CHƠN LÝ CON NGƯỜI

 

theo nhân-sinh-quan của

Đại Đạo Tam Kỳ  Phổ Độ.

      

Con người thường băn-khoăn đến vấn-đề nguồn-gốc, thân-phận của mình, những câu hỏi như :

-          Con người là ai ?

-          Đến cỏi trần làm gì ?

-          Thác rồi về đâu ?

-          Tại sao trong kiếp-sanh lại tiếp-xúc với bao nhiêu nan-đề như đấu-tranh, hận-thù, hạnh-phúc, đau-khổ.

Tất cả những vấn-đề này thuộc phạm-trù nhân-sinh triết-học, khó có thể dùng ngôn-ngữ hửu-hạn của con-người để giải-thích một cách thoả-đáng cho mọi người, ở nhiều trình-độ để họ có thể hiểu tường-tận và chấp-nhận được. Nên mỗi triết-gia, mỗi trường-phái, mỗi tôn-giáo, điều có những lý-giải khác nhau, để thích-hợp với nhiều trình-độ con ngườiø ở những thời-điểm khác nhau, có khi còn mâu-thuẩn với nhau nữa. Với tiểu luận này, căn cứ theo Nhân-sinh-quan của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, sẽ cho chúng ta một nhận-đinh khái-quát về Chân-lý con người theo các tiết-đoạn sau đây.

 

BẢN NGUYÊN CON NGƯỜI THEO QUAN NIỆM CỦA CAO ĐÀI GIÁO

 

Theo tín-ngưỡng của Cao-đài giáo tin rằng Thượng Đế đã tạo dựng nên con người có cả tâm-linh lẫn thể-chất theo khuôn mẫu của Ngài. Vì trong kinh Thiên-đạo có câu :

"Đại Từ-phụ từ-bi tạo-hóa,

Tượng mảnh thân giống cả càn-khôn.

Vẹn toàn đủ xác đủ hồn,

Xoay cơ chuyển thế bảo tồn vạn linh .

 (Kinh Tắm-thánh/Giòng 5-8)

Theo đức tin này thì thưở ban đầu Đức Chí Tôn đã tạo dựng nên càn-khôn thế-giới và vạn-hửu chúng sanh, Ngài ban cho mỗi loài, mỗi vật đều có hai phần, một phần hửu-hình đó là thể xác, một phần vô-hình đó là linh-hồn, hai phần này nương nhau mà sinh-hóa tồn tại .

 

Về sự tạo-dựng hình-thể muôn loài cũng như con người. Đức Chí Tôn không cho biết cụ-thể như trong Thánh-kinh Cựu-ước của đời thượng-cổ, là lấy đất tạo ra người nam, hà hơi vào là có sự-sống, và lấy xương sườn người nam để tạo nên người nữ và cho sống với nhau, để sinh-hóa ra loài người ngày nay, đây là cách giáo-hoá cho con người thời kỳ bán khai, với ngụ ý là thể xác con người từ đất sinh ra, và Đức Chúa Trời hà hơi có nghĩa là Ngài chiếc chơn-linh của Ngài để ban cho con người cái linh-hồn tức là sự sống (theo quan-niệm của Cao-đài-giáo). Còn ngày nay có lẽ lối giải thích ngụ-ý này không còn phù-hợp với sự tiến hóa của con người. Nên trong Tam-kỳ Phổ-độ Đức Chí Tôn đã cho chúng ta biết một cách tổng-quát rằng: Ngài là ngôi Thái-cực, Ngài đã dùng quyền phép phân ra lưỡng-nghi, đó là âm và dương rồi âm dương giao-hòa mà sinh ra càn-khôn vũ-trụ và vạn-hửu chúng sanh, nên trong hiện-tại, tất cả sự vật đều có mang hai phần âm và dương, từ mỗi nguyên-tử li ti trong cơ-cấu vật chất, đến các tinh-cầu trong không gian, đều hiện-hửu của hai lực-lượng này, nên trong kinh Thế Đạo có nói:

"Cơ sanh-hóa càn- khôn đào-tạo,

Do âm-dương hiệp đạo biến thiên”.

 (Kinh Hôn Phối/Giòng 1-2)

Theo Thánh giáo Đức Chí Tôn cho biết tuần-tự trong sự tạo ra hiện-tượng-giới như sau:

 

"Thầy phân Thái-cực ra lưỡng-nghi, lưỡng-nghi sinh ra tứ-tượng. Tứ-tượng biến Bác-quái, Bác-quái biến hóa vô cùng, mới lập ra càn-khôn thế-giới...(THNT/Q2/tr6)

 

Về sự tạo-dựng ra cơ-cấu hửu-hình Đức Chí Tôn còn cho biết thêm trong thuyết Nhứt vị Tam thể: Phật, Pháp, Tăng như sau:

"Thầy là chư Phật, chư Phật là Thầy.

"Thầy khai Bát-quái mà tác thành Càn-khôn thế-giới nên gọi là Pháp.

"Pháp có, mới sanh ra Càn-khôn vạn-vật, rồi mới có người nên gọi là Tăng.

"Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các Đạo mà phục-hồi các Con hiệp một cùng Thầy .(TNHT/QI/trang 48).

Đó là tất cả những gì Đức Chí Tôn cho con người của thời-đại ngày nay biết về phương-thức và tuần-tự của sự tạo-dựng nên cơ-cấu hửu-hình, và tất cả sinh-vật ở buổi ban-sơ, trong đó có con người; còn sự sanh-hóa từ đó đến nay, thì như chúng ta thấy đều do âm-dương, nam-nữ, trống-mái phối-hợp mà sanh sanh hóa hóa cho đến vô-cùng. Sự sanh-hóa này đã được Đức Chí Tôn trù định từ buổi ban-sơ, đó là Ngài đã ban cho mỗi loài một mầm sống nguyên-thủy khác nhau,  mà ngày nay khoa-học gọi là yếu-tố di-truyền, chứa đựng trong mỗi tế-bào, từ sinh-vật nhỏ như con kiến, đến sinh-vật to lớn như cá voi, đều chịu sự chi-phối của yếu tố nầy, nhờ yếu-tố nầy mà một con kiến sẽ sinh con kiến, chứ con kiến không thể sinh ra con cá voi, hầu hết các sinh vật biết cựa-quậy, bò-lết, bay-liệng, bơi-lội, leo-trèo, chạy-nhảy, giống nào sẽ sinh ra giống ấy, do đó chúng ta tin rằng Thượng Đế đã tạo dựng nên con người hoàn-hảo, đầu đội trời chân đạp đất ngay từ ban đầu, chứ không thể có một con vượn dã thú đi bốn chân mà là thủy tổ của loài người được.

 

            Còn về phương-diện tinh-thần là sự sống ngự-trị trong mọi sinh-vật, là một điểm linh-quang của Đức Chí Tôn ban cho, để giữ gìn sinh-mạng; còn gọi là "sự phân-tánh giáng-sanh của Thượng Đế“. Sự phân-tánh nầy có ở cả vật-chất, thảo-mộc và các sinh-vật hạ-đẳng nũa, nên Đức Chí Tôn đã nói rằng;  

 

“...Thầy phân-tánh Thầy ra vạn-vật là vật-chất, thảo-mộc, côn-trùng gọi là chúng-sanh...(TNHT/Q2tr.62)

        Về sự hình-thành nhân-loại được Đức Chí Tôn cho biết như sau:

 

"...Một chơn-thần Thầy mà sanh hóa ra chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và cả nhơn loại trong Càn-khôn thế-giới...“ (TNHT/Q1/tr 48).

 

Như vậy nhân-loại không chỉ có ở địa-cầu chúng ta, mà còn hiện-hửu ở nhiều địa-cầu khác. Đây là môt điều mang tính sáng-tạo mới-mẻ mà Đức Chí Tôn đã hé mở cho loài người biết từ khi mới khai đạo cách đây hơn nửa thế-kỷ. Đức Chí Tôn còn cho biết rằng trong vũ-trụ có 72 địa-cầu, địa-cầu chúng ta ở là địa cầu 68, và giá-trị nhân-phẩm và trình-độ tấn-hóa của con người ở mỗi địa cầu khác nhau:

 

“ Đứng bực Đế-vương ở địa-cầu nầy chưa đáùng vào bực chót của địa-cầu 67. Cái quý trọng của mỗi địa-cầu tăng thêm hoài cho tới đệ nhứt cầu...” (TNHT/Q1/tr.68).

 

Sự-kiện này cũng phù-hợp với những điều mà gần đây các nhà khoa-học đã căn-cứ vào những hiện-tượng UFO (những vật thể bay không xác-định) xuất hiện ở nhiều nơi trên thế-giới, mà họ đã phỏng đoàn rằng rất có thể có những nền văn-minh cao-cấp ở các hành-tinh khác đến thăm dò chúng ta. Theo Thánh-giáo của Đức Chí-Tôn, chúng ta có thể suy ra rằng trình-độ tấn-hóa của chúng ta còn quá ấu-trỉ. Vì nghiên-cứu khoa học đã cho biết óc người chỉ mới khai thác được 10%, trường-hợp đặc-biệt như Einstein cũng chưa đến 30%, thế thì trên trường tiến-hóa đến một lúc nào đó con người sẽ khai thác nốt 90% còn lại, chừng đó chúng ta sẽ tiến kịp con người ở các hành-tinh khác.Vì Thượng Đế tạo ra con người không bao giờ ban cho ta cái gì dư thừa và vô-dụng cả.

 

Như vậy con người có nguồn gốc từ Đức Chí Tôn, nên đã mang những nét linh-diệu, sáng-suốt, linh-hồn cũng vẫn trường-tồn như Ngài; còn những sinh-vật hạ-đẵng, tùy theo căn-cơ và sự tấn-hoá nhanh hay chậm, mà có những bản-năng kỳ-diệu khác nhau; tỷ như một bóng điện sáng ít hay là nhiều tùy theo công-suất của nó, nói một cách khác là chúng-sanh ví như những tia lửa lớn nhỏ khác nhau, còn Đức Chí Tôn là một ngọn đuốc, tuy cả hai đồng phẩm chứ không đồng lượng. Ta có thể nói từ Đức Chí Tôn đến con người là một mạch sống nối liền, sự hoàn-thiện của Đức Chí Tôn , có sẳn trong chúng-sanh, do đó chúng-sanh luôn được sống, hoạt-động và tồn-tại trong Ngài.

 

Theo học-thuyết linh-hồn tấn-hóa cuả Cao-đài-giáo, thì Đức Chí Tôn đã ban cho vạn-vật tám loại linh-hồn, đó là vật-chất kim-thạch hồn, thảo-mộc hồn, thú-cầm hồn, nhân-loại hồn, thần hồn, thánh hồn, tiên hồn, phật hồn, tám loại chơn-hồn này đầu kiếp vào thể xác tương-ứng để tiến-hóa, nên Phật-Mẫu chơn kinh có câu:

"Càn-khôn sản xuất hửu hình ,

" Bát hồn vận chuyển hóa thành chúng-sanh.

 (Phật-Mẩu Chơn-kinh/giòng 7-8)

Mỗi loại chơn-hồn mang xác thân tương-ứng phụng-sự lẫn nhau để tiến-hoá, như vật-chất nuôi thảo-mộc, thảo-mộc nuôi thú-cầm, thú-cầm phụng-sự nhân-loại, nhân-loai cũng phải đầu-kiếp nhiều lần để tu-luyện học-hỏi hầu đắc thần, thánh, tiên, phật. Nên chúng ta nhận thấy những loại thảo-mộc tiến-hoá cao có mang bản-chất của thú-cầm, như các loại nấm, các loại cây cỏ ăn thịt, cây mắc cở (khi va chạm đến thì nó tự lá khép lại)..., những loại nầy nó có một đời sống thảo-mộc, mà lại mang bản-chất giống như  sinh vật ; những loại thú cầm tiến-hoá cao cũng mang những bản-chất của nhân-loại, như ngựa, chó, cá heo...nó cũng có những bản-chất giống con người như thương-yêu, trung-thành; và nhân-loại tiến-hoá cao cũng mang một ít bản-chất giống thần thánh, tiên, phật. Tiến hóa theo con đường nầy gọi là hóa-nhân, còn một loại nửa gọi là nguyên-nhân, loại nầy theo chơn-truyền của Cao-đài-giáo, thì khi tạo-lập vũ-trụ rồi, Đức Chí Tôn đã cho một trăm ức nguyên-nhân xuống thế làm người để phụng sự cho cơ tấn-hóa của vạn-linh.

 

Như vậy nguồn gốc con người ở vào hai trường-hợp nầy, một là hóa-nhân do sự tiến-hóa từ vật-chất lên, hai là loại nguyên-nhân do Thượng Đế tạo-dựng từ ban đầu ; cả hai đều là chơn-linh của Đức Chí Tôn cho đầu-kiếp xuống thế-gian. Bởi vậy theo đức-tin của Cao-đài-giáo thì nguồn-gốc và thân-phận của con-người rất là quí-giá cao-trọng nên Giới tâm kinh có câu:

"Dễ gì lộn kiếp đặng làm người,

" May đặng làm người chớ dể duôi.

Vì con ngưòi  được Thượng Đế tạo dựng như vạn-vật, nhưng đặc-biệt  con người được Ngài ban cho tính-chất linh-thông hơn hết, nên Giới tâm kinh mới có câu:

"Đấng Tạo-hóa hóa sanh muôn vật

Phú cho người tính chất linh thông”

Con người là một tạo vật được Đức Chí Tôn sinh-thành và được Ngài yêu quý vô cùng, nên Thánh-giáo Đức Chí Tôn đã nói rằng:

 

"...Trong trời đất nhân sanh là con quý của Thầy, nên Thầy hằng lo lường cho các con..." (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển / quyển 2 / tr .29)

 

" Một điểm linh quang là một hồn người, là vật tối linh của Thầy “(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển /quyển1/tr.10)

 

Như thế nói về Thân-xác thì con người là một tiểu vũ-trụ, về Linh-hồn được Thiên-phú linh-thông hơn vạn-vật, do đó con ngưòi và động-vật dù là khỉ vượn tuy hơi giống như con người, nhưng nhất định không thể coi như nhau được.

 

GIÁ-TRỊ NHÂN-PHẨM THEO QUAN-NIỆM CỦA CAO-ĐÀI-GIÁO

 

               Nhân sinh quan của Cao đài giáo cho rằng con người đã trải qua một quá trình luân hồi chuyển kiếp lâu dài mới đến được địa-vị nhân-phẩm, và phải có cả một hiện-tại và tương-lai tu-hành để thăng-tiến, mới được dự vào hàng Cửu phẩm Thần Tiên[1] . Điều này họ có thể phấn-đấu để đạt được tại thế-gian, ngay trong cuộc sống, chứ không cần phải đợi sang bên kia cỏi tử. Nên chúng ta có thể kết-luận con ngươi đã có một nguồn gốc và một quá khứ đáng tự hào, và tùy theo mức độ thăng tiến hay sa-đọa trên trường đời mà sẽ có một hiện tại phấn-khởi hay bi-đát, một tương-lai vinh-diệu hay đen tối, cái đó còn tùy thuộc nơi sự hoc-tập tu-luyện tinh-tấn của mỗi người. Luận về giá-trị nhân-phẩm con người theo quan-niệm của Cao-đài-giáo thì có những đặc-điểm sau đây:

 

           -  Con người là một linh hồn bất tử chứ không phải là một thân thể hửu-sanh, hửu diệt này, đời sống của nó được trải dài tại trần gian, đến bên kia cỏi tử; còn gọi là cỏi Thiêng Liêng hằng sống. Nên con người trường-tồn, chứ không chỉ giới hạn trong một kiếp sanh ngắn ngủi, từ chiếc nôi đến nấm mồ là hết.

 

          -  Con người được Thượng Đế tạo dựng, có hai phần: thể-xác và linh-hồn, thể-xác tuy có sanh diệt, nhưng linh-hồn thì trường-tồn. Linh-hồn là một siêu thực-thể được Thượng Đếphú-bẩm để chỉ huy thân xác, khi hồn lìa khỏi xác thì dù cho thân xác có hoàn-hảo bao nhiêu cũng vẫn bị thối-rửa. Chứ không phải thể xác sinh ra linh-hồn như các nhà khoa-học vật-lý đã nhận-định, thậm-chí linh-hồn có quyền quyết-định hủy hoại thể-xác, như trường-hợp những người tự-tử vì chán đời, hoặc những người quyết-định tuẩn-tiết để bảo-toàn phẩm-giá cho con người khi họ bị xúc-phạm. Như vậy chứng tỏ rằng linh-hồn luôn ở vị thế chủ-tể chỉ-huy thân xác.  

 

- Con người có một quyền tự-do vô-biên, để tự định đoạt lấy số phận của mình, nên dù cho trong kiếp sanh hiện tại có bất hạnh đến đâu, cũng cần phải vui-vẻ đón nhận một cách hiểu biết, vì đó là do nhân-quả của chính mình đã tự chiêu-cảm từ bao kiếp trước. Trong hiện-tại chỉ có cách cải-thiện là nên cố gắng vươn lên để lập công bồi đức,  hầu tự hóa-giải bớt oan-khiên nghiệp chướng, và gieo nhân lành, để hưởng phước-ấm ngay trong kiếp này và cho cả kiếp lai sinh. Trong lĩnh-vực này Thượng Đế ban cho con người có được quyền độc-lập hoàn toàn với Thượng Đếá, con người hoàn-toàn có quyền tự chủ dìu-dắt thiên-lương của mình nên trong Kinh Thiên-đạo có câu :

“ Dù cho phải mực Thiên-diều,

Cũng quyền tự-chủ dắt-dìu Thiên-lương.

 (Kinh Giải Oan).

Ngài để cho con người tự-lập để định-đoạt lấy số-phận của chính mình. Vì Thượng Đế là Đấng công-bình không bao giờ thưởng phạt một cách vô cớ cả, điều nầy Ngài đã xác nhận rõ-ràng rằng:

 

“Thầy đã nói cho các con hay trước rằng : nếu các con không tự lập ở cỏi thế nầy, là cái đời tạm của các con, thì Thầy cũng không bồng ẳm các con mà đở lên cho đặng. - ấy vậy vấn-đề tự-lập là vấn-đề các con phải lo đó -...” (TNHT/Q1/tr.98).

 

Thượng Đế cũng vì thương-yêu chúng-sanh đã cố tìm hết cách, lựa lèo lựa thế để cứu-rổi, nên Ngài đã cho biết rõ mọi ngọn-ngành như sau:

“ Lựa lèo, lựa thế độ nhơn-sanh,

Khó dễ Thầy cho hiểu ngọn ngành.

Ám-muội thì nhiều mưu-trí ít,

Đường Tiên chẳng bước, đoạ thì đành.”

 (TNHT/Q1/ tr.108)

Nhưng đa số con ngưòi vẫn chưa chịu tỉnh-ngộ, nên theo luật công-bình thiêng-liêng thì chúng-sanh phải đành chịu sự sa-đoạ lấy. Bởi vì:

“ Luật điều Cổ Phật không chừa tội,

Hình-phạt Chí-Tôn chẳng vị tình

(TNHT/Q2/ tr.4)

Dưới trần-gian có sự công-bình tuyệt-đối, tuy trong cuộc sống có sự chênh lệch giữa sang hèn, hoàn-hảo và tật-nguyền, đó là  do nhân-quả của mổi người, nhưng trong quan-hệ đối xử với nhau vẩn luôn luôn bình-đẳng, tôn-trọng lẩn nhau, do đó mổi người phải được tự-do sống đúng theo tánh-phận của mình, không có sự phân-biệt đối-xử, hoặc bắt buộc phải vâng theo tín-niệm của người khác một cách độc-đoán, theo kiểu kéo cổ vịt ra cho dài, thâu giò hạc cho ngắn, làm đảo điên huynh-đệ. Cho nên con người phải có bổn phận thương-yêu giúp đở  lẫn nhau, để mỗi người được tự-do tiến-hóa theo tánh-phận của mình, đúng với ba tiêu-chuẩn của Đạo là:

 

        * Bảo sanh : Tôn-trọng sinh mạng - con người không phải là một sản phẩm do con người tạo nên, hể bất toàn thì vứt bỏ như một đồ vật - mà dù do nhân-quả mỗi người, họ sinh ra có què-quặt tật-nguyền đến đâu, cũng phải được nâng niu bảo-trọng, không được ruồng bỏ.

 

        * Nhơn-nghĩa :  Con người đối xử với nhau phải lấy lòng nhơn-ái, yêu thương đùm bọc. Làm cho nhau các điều hửu-ích để cùng thăng tiến, thi thố những hành-động nghĩa-hiệp  để bênh-vực kẻ thế cô sức yếu, lở bước sa cơ, nâng đở kẻ bị tai-ương thống-khổ.

 

          * Đại đồng : Mọi người sống với nhau trong tình huynh-đệ, có quyền bình đẵng với nhau , không bị phân-biệt đối-xử và không đấu-tranh tàn-hại lẩn nhau, mà phải biết dung-hoà để cùng sống chung với nhau trong hoà-bình.

 

-   Cỏi trần là một trường học, con người sanh ra trên thế-gian, là những học-sinh, sinh-viên đang theo học, lần bước trên trường tấn-hoá, nên tuỳ theo kết-quả thu đạt, màẵ con ngưới có những trình độ khác nhau. Nên ngay tại cỏi trần, con người được ở trên một địa-vị nào đó trong xã hội, ngay cái thân phận của con người tốt hay là xấu là tự do mình tạo ra cả. Vì trong vũ-trụ có luật-pháp rất công-bình, đặt để cho mỗi người có một vai trò nhất định, trong một thời gian nhất định, đó chính là số-phận đã an-bài theo luật nhân-quả, nên dù có cao-sang hay thấp kém, cũng phải làm tròn cái bổn-phận đó suốt trong một đời người.

 

 Đề mục học-hỏi ở trường đời đó là sự "khổ " Qua nhiều kiếp, các bài học đau khổ sẽ giúp cho con người tiến hóa, sự đau khổ rèn luyện cho ta nhiều đức tính, dần dần khi học hết các bài học tại cỏi trần, công phu luyện tập viên mãn. Đứng về mặt thể xác thì ta đã trã ơn thế gian, bồi đắp nợ mãnh hình hài, ngọn rau tất đất, đã giúp ta trong đời sống vật-chất, đứng về phương-diện linh-hồn là lúc ta đã đi hết bậc thang cuối cùng của một chơn-linh đến thế-gian, là đạt đến chỗ giác-ngộ, trọn lành và giải-thoát, trở thành một siêu-nhân, rồi tiếp-tục phụng-sự Thượng Đế, thúc-đẩy cơ tiến-hóa của vạn-linh, tức là con người đã trở nên một phần-tử trong thánh-thể Chí-Tôn, để xoay cơ chuyển thế, làm cho trần gian mỗi ngày càng thêm tươi đẹp và thánh-thiện. Khi con người đạt kết quả này lúc đó mới xứng đáng với nhận-định của Đức Chí Tôn là :

“Các con là Thầy, Thầy là các con “.

 (TNHT/Q1/tr.30).

MỤC ĐÍCH  ĐỜI NGƯỜI  &  THIÊN CHỨC CỦA CON NGƯỜI

 

      Theo đức tin của Cao-đài-giáo thì vạn-hữu chúng-sanh trong đó có con người, được Thượng Đếtạo-dựng nên hình thể, đồng thời ban cho một tánh-linh  còn gọi là linh-hồn; những linh-hồn này từ cỏi trên, phải dấn thân đến tận đáy cỏi phàm-trần là vật-chất, qua nhiều lần thay hình đổi dạng, từ trược đến thanh, từ trong tinh-hoa vật-chất, đến kim-thạch, thảo-mộc, thú-cầm, rồi đến nhơn-loại. Sự xoay chuyển nầy ngôn-ngữ của Cao-đài-giáo gọi là sự  “luân-hồi chuyển kiếp “. Cái vòng luân-chuyển nầy không phải diễn ra một cách ngẫu-nhiên, mà chúng-sanh đến thế-gian đều có mục-đích và thiên-chức do Trời ban, rõ-ràng nhất là ở con người.

 

Mục đích con người đến thế-gian

 

            Theo đức tin của Cao-Đài-giáo, con người muốn cao-thăng phẩm-vi thì bắt-buộc phải đầu-kiếp nhiều lần đến cỏi trần nương vào xác thân, lập công bồi đức, mới được thăng-tiến đến Niết-bàn, nên Thánh giáo Đức Chí- Tôn đã dạy rằng:

 

            "...Cái phẩm vị các con buộc phải tái sanh nhiều kiếp mới đến địa vị của mình nơi Niết-bàn...(TNHT/Q1/tr 68).

 

Như vậy trong vòng luân-hồi các đẳng chơn-hồn phải đầu-kiếp đến thế-gian ngàn muôn lần để tiến-hoá, từ vật-chất lên đến con người, rồi từ con người lại phải tái-sanh nhiều lần nửa để tu học hầu đạt đến ngôi vị Thần, Thánh, Tiên, Phật.  Sự luân-hồi chuyển-kiếp này có mục-đích đưa linh-hồn con người nương vào xác thân để tấn-hóa, nên trong  kinh Thiên-đạo có câu :

"Vòng xây chuyển linh hồn tấn hóa,

“Nương xác thân hiệp ngã càn khôn .

 (Kinh Giải Oan)

Tức là các đẵng chơn hồn đến thế gian mang xác thân tương-ứng để tu-luyện học-hỏi, qua mỗi kiếp sanh nhờ đó mà tấn-hóa, trở nên khôn ngoan và thánh thiện hơn, và dần dần  đạt đến mức toàn năng, hoàn thiện, để trở về hội hiệp cùng Thượng Đế, tức là nhập vào cỏi Niết-bàn, theo ngôn-ngữ của Cao-đài-giáo gọi là cỏi Thiêng-liêng hằng sống.

 

Theo quan-điểm trên, thì con người có mặt nơi cỏi trần có ba mục-đích sau đây:

 

- Giáng-sinh để cứu-thế độ nhân :

Đây là trường-hợp những chơn-linh cao-trọng có sứ-mạng giáng trần để cứu vớt nhân-loại, như Đức Thích-Ca, Lão-Tử, Khổng-Tử, Chúa Jésus và nhiều chơn-linh Thần,Thánh,Tiên, Phật khác nửa. Các Đấng này thường là các bậc nguyên-nhân được Thượng Đế tạo dựng từ khi có trời đất. Các Ngài đến thế-gian để phụng sự cho cơ tiến-hóa, lập nên các tôn-giáo, các nền nhân- sinh triết-học, để hướng-dẩn con người tiến-bộ.

 

Đến cỏi trần để học tập :

Đây là đại đa số người bình-thường, lớp người này đến thế-gian học hỏi để tiến-bộ nhất là tiến bộ về đạo-đức tinh-thần, tại cỏi trần  con người gặt hái được những thành tựu ngay trong cuộc sống, với những phẩm hạnh tốt, để có dưọc một bản-thân an-lành, một gia-đình hạnh-phúc, một xã-hội đạo-đức, một quốc-gia thịnh-trị, một thế-giới thanh-bình, đó là sự thành tựu viên mãn của con người đầu kiếp đến cỏi trần, rồi từ con người còn phải luân-hồi chuyển kiếp đến cỏi trần học hỏi nửa để tiến-hóa lên hàng Thần, Thánh, Tiên, Phật. Con người có thể chứng quả ngay tại cỏi trần, chứ không cần phải đợi sang bên kia cỏi tử.

 

- Đọa sinh đến cỏi trần để trả quả :

Các chơn-linh này có thể là nguyên-nhân, hay hóa-nhân, nhưng trong kiếp sanh nào đó, đã gây ra tội tình, không được hội-nhập vào Niết-bàn, mà phải đầu kiếp đến thế-gian để trả quả, chiụ sự đọa-đày, nếu quá nặng có thể thành quỉ-nhân. Đến khi trả xong nghiệp-quả, rồi vẩn phải tiếp-tục trở lại cỏi trần để học hỏi như trường-hợp thứ hai nêu trên cho đến khi viên-mãn.

 

Như vậy ta có thể nói nguồn-gốc con người từ cỏi trên, đến trần-gian tu-tập để đạt đến phẩm-vị thanh-cao, nên họ chỉ là những người khách, điều nầy Đức-Chí-Tôn đã dạy:

 

“ Chim về cội, nước tách nguồn từ xưa kiếp con người giữa thế, chẳng qua là khách đi đường, phận-sự muốn cho hoàn-toàn cần phải có bền-chí khổ tâm, có bền-chí mới đạt đặng phẩm-vị thanh-cao, có khổ-tâm mới rõ tuồng đời ấm lạnh...” (TNHT/Q1/tr.74).

 

Còn trường-hợp nữa dù cho là Thần, Tiên đi nữa, mà có lầm-lỗi phải đầu thai đến cỏi trần để trả quả, thì họ cũng chỉ là khách trần, trường-hợp nầy Đức Chí Tôn cũng dạy rằng:

" Cỏi trần là chi ?-

Khách trần là sao ?-

Sao gọi là khách  ?-

Trần là cỏi khổ để đọa bậc Thánh Tiên có lầm lỗi...Ấy là cảnh sầu để tra xong quả, hoặc về ngôi cũ, hoặc trả không xong quả, phải mất chơn-linh mà luân hồi, nên kẻ bị đọa trần gọi là khách trần  ( TNHT/QII/Trang 3 ).

 

Tóm lại mục-đích của con người có mặt trên thế-gian họ chỉ như là người khách, một là để cứu-thế độ-nhân, hai là học-hỏi để thăng-tiến, nếu hai trường-hợp này không thực-hiện tốt, mà lại sa-ngã  gây thêm nghiệp-chướng tội-tình, thì sẽ nằm vào trường-hợp thứ ba gọi là đoạ-trần tức là đến thế-gian để trả quả.

     

Thiên-chức con người

 

Con người đến thế gian là những khách trần, lần bước trên đường đạo để tiến hóa, đó là cái thiên-chức của Trời ban cho mỗi người. Đức Chí Tôn đã nói rằng:

 

"Sanh ra phận làm người, đã mang cho mình một trách nhiệm đặc-biệt, phải gắng sức làm cho hoàn toàn, hầu chờ buổi chung quy, tương công chiết tội, tiêu quả tiền khiên mà nâng mình vào địa vị cao thượng hơn phẩm vô vị chốn sông mê nầy”. (TNHT/Q2/tr.22).

 

Ngay tại trần gian con người được đặt trên một địa vị nào đó trong xã hội, cũng đều do luật công-bình, tùy theo quá-trình tiến-hóa của họ. Ngay thân phận mỗi người tốt hay xấu, là do tự mình tạo ra, vì trong vũ-trụ có luật-pháp rất công-bình, nó bắt mỗi linh-hồn phải mang theo khối tiền-khiên nghiệp-chướng của mình đã tạo ra từ bao kiếp trước, như một bản án gọi là đinh-mệnh, luật công-bình đó an-bài cho mỗi chơn-linh một nơi đầu-kiếp tương xứng theo tác-động của luật nhân-quả, để có một chơn-thần khí-chất được cấu-tạo từ căn-bản cho cả ba phương-diện hình thể, tinh-cảm và trí-tuệ, xấu hoặc tốt ngay từ trong bào-thai. Những ưu khuyết-điểm nầy sẽ tạo nên bản-chất của đứa trẻ từ khi mới lọt lòng mẹ, cho đến khi khôn lớn nên người. Nếu từ nhỏ được cha mẹ uốn-nắn và lớn lên con người biết cố-công gắng-sức tu học lánh dữ làm lành để biến-cải định-mệnh, làm tròn cái thiên-chức của một đời người, thì người đó  sẽ có dịp đón nhận một thiên-chức cao hơn trong kiếp lai sinh. Điều nầy  Đức Chí Tôn đã dạy rằng:

 

“Mỗi bậc phẩm đều đặng một vai tuồng của Đấng cầm quyền thế giới ban cho, dầu thanh cao, dầu hèn hạ, cũng phải gắng làm cho rồi trách nhiệm, hầu buổi chung cuộc, hồn lìa cỏi trần đặng đến nơi khởi hành mà phục hồi công cán...” (TNHT/Q1/tr 74).

Trên con đường tiến-hóa, con người được Thượng Đế ban cho Thiên-tánh, đó là một bản-chất rất thiêng-liêng mầu nhiệm ẩn-tàng nơi mình, nếu con người đừng để vô-minh che lấp, và tu-học một cách tinh-tấn để phát-triển nó thì cũng sẽ đắc đạo tại thế, rồi có thể đem thành công đó phụng-sự cho Thượng Đế, giúp cho cơ tiến-hóa của toàn thể sanh chúng, vấn-đề nầy chơn linh Đoàn Thị Điểm đã giáng cơ dạy rằng:

"Xác tại thế đã nên thần,

Ba mươi sáu cỏi đặng gần linh thiêng.

Hiệp Tạo hóa cầm quyền chuyển thế.

Dạy vạn linh dụng kế từ-bi

Sanh ấy ký, tử ấy qui

Diệu-huyền cơ Tạo có gì gọi hơn”

 (Trích Nử Trung Tùng Phận)

Đây là những lãnh-vực nằm trong phạm-trù nhân-sinh triết học của Cao-đài giáo, nên đối với tất-cả vấn-đề tu-thân, tề-gia, trị-quốc, bình thiên-hạ, tức là Ta đối với Ta, Ta đối với Gia-đình, đối với Tổ-quốc và đối với Xã-hội loài người, cũng đều lấy đó làm kim chỉ nam, để tạo một cuộc sống an-lành thăng-tiến cho bản thân, hạnh-phúc cho gia-đình, phồn-vinh cho tổ-quốc và đại-đồng cho nhân-loại.

 

         Chân-lý của đời người là như vậy, nhưng nhiều người lại không chịu tìm hiểu, mà cố tìm lối mòn đường tắt để mưu cầu hạnh-phúc riêng cho mình, nhưng khốn nỗi không có con đường tắt nào mà lại không qua quá-trình tu-luyện theo tuần- tự để đạt được sự chánh-tâm, thành-ý, tu-thân, tề-gia, trị-quốc, bình thiên-hạ mà kiến tạo được một thứ hạnh-phúc chân-thật bao giờ. Lắm kẻ thì cố cầu Trời khẩn Phật để được ban ơn, nhiều người thì bon-chen danh-lợi để được vinh-hoa phú-quý, chức-trọng quyền-cao, kẻ gian-hùng  có thực-lực hơn thì gây ra chiến-tranh chà-đạp lên tự-do của dân-tộc khác, những sự- kiện này đã tạo cho thế-gian một thảm-hoạ :

“Mạnh hiếp yếu lấy gan hung bạo,

Dữ lấn hiền gươm giáo là hơn.

Nhẫn lo chác oán cưu hờn,

Hại nhau nào thiết nghĩa nhơn thế nào”.

 (Nữ Trung Tùng Phận)

Sự-kiện này chính họ đã tự đem minh vào nghiệt-cảnh đài mà họ không hề hay biết, điều này chơn-linh Đoàn-thị-Điểm đã giáng cơ cho thấy hậu-quả những hành-động đó như sau:

“ Đường hung-ác nẻo chông gai

Lần chen vào chốn nghiệt đài gọi ngoan”.

 (Nữ Trung Tùng Phận)

Trong khi họ cố sức lo cho mình được trọng chức cao quyền, đồng-thời họ cũng tự tạo thêm sự trầm-luân cho chính họ, nên Đức Lý Giáo-Tông đã giáng cơ cho biết rằng:

“Nhẫn lo trọng tước cao quyền,

Đem thân trần-cấu gieo miền trầm-luân”.

 (Trích Ngụ đời)

Vì vô-minh tự đem thân minh trầm-luân nơi khổ-hải, len lỏi vào chốn nghiệt-cảnh-đài, mà họ lại tự cho mình là khôn-ngoan, lanh-lợi hơn người, nhưng hành-tàng của họ không thể nào qua lọt được lưới Trời, điều nầy Đức Chí Tôn cũng dã cảnh-giác bằng bốn câu Thánh-thi sau đây:

“ Cho hay Trời Phật rất công-bình,

Trước mắt ngờ-ngờ thấy phép linh.

Huyền-diệu mũi kim qua chẳng lọt,

Đừng đừng xảo-mỵ gọi tài-tình.

 (TNHT/Q1/ tr.116)

Những người cố ý đi theo lối mòn, đường tắt đầy chông gai nêu trên, thay vì tìm hạnh-phúc cho họ, ngược lại họ gây ra khổ đau không những cho chính họ mà cho cả gia-đình, xã-hội và chúng sanh nửa, đến khi họ sực tỉnh thì đã mãn một kiếp người, hơn thế họ lại còn tạo thêm nghiệp-quả cho vô số kiếp lai sinh của họ. Nên ta thường thấy những người mới sanh ra, dường như vô cớ, họ đã chịu sự bầy toàn khổ-hạnh, là nằm trong những trường-hơp nầy, rồi vì vô-minh không nhận biết tội-tình của minh đã gây ra, lại đổ lỗi cho Trời Đất bất công. Trưòng-hợp này Đức Chí Tôn cũng đã dạy rằng:

“ Nên hư cuộc thế gẫm thường tình,

 Đừng mỗi muôn điều đổ Chí-linh,

 Lành dữ nơi mình chiêu phước họa,

 Thành tâm ắt thấy hết thần minh.”

 (TNHT/Q1/trang114)

Để tránh sự đau-khổ Đức Chí Tôn cũng khẳng-định là chỉ có cách noi theo đường Đạo để hối-cải tu-thân mà thôi:

“ Họa phước vô môn chỉ tại người,

Thỉnh mời rồi đổ bởi nơi Trời.

Huệ-ân muốn hưởng noi đường Đạo,

Hối cải tu-thân phải giữ lời,

(TNHT/Q2/trang 136) 

Cho nên muốn hóa-giải được oan-khiên nghiệp chướng, hưởng được nhiều ân-huệ, thì phải đi theo con đường Đạo để ăn-năn sám-hối, trau tâm luyện tánh, lập công bồi đức, mới hoán-cải được định-mệnh của mình, hầu tim cho mình một cuộc sống hạnh-phúc thật sự.

 

Dã Trung Tử


 


[1]   Cửu phẩm thần tiên : Cửu-phẩm Thần-Tiên có chín bậc đó là ĐịaThần, Nhơn-thần, Thiên-Thần, Địa Thánh, Nhơn Thánh, Thiên Thánh; Địa Tiên, Nhơn Tiên, Thiên Tiên; Thiên-Tiên ngang với Phật vị, đồng phẩm cùng Đức Chí Tôn.

 

 
về trang chủ