nương, mặc áo màu xanh, tay ôm đàn Tỳ bà, ngồi dưới
thấp bên trái của Đức Phật Mẫu.
2)
Nhị Nương, cũng mặc áo
màu xanh, tay cầm Lư hương, ngồi kế Đức Phật
Mẫu phía trái.
3) Tam Nương, cũng mặc áo màu xanh, tay cầm Quạt Long tu, ngồi
dưới thấp bên mặt của Đức Phật Mẫu.
4) Tứ Nương, mặc áo màu đỏ, tay cầm Kim bảng, ngồi bên mặt
Đức Phật Mẫu, kế Tam Nương.
5) Ngũ Nương, mặc áo màu đỏ, tay cầm cây Như Ý , ngồi bên
trái Đức Phật Mẫu, kế Nhị Nương.
6) Lục Nương, mặc áo màu đỏ, tay cầm Phướn Tiêu Diêu (cũng
gọi là Phướn Truy Hồn), ngồi kế bên mặt của
Đức Phật Mẫu.
7) Thất Nương, mặc áo màu vàng, tay cầm bông sen, ngồi phía
trái Đức Phật Mẫu, kế Nhứt Nương.
8) Bát Nương, mặc áo màu vàng, tay cầm Giỏ Hoa lam, ngồi nơi
phía mặt của Đức Phật Mẫu, kế Tam Nương.
9) Cửu Nương, mặc áo màu xanh, tay cầm Ống tiêu, ngồi nơi
phía mặt Đức Phật Mẫu, kế Lục Nương.
Phía sau Đức Phật Mẫu là 4 Tiên đồng Nữ nhạc theo hầu Đức
Phật Mẫu có tên như sau :
- Vương Tử Phá, mặc áo màu xanh, đứng bên phía trái của Đức
Phật Mẫu, tay cầm cây Phướn.
- Đổng Song Thành, mặc áo màu xanh, đứng bên phía mặt của
Đức Phật Mẫu, tay cũng cầm một cây Phướn giống
như Vương Tử Phá.
- An Phát Trinh, mặc áo màu vàng, đứng phía trái Đức Phật
Mẫu, kế Vương Tử Phá, tay cầm cây quạt lông
cán dài.
- Hứa Phi Yến, mặc áo vàng, đứng bên phía mặt của Đức Phật
Mẫu, kế Đổng Song Thành, tay cũng cầm cây quạt
lông cán dài.
Phía dưới tượng của Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương là
Bàn thờ, trên đó có đặt một Long vị Đức Phật
Mẫu, đề chữ Nho lớn thẳng đứng là : DIÊU TRÌ KIM
MẪU.
Trên bàn thờ, cách bày trí Hoa, Quả, Rượu, Trà, Đèn, Nhang
giống như bàn thờ Đức Chí Tôn, nhưng không có Đèn
Thái Cực, chỉ có Đèn Vọng, và đặc biệt có 2 Lư
hương :
- Một Lư hương đặt bên trên có cắm 5 cây nhang, dành thờ
Đức Phật Mẫu.
- Một Lư hương đặt bên dưới có cắm 9 cây nhang phân làm 3
hàng, dành thờ Cửu vị Tiên Nương.
Lồng căn có đặt bàn thờ Đức Phật Mẫu gọi là lồng căn
số 1. Lồng căn số 2, mỗi bên đặt 3 cây Tàn với
3 màu vàng, xanh, đỏ, theo thứ tự từ trong ra ngoài. Lồng căn số 3, mỗi bên đặt một Dàn Lỗ bộ gồm 8 món binh
khí thời xưa, có 2 cây Lọng đặt ở hai đầu. Giữa 2 cây cột phân chia lồng căn số 2 và số 3, có đặt
một Bàn Hương án dùng làm Nội Nghi, trên đó có
:
Bình bông, Dĩa trái cây, Lư trầm để đốt lên trong giờ hành
lễ, Cặp chưn đèn và Lư hương cắm 3 cây nhang.
Ngoài ra ở 2 bên, trên 2 ghế nhỏ có đặt 1 cái chuông và
1 cái mõ để đồng nhi tụng Di Lạc Chơn Kinh sau khi
cúng thời Dậu xong. Do đó bàn Nội Nghi còn được
gọi là Bàn Kinh. Ngó ra bên ngoài, chúng ta còn thấy một Bàn Hương án nữa,
đặt giữa 2 cây cột phân chia lồng căn số 6 và
số 7, gọi là Bàn Hội Đồng, dùng làm Ngoại Nghi.
Trên bàn Ngoại Nghi có Bình bộng, Dĩa trái cây,
Đèn vọng, Ly rượu, Chung trà, Cặp chưn đèn, Lư hương
cắm 3 cây nhang.
Bàn Hội Đồng dành cho Chơn hồn của các Chức sắc Đại Thiên
Phong Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài quá vãng
đến đó chầu lễ Đức Phật Mẫu khi cúng Đại đàn. Cuối lồng căn số 8 có đặt một cái bàn, trên đó không có
chưng bày gì cả, gọi là Bàn Lễ sĩ, để các Lễ
sĩ chuẩn bị Bông, Rượu, Trà(Tam Bửu) điện lễ dâng
cúng Đức Phật Mẫu. Sau Bàn Lễ sĩ là lồng căn
thứ 9, đặt một cái bàn tròn thấp, có băng tròn
vây quanh dành cho Ban Nhạc ngồi đờn khi cúng Đức
Phật Mẫu vào Tứ thời mỗi ngày.(Khi cúng Đại đàn,
Ban Nhạc không được ngồi ở
đây, mà phải lên lầu 1 Báo Ân Từ). Bên cạnh Bàn tròn của Ban Nhạc, phía bên Nữ phái có đặt
một cái Kiểng.
Bên
ngoài Bàn tròn của Ban Nhạc là một tấm vách ngăn,
trên đó có chừa một khung lớn, sơn toàn trắng,
để tượng trưng Khí Sanh Quang. Chúng ta đi trở lên,
giữa 2 cây cột phân chia lồng căn số 1 và số
2, phía bên trên, sát với la-phông (Plafond) có
đắp một tấm diềm. Phía sau tấm diềm có treo tấm
màn màu vàng. Chúng ta còn thấy nơi Ngoại Nghi
cũng có treo một tấm màn màu vàng tương tự. Nhìn
lên tấm diềm trước Bàn thờ Đức Phật Mẫu, chúng
ta thấy có trang trí các thức mây lành ngũ sắc,
phía bên trên có đắp hình một con chim Thanh loan,
đây là con chim lịnh của Đức Phật Mẫu, và xung
quanh có đắp 9 Bửu pháp của Cửu vị Tiên Nương,
kể ra dưới đây :
-
. Bên dưới chim Thanh loan là cây phướn Tiêu Diêu của Lục
Nương.
-
. Phía bên Nữ phái có 4 Bửu pháp : Kim bảng của Tứ Nương,
Giỏ Hoa Lam của Bát Nương, Quạt Long tu của Tam
Nương, và Ống Tiêu của Cửu Nương.
-
. Phía bên Nam phái có 4
Bửu pháp : Đờn Tỳ bà của Nhứt Nương, Lư hương
của Nhị Nương, Cây Như ý của Ngũ Nương và Bông
sen của Thất Nương. Trên mỗi cây cột 2 bên Chánh
điện có gắn một tấm bảng màu vàng, đề 3 chữ
Nho : BÁT CẢNH CUNG, bên dưới đề một chữ Nho
nữa : Kỳ (nghĩa là Cờ). Bảng nầy cho biết 8 lồng
căn của Chánh điện làm nơi thờ Đức Phật Mẫu
tượng trưng Bát Cảnh Cung của Đức Phật Mẫu, và
bảng nầy còn dùng để cắm cờ đạo khi có Lễ
lớn.
La-phông
nơi gian giữa, tức là của phần Chánh điện, có
hình dạng là phân nữa hình ống tròn, sơn màu xanh
da trời, trên đó có vẽ mây trắng và vẽ một con
rồng trắng ẩn hiện trong mây, đầu rồng ở nơi lồng
căn số 9 và đuôi rồng nơi lồng căn số 3. Bây
giờ, chúng ta bước qua gian bên Nam phái để quan
sát. Phía bên trong, ngang với tượng thờ Đức Phật
Mẫu, có đắp một cái khánh thờ lớn, ở giữa cẩn
hàng chữ Nho lớn thẳng đứng : CHƯ CHƠN LINH NAM PHÁI,
bên trên có 2 chữ Nho nhỏ : CUNG PHỤNG, và bên
dưới có 2 chữ TỌA VỊ. Phía dưới chữ CHƯ CHƠN LINH
NAM PHÁI là bàn thờ, ngay chính giữa có đặt một
Long vị đề chữ Nho là TỊCH BỘ HỮU CÔNG, để thờ
những Chức sắc Nam phái có đại công với Đạo.
Hai bên Long vị nầy là 2 Long vị nhỏ hơn của Phạm
Phối Thánh (Phối Thánh Phạm văn Màng) và của
Bùi Phối Thánh (Phối Thánh Bùi ái Thoại). Nhìn
lên la-phông, thấy bằng ngang, sơn màu trắng, ngay
chính giữa mỗi căn có trang trí một hình 8 cạnh
vẽ mây và Tứ Linh (Long, Lân, Qui, Phụng).
Ngang với tấm diềm nơi gian giữa, bên gian Nam phái cũng có
đắp một tấm diềm trang trí 5 sắc mây lành và Tứ
Linh. Sau tấm diềm nầy có treo một tấm màn màu
xanh. Chúng ta bước qua quan sát gian bên Nữ phái, chúng ta thấy
cách bố trí giống y như bên Nam phái, nhưng hàng
chữ Nho lớn trên khánh thờ là : CHƯ CHƠN LINH NỮ
PHÁI, và trên bàn thờ không có Long vị của 2 vị
Phối Thánh, vì gian bên nầy chỉ thờ các Chơn linh
Nữ phái mà thôi. Chúng ta đo bề ngang của Báo
Ân Từ nơi cửa hông, tính phủ bì cả 2 Hành lang
hai bên, đo được 16 thước; từ vách bên nây sang
vách bên kia đo được 12 thước, chia làm 3 gian, mỗi
gian có bề rộng 4 thước; Hành lang rộng 2 thước.
Nền Báo Ân Từ được lót bằng gạch bông. Sau nầy,
lớp gạch bông được thay bằng lớp gạch men đẹp
và bóng láng hơn.
C. Phần Hậu Điện
Phần
Hậu Điện Báo Ân Từ chiếm 4 lồng căn, nên có
bề dài 16 thước ( mỗi căn có bề rộng 4 thước).
Giữa phần Hậu Điện và Chánh Điện có 2 cửa nhỏ
thông nhau, một ở bên Nam phái và một ở bên Nữ
phái. Trong Hậu Điện có thiết lập một Bàn thờ,
trên đó có đề 3 chữ Nho lớn : PHƯỚC LỘC THỌ.
Đó là Tam vị Thiên Quân tượng trưng Cửu Huyền Thất
Tổ chung cho mọi người, nên thường được gọi là
Bàn thờ Ông Bà chung. Tại sao ? Bởi vì người ta
cho rằng Tổ Tiên Ông Bà của mỗi người đều ở
trong 3 bực :
- Phước : Có con cháu đông đảo nối dõi tông đường.
- Lộc : Có chức phận và giàu có.
- Thọ : An nhàn và sống lâu. (Xem bên dưới : Sự tích Phước
Lộc Thọ). Hai bên Bàn thờ có đặt 2 cây Lọng
màu vàng.
Hai cây cột phía trước Bàn thờ có gắn đôi liễn bằng chữ
Nho, phiên âm ra sau đây :
- BÁO đáp chí công tiền bối khai cơ Thiên đạo lưu truyền thiên
vạn đại,
- ÂN từ đại đức hậu nhơn thừa kế tôn sùng Chánh giáo thất
ức niên.
Nghĩa là :
-
. Đền đáp công nghiệp lớn lao của các bậc tiền bối đã mở
ra nền tảng Đạo Cao Đài truyền lại muôn đời
về sau,
-
. Đền thờ những vị có ơn đức lớn, người sau thừa kế tôn
sùng nền Đạo chơn chánh đến 700 000 năm.
Trong Hậu Điện có đặt 3 dãy bàn ghế dùng làm nơi hội họp
hay đãi tiệc trong Đạo. Sự Tích Tam Thiên Quân:
Phước , Lộc, Thọ Phước Lộc Thọ là tên của 3 Ông
: Ông Phước, Ông Lộc, Ông Thọ, vào đời nhà Đường
bên Tàu.
- Ông PHƯỚC có đức Trời
ban, có con đông, nhưng nhà nghèo, lòng dạ chơn
thật, tự lực cánh sinh, không chịu nhờ vả ai,
tin tưởng vận mạng của mỗi người do Trời định,
nên giữ lòng thanh bạch, không tham vọng.
- Ông LỘC có đức của Đất cho, làm quan lớn tại triều đình,
nhà giàu có lớn, tiền của dẫy đầy, có kẻ hầu
người hạ, tánh tình hòa nhã, thanh liêm, một
lòng vì nước vì dân, giàu lòng nghĩa hiệp, hay
trợ khó giúp nghèo, mến hiền trọng đạo.
- Ông THỌ có đức do Người tạo, độc thân, sống lâu hơn mọi
người, có lòng nghĩa hiệp, hay giúp đỡ người
nghèo khổ, chỉ sống bằng nghề ăn trộm, một năm
chỉ ăn trộm một lần để nuôi thân suốt năm,
không ham lấy thêm, gặp người quá nghèo khổ
thì đi ăn trộm của nhà giàu, đem tiền đến cứu
giúp.
Sự tích 3 Ông Phước, Lộc, Thọ được Đức Phạm Hộ Pháp giảng
giải trong đêm giao Tòa nhà mới vừa xây cất xong
vào năm 1947 dành cho Hiệp Thiên Đài làm Văn Phòng
của chư vị Thời Quân Hiệp Thiên Đài, có đông đảo
Chức sắc Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài tham
dự.
" Ba Ông Phước, Lộc, Thọ cùng ở một thôn.
- Ông Phước thì nghèo khổ mà đông con.
- Ông Lộc thì làm quan, giàu có mà không con.
- Ông Thọ thì có nghề sở
trường là ăn trộm, đi làm việc một đêm đủ tiền
chi dụng một năm, ngoài ra chẳng làm việc gì
khác. Một hôm, Ông Thọ khởi sự hành nghề ăn
trộm, đang đêm đi ngang qua nhà Ông Phước, thấy
đèn còn thắp leo lét, ghé vào đứng bên ngoài
xem, nghe vợ của Phước than thở nghèo khổ, con
cái quần áo tả tơi. Ông Thọ thấy vậy cảm động
đem lòng thương xót thầm, nghĩ rằng : Đêm nay,
mình đi ăn trộm chuyến nầy để giúp Anh Phước
đỡ nghèo, có tiền mua gạo ăn và sắm quần áo
cho đàn con đông đảo. Nghĩ vậy rồi liền thực
hành, đi đến nhà Ông Lộc, rình cho đến khuya,
đợi tôi tớ trong nhà ngủ say, mới đánh ngạch
vào nhà, mở tủ lấy trộm được một số vàng bạc
khá nhiều, bọc vào một cái khăn, rút lui êm
tịnh, không ai trong nhà hay biết. Ông Thọ liền
đi ngay đến nhà Anh Phước, trời vẫn còn khuya,
kêu Anh Phước dậy mở cửa, đốt đèn lên. Phước
hỏi Ông Thọ, nửa đêm kêu cửa có việc chi cần
gấp ? Ông
Thọ nói :
- Tôi đem giúp Anh một gói vàng bạc đây
để Anh chi dụng trong nhà, mua gạo và sắm quần
áo cho sắp nhỏ mặc cho lành lặn. Ông Phước hỏi:
- Vàng bạc ở đâu mà Anh có nhiều như vậy
? Ông Thọ đáp :
- Của tôi đem đến giúp Anh
thì Anh cứ nhận mà dùng, hơi nào hỏi lòng vòng
lôi thôi. Ông Phước nói :
- Xin Anh cho tôi biết rõ
của nầy do đâu mà có thì tôi mới dám nhận sự
giúp đỡ của Anh, chớ tôi thấy Anh đâu có giàu
gì !
Ông
Thọ túng thế phải nói thiệt : - Số vàng bạc nầy
do tôi lấy trộm của nhà giàu để đem lại giúp
Anh cho đỡ nghèo. Ông Phước nói :
- Tưởng đâu Anh làm ăn khá
giả, dư tiền dư bạc mà giúp tôi, nào dè Anh
đi ăn trộm, thì vàng bạc nầy là của phi nghĩa,
của gian, tôi không dám nhận đâu, Anh hãy đem
về đi. Hai đàng nói qua nói lại một hồi, Ông
Phước nhứt định không nhận, có vẻ giận, rồi
mời Anh Thọ ra khỏi nhà, đóng cửa đi ngủ trở
lại. Ông Thọ nghĩ lấy làm lạ cho cái Anh Phước
nầy, nhà nghèo rớt mồng tơi, đói nheo nhóc mà
lại không chịu nhận vàng bạc bất nghĩa. Mình chẳng
lẽ lấy số vàng bạc nầy về xài thì tỏ ra kém
cỏi hơn Anh ta nhiều quá, nên quyết liều đem lại
trả cho Ông Lộc. Ông Thọ suy nghĩ như thế, liền
trở lại nhà Ông Lộc, kêu mở cửa, rồi vào nhà
nói rõ cho Ông Lộc biết :
- Hồi đêm hôm, tôi có lén
đào ngạch vào nhà Ông ăn trộm một số vàng
bạc để đem lại giúp cho Anh Phước, vì thấy Anh
Phước nhà quá nghèo mà lại đông con, nhưng Anh
Phước nhứt định không chịu nhận vì cho rằng của
nầy là của ăn trộm, của phi nghĩa, nên tôi chẳng
biết làm sao, đành liều đem lại trả cho Ông,
xin Ông đừng bắt tội. Ông Lộc nói :
- Tiền bạc ở trong tủ nhà
của tôi thì nó mới là của tôi, nay nó đã ở
trong tay Ông thì nó là của Ông, không phải của
tôi nữa. Ông hãy mang về đi, tôi không biết
tới nó nữa. Ông Thọ nài nỉ :
- Tôi nói thiệt với Ông là số vàng bạc
nầy là của Ông, Ông không tin thì vào mở tủ
ra xem lại đi, tôi mới lấy trộm ra đó. Xin Ông
tha tội cho tôi và cất nó trở lại vào tủ.
Ông Lộc nhứt định không chịu nhận và mời
Ông Thọ ra khỏi nhà. Ông
Thọ buộc phải ôm gói vàng bạc đi ra, trở về nhà,
lòng nặng trĩu ưu tư, thầm nghĩ hai thằng cha Phước
và Lộc là hai tay thật kỳ cục, phi thường khác
tục. Ông suy nghĩ mãi và cảm thấy lương tâm ray
rứt, kế trời hừng sáng. Ông quyết định là mình
cũng không xài số vàng bạc nầy làm gì, mất giá
trị lắm, chẳng lẽ mình thua Anh Phước sao, thôi
mình nên đem đổ xuống sông cho rảnh. Ông Thọ liền
đem tất cả số vàng bạc ấy đến đứng giữa cầu,
đổ trút xuống dòng sông nước đang chảy mạnh. Đúng
lúc đó, có một đám người cờ bạc vừa tan sòng
đi ra đến đầu cầu nhìn thấy, họ la hoãng lên vì
động lòng tham, liền nhảy xuống sông để lặn mò
lấy vàng bạc. Chẳng may nước chảy xiết quá, có
một người ham lặn, hụt hơi chết đuối. Linh hồn chàng cờ
bạc bị Quỉ sứ dẫn xuống Địa ngục phạt tội, liền tố cáo với
Diêm Vương là tại Oâng Thọ nên anh ta mới bị chết chìm một
cách oan uổng và đòi Diêm Vương bắt Ông Thọ đền mạng.
Diêm Vương liền kêu Quỉ Sứ lên bắt hồn của Ông Thọ dẫn
xuống. Diêm Vương hỏi Ông Thọ :
- Tại sao nhà ngươi làm cho tên nầy chết
đuối oan mạng như thế ? Hồn Ông Thọ đáp :
- Tâu Diêm Vương, tại tên nầy quá tham lam
thấy tôi đổ vàng bạc xuống sông nên lặn mò
quyết lấy, chẳng may bị hụt hơi chết đuối thì
đáng kiếp lắm, chớ tôi đâu có xô nó xuống
sông mà bắt tội tôi.
- Vàng bạc ở đâu ? Mà tại sao ngươi đổ xuống
sông ?
- Vàng bạc nầy là của tôi, tôi không dùng
thì tôi đổ xuống sông, ấy là quyền của tôi,
tên nầy quá tham lam nên chết rán chịu. Diêm
Vương lại phán :
- Mặc dầu là tiền bạc của nhà ngươi, nhưng
lúc sắp soạn đổ xuống sông, ngươi phải lựa lúc
vắng người, để không ai nhìn thấy mà khêu gợi
lòng tham của kẻ xấu. Vậy ngươi chẳng chối tội
đặng.
- Nếu Diêm Vương xét như vậy thì tội nầy
là tội của Anh Phước mới đáng, chớ không phải
tội của tôi, bởi vì số vàng bạc nầy, tôi đem
lại cho Anh Phước để giúp Ảnh đỡ nghèo, mà Anh
Phước không chịu lấy, nên tôi tức mình mới đem
đổ xuống sông như thế.
Diêm Vương lại sai Quỉ Sứ lên bắt hồn của
Ông Phước xuống đây đối chất. Diêm Vương hỏi Ông
Phước :
- Số vàng bạc của Thọ đem
đến giúp cho nghà ngươi, sao nhà ngươi không chịu
lấy, để nó tức giận đem đổ xuống sông, làm
cho tên cờ bạc nầy nổi lòng tham, lặn mò đến
chết đuối ? Vậy nhà ngươi phải đền mạng cho
tên cờ bạc nầy. Ông Phước biện bạch thưa rằng
:
- Bẩm Diêm Vương,
nhà tôi nghèo thật, nhưng vàng bạc của Anh Thọ
giúp tôi là của gian, của ăn trộm, nên tôi
nhứt định không nhận. Vậy tôi có tội gì ?
Diêm Vương quay qua quở Ông Thọ, Thọ liền
thưa :
- Nếu như Anh Phước vô tội thì tội nầy phải
là của Ông Lộc, bởi vì số vàng bạc nầy là
của Ông Lộc do tôi lén lấy trộm đem về giúp
Anh Phước, nhưng Anh Phước cho là của gian nên
không nhận, tôi đành đem trả lại Ông Lộc và
xin tha tội ăn trộm của tôi. Ông Lộc rất kỳ
cục, không chịu chấp thủ, đuổi tôi ra khỏi nhà,
nên tôi tức giận đem đổ xuống sông. Vậy tội
nầy là của Ông Lộc.
Diêm Vương lại cho Quỉ sứ đi bắt hồn của
Ông Lộc xuống tra hỏi.
Ông Lộc biện bạch rằng :
- Số vàng bạc nầy của tôi bị mất đã đành,
nhưng Ông Thọ đã lấy đem ra khỏi nhà tôi mà
tôi không hay biết, thế là của đó không còn
là của tôi nữa, nên dầu cho Ông Thọ có năn
nỉ trả lại, tôi nhứt định không chịu nhận. Kể
ra của đó cũng bất nghĩa, tôi đành chịu ngu dại
chớ không nhận lại của đó. Nhận lại hay không
là quyền chọn lựa của tôi, tôi đâu có phạm
tội gì.
Diêm
Vương thẩm án, xét thấy 3 Ông Phước, Lộc. Thọ
đều là người có nghĩa khí. Phước và Lộc đều trong
sạch. Thọ có tội ăn trộm nhưng biết giác ngộ
và làm việc phải, giúp người nghèo khó. Vậy cả
3 người nầy đều vô tội, chỉ có tên cờ bạc gian
tham lặn mò cho đến đổi chết đuối là đáng kiếp,
không thể khiếu nại gì được nữa.
Diêm
Vương phán rồi, liền sai Quỉ sứ dẫn hồn tên cờ
bạc chết oan đem giam vào Địa ngục hành hình và
truyền đưa 3 hồn Phước, Lộc, Thọ trở về dương gian
nhập xác. Khi 3 hồn về tới dương gian thì 3 xác
của 3 Ông đã được thân nhân mai táng, sình thúi
hư hỏng hết rồi, vì vụ thưa kiện nầy lòng vòng
mất nhiều ngày giờ. Do đó, 3 Chơn hồn được đưa
trở lại Địa phủ.
Diêm Vương làm tờ sớ trình bày tỉ mỉ sự việc,
dâng lên Thiên Tào phán định. Thượng Đế xem xong,
phán rằng :
- Phước nghèo, đông con,
giữ được lòng thanh bạch. Thọ thì độc thân, không
tham, có nghĩa, nhân từ. Lộc thì có lòng độ
lượng.
Cho
nên, Phước Lộc Thọ là 3 tánh đức của Trời, Đất,
Người. Người mà có được 3 đức ấy để hưởng là
một phúc hạnh lớn. Nay phong cho 3 vị làm Tam Thiên
Quân, và truyền cho thế gian tôn thờ 3 Đấng Thiên
Quân nầy để làm gương. Đạo Nho lấy sự tích Phước-Lộc-Thọ
nầy làm biểu tượng thờ Cửu Huyền Thất Tổ, thể
sánh Tổ Phụ Ông Bà thuở xưa cũng đã từng hưởng
được 3 đức ấy. Đức Phạm Hộ Pháp cho lập tại Hậu
Điện Báo Ân Từ và nơi Khách Đình , thờ 3 chữ PHƯỚC-LỘC-THỌ
bằng chữ Nho đại tự, để làm Bàn thờ Ông Bà chung.
Trong truyện Tây Du Ký có chép chuyện Tôn Hành
Giả đi ra Đảo Bồng Lai gặp 3 Ông Phước, Lộc, Thọ,
gọi là Thọ Tinh, Phước Tinh, Lộc Tinh. Chuyện ấy
tóm tắt như sau :
" Sau khi Tôn Hành Giả nổi giận quật
ngã cây Nhơn Sâm của Trấn Nguyên Đại Tiên ở Ngũ
Trang Quán núi Vạn Thọ, bị Trấn Nguyên Đại Tiên
dùng phép Tiên bắt hết 4 Thầy trò Tam Tạng để
bắt đền cây Nhơn Sâm. Tôn Hành Giả hứa đi tìm
thuốc cứu cây Nhơn Sâm ấy cho sống lại, hẹn trong
3 ngày trở lại, để Tam Tạng, Trư Bát Giới cùng
với Sa Tăng ở lại làm tin.
Tôn Hành Giả thót lên mây, cân đẩu vân
thẳng đến Đông Dương Đại Hải, tới nơi, Hành Giả
đi thẳng đến Đảo Bồng Lai, thấy ngoài cửa Động
Bạch Vân, dưới bóng tùng, có 3 ông già đang ngồi
đánh cờ. Người ngồi xem là Thọ Tinh, còn 2 người
đang đánh cờ là Lộc Tinh và Phước Tinh. Hành Giả
bước tới chào hỏi :
- Kính chào 3 Ông Em.
Ba người bỏ ván cờ, đồng hỏi :
- Đại Thánh có việc chi tới đây ?
- Chẳng giấu gì các Ngài, Lão Tôn nhận bảo
hộ Đường tăng đi Tây phương thỉnh kinh, giữa đường
gặp một chút trở ngại, có tí việc muốn nhờ
đến các Ngài giúp đây.
Phước Tinh hỏi :
- Trở ngại gì, Đại Thánh nói ra để chúng
tôi còn liệu.
- Trở ngại ở Ngũ Trang Quán, núi Vạn Thọ.
Ba vị Phước, Lộc, Thọ kinh ngạc hỏi :
- Quán Ngũ Trang là Cung Tiên của Trấn Nguyên
Đại Tiên. Chắc Đại Thánh vào đấy ăn trộm quả
nhơn sâm của ông ấy chớ gì ?
- Ăn trộm thì đáng là bao,
Lão Tôn đã quật nó ngã chổng gọng chết rồi.
Lão ấy bắt đền. Ta hứa đi tìm thuốc chữa cho
cây Nhơn sâm ấy sống lại. Nó bắt Thầy ta ở
lại làm tin, hẹn trong 3 ngày phải có thuốc.
Ba Ngài có phương thuốc nào chữa cho cây Nhơn
sâm ấy sống lại không ? Ba Ông Phước, Lộc,
Thọ buồn rầu đáp :
- Con khỉ nầy chẳng biết
gì hết. Trấn Nguyên Đại Tiên là Ông Tổ của
dòng Địa Tiên. Chúng tôi đây thuộc dòng Thần
Tiên, nhưng vẫn thuộc Thái Ất tán số, chưa phải
là dòng Chân truyền, nên thoát khỏi tay người
ta làm sao được. Tưởng như Đại Thánh giết chết
loài thú chạy chim bay thì dùng Viên đơn lúa mạch
của chúng tôi đây là có thể cứu sống được.
Đằng nầy cây Nhơn sâm là giống cây Tiên, thì
cứu làm sao được. Không có thuốc đâu ! Tôn
Hành Giả nghe nói không có thuốc thì châu mày
trợn mắt. Phước Tinh nói:
- Đại Thánh ạ ! Ở đây chúng tôi không có
thuốc thật mà. Biết đâu nơi khác có thì sao,
hơi đâu mà buồn phiền.
- Dù đi khắp chơn trời góc
biển, việc đó có khó gì đối với Lão Tôn, ngặt
Sư phụ của Lão Tôn phép nghiêm lượng hẹp, hạn
cho có 3 ngày. Quá hạn 3 ngày không về thì ổng
niệm Chú Cẩn Cô khổ lắm.
- Đúng ! Đúng ! Không có
phép ấy để trói buộc Đại Thánh thì Đại Thánh
lại chọc trời mất ! Thọ Tinh nói :
- Đại Thánh yên tâm, chớ phiền não. Vị Đại
Tiên ấy, tuy là bậc trên của chúng tôi, nhưng
cũng là chỗ quen biết. Để 3 chúng tôi đến đó
thăm Ngài và nói giùm cho Đại Thánh, bảo Đường
Tăng đừng đọc Chú Cẩn Cô, đợi khi nào Đại Thánh
mang thuốc về, chúng tôi mới từ biệt. Đại Thánh
an lòng lo đi tìm thuốc.
- Cám ơn 3 Ngài. Lão Tôn xin 3 Ngài đi ngay
cho."
(
Sau đó Hành Giả đến cầu được Đức Quan Âm Bồ Tát,
dùng nước Cam Lồ trong Tịnh bình, cứu sống được
cây Nhơn sâm. Trấn Nguyên Đại Tiên mới vui lòng
để cho 4 Thầy trò Đường Tăng lên đường thỉnh kinh).
|