Ðại
Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ
Toà Thánh Tây Ninh
Giảng-Ðạo
Yếu-Ngôn
Tác-giả
Nguyễn văn Kinh
Hội-Thánh giữ bản-quyền
Tái-bản năm Canh-Tuất
- 1970
Chương Thứ Mười
Chúng ta làm người
đứng trong Trời Ðất nầy, cần
nhứt phải lo cho có đạo-đức
là căn-bổn. Bỡi Ðạo là máy
sanh sanh hóa hóa cả thảy Trời Ðất,
Người vật. Trời Ðất có Ðạo
mới cao minh lâu dài đặng, nên gọi
là : " Thiên đắc dĩ thanh (1), Ðịa
đắc nhứt dĩ ninh (2) ". Người
có Ðạo thì khỏi sa đọa lẫn-lộn
vào trong trái đất, khuynh tán điêu
tàn, lại đặng siêu thăng thoát
hóa, gọi là : " Nhơn đắc đức
thành Thánh ". Sách rằng : " Hữu
đạo tất hữu đức, hữu đức
tất hữu thổ, hữu thổ tất hữu
tài, hữu tài tất hữu dụng ".
Nghĩa là : " Có đạo
mới có đức, có đức mới
có đất, có đất mới có của,
có của mới có dùng ". Nên đạo
là cơ-quan, chủ-tể của sự sanh hóa,
còn không đạo thì phải điêu
tàn tiêu diệt. Nếu người mà
không biết cơ-quan Ðạo thì phải
xung khắc nhau, giành-giựt giết lẫn nhau
mà tiêu tị. Bất luận là đời
nào, không có Ðạo thì phải suy
vi tồi tệ, chúng ta đã biết dư,
đời vô Ðạo thì phải dân
tán quốc khuynh, đời có Ðạo
thì dân an quốc thới, người mà
có Ðạo cả thảy nhơn-loại đặng
hưởng cộng-hòa. Hễ nhơn-loại
đặng cộng-hòa thì chẳng hạnh-phúc
nào hơn, nên sách cho rằng : " Thiên
thời bất như địa lợi, địa
lợi bất như nhơn hòa ", nghĩa
là : Thời trời chẳng bằng đất
lợi, đất lợi chẳng bằng người
hòa.
Vậy Ðạo là căn
bổn cơ-quan của Tạo-hóa, nếu chúng
ta lo cho nó có Ðạo thì ta lo bồi
đắp nguồn cội căn-bản lớn
hơn hết đó. Như đời lấy
cái thế lực ( là sức người
) và trí khôn ngoan ra mà không có Ðạo
thì thế lực trở lại hiếp đáp
giết hại lẫn nhau, thành ra trường
náo-nhiệt mà phải ra đời kiếp-sát
loạn-ly, nên Ðạo là căn-bản
chính của chúng ta. Phải lo cho có Ðạo
là điều cần nhứt, nên cổ-nhơn
có câu : " Ðản quan Tam-giáo, duy Ðạo
độc tôn ". Nghĩa là : " Xem coi trong
Tam-giáo thì Ðạo là trên hết
".
Chúng ta lo cho có Ðạo
là điều căn-bản vậy.
(1) Thanh là khinh thinh, (2)
Ninh là ninh tịnh lâu dài, siêu thoát
.
Chương Thứ Mười
Một
Vào Ðạo mà thờ
Thiên-Nhãn chủ ý về thờ Thần.
Thần thuộc Hỏa, Hỏa là mặt nhựt
thuộc Dương, Dương là thanh khí,
thì thanh khí là Trời, nên chúng ta
thờ một vừng ánh sáng thanh khí ấy
là thờ Trời đó vậy. Bỡi chữ
thanh một bên, chữ khí một
bên, là Thanh Thiên tức là Trời
vậy. Thờ Thiên-Nhãn chẳng phải thờ
Trời đó sao ? Nếu giải thân người,
con mắt chủ tâm, tâm là linh-quang chơn
chánh, mà người biết gìn-giữ
cái tâm, cũng nhờ kỉnh Trời. Nho
gọi là : " Tồn tâm khả dĩ sự
thiên ". Nghĩa là : " Gìn-giữ bổn
tâm đừng cho nhiễm loạn " gọi
là thờ Trời. Ðạo Gia-Tô chỉ
nơi trái tim, cũng chủ nghĩa thờ Ðức
Chúa Trời nơi trái tim. Tục gọi là
tâm tức Phật.
Bỡi Thiên-Nhãn là
Thần-quang, chủ-tể nơi Tâm của mọi
người, nên chúng ta thờ Thiên-Nhãn
là chủ nghĩa thờ Trời vậy.
Có câu Thượng-Ðế
dạy vẽ Thánh-Nhãn mà thờ như
vầy : " Nhãn thị chủ tâm, lưỡng
quang chủ tể, quang thị thần, thần thị
thiên, thiên giả ngã dã ".
Ấy Thiên-Nhãn là
Thần, Thần thiêng-liêng của Tạo-hóa.
Khi trước, Ðức
Ngũ-Tổ hỏi Lục-Tổ Huệ-Năng
: " Trời ở đâu ? ". Năng trả
lời : " Trời ở nơi tâm ta ". Thì
biết rõ, Thiên-Nhãn là bổn tâm
chơn tánh, chủ trương xác thịt
nầy, mà lâu nay chúng ta vùi lấp chẳng
biết tu-dưỡng lại, cho nên hôn mê
tán loạn, đâu biết Trời mà thờ
kỉnh.
Nay đến buổi tuần-huờn,
Trời mở Ðại-Ðạo, chúng ta mới
biết Trời mà thờ kỉnh đó là
thủ Chơn-linh, Ngươn-thần, căn-bản
của ta vậy. Nên chúng ta thờ Thiên-Nhãn,
chủ ý là kỉnh Trời, một vừng
Thần-quang ánh sáng đó là chủ-tể
sanh hóa các Chơn-linh của chúng ta vậy.
Chương Thứ Mười
Hai
Ba Trấn, nghĩa là cũng
Tam-Giáo. Như khi Nhứt-kỳ, Nhị-kỳ
các Ðấng ấy giáng trần dạy
Ðạo, kêu là Tam-Giáo. Nay Trời lấy
huyền-diệu lập Ðạo, mà chấn
hưng Tam-Giáo lại phải có ba vị,
thay thế cho Ðức Phật, Tiên, Thánh,
nên kêu là Tam-Trấn. Trấn là trấn
nhậm. Theo ý ngu tôi tưởng, đó
là Thượng-Ðế chọn lựa công-quả
chơn-thần thiêng-liêng của ba vị
đương lúc ở thế. Như Thái-Bạch
Kim-Tinh, công-bình minh chánh; Quan-Âm Bồ-Tát
tiết hạnh trinh-liệt; Quan-Thánh Ðế-Quân
trung cang nghĩa khí, đặng phần trách-nhậm
thế quyền cho đủ số Tam-Giáo. Lúc
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ nầy là dùng huyền-diệu
thiêng-liêng mà lập Ðạo, nên
phải dùng chơn-thần vô-vi theo kỳ
hội thứ ba, mà thế quyền Tam-Giáo,
nên lập ba Trấn.
Thái-Bạch Kim-Tinh thường
thủ Tiên-cơ chỉ rõ cảm ứng
rộng truyền chơn đạo, hoằng khai
chánh-giáo.
Quan-Âm Bồ-Tát chỉ
rõ hạnh tiết trinh-liệt, đại chí
từ-bi cứu độ tín-nữ.
Quan-Thánh Ðế-Quân
chỉ rõ trung-cang nghĩa khí, gìn lòng
đạo thứ, hằng đọc Xuân-Thu,
dẫn độ thiện-nam.
Ấy là ba Trấn.
Thượng-Ðế chọn
công-quả và có gương chánh kỷ,
nên thế quyền cho ba vị Giáo-chủ
: Phật, Thánh, Tiên, mà dẫn-độ
cho chúng ta noi gương ấy, kêu là ba
Trấn.
Chương Thứ Mười
Ba
Ðạo là nhứt khí
sanh nhị nghi, là số tam của Ðạo,
kêu là tam dương khai thới, Thiên Ðịa
định vị, mới có phân tam tài
là : Thiên, Ðịa, Nhơn; cũng là
số tam. Nên Trời có số tam là : Nhựt,
Nguyệt, Tinh ; Ðất có số tam là :
Thủy, Hoả, Phong ; Người có số tam
là : Tinh, Khí, Thần; thì Ðạo truyền
cho đời, cũng phải có số tam đó
mà dẫn truyền thế đạo. Ba ngôi
Giáo-Chủ là Phật, Thánh, Tiên, cũng
một cội mà sanh ba, nên khai Thiên bất
ly tam cực, thâu viên bất ly Tam-Giáo :
nhứt vi tam, tam vi nhứt. Bỡi lý ấy gọi
Tam-Giáo.
Chương Thứ Mười
Bốn
* Nhứt kỳ : - Thánh
Giáo-chủ đời Bàn-Cổ là Văn-Tuyên
Ðế-Quân.
- Phật Giáo-chủ
là Nhiên-Ðăng Cổ-Phật.
- Tiên Giáo-chủ là Thái-Thượng
Ðạo-Tổ.
* Nhị-kỳ : - Tiên
Giáo-chủ là Lão-Tử.
Chương Thứ Mười
Lăm
Khai quang phổ-độ:
- Lão-Tử lập Tiên-Ðạo
tại Trung-Huê, giáng sanh đời nhà
Thương, vua Võ-Ðinh, năm Dậu, ngày
15 tháng 2.
- Thích-Ca lập Phật-Giáo tại Ấn-Ðộ,
Tây-Thiên-Trước, giáng sanh đời
Châu, vua Chiêu Vương, năm thứ 24,
tháng tư, ngày mùng tám.
- Khổng-Phu-Tử lập Nho-giáo tại Trung-Huê,
giáng sanh đời Châu, vua Linh-Vương,
năm Kỷ-Dậu, ngày rằm, tháng chín.
Còn Gia-Tô Giáo-Chủ cũng mở Ðạo
bên Thái-Tây, đời nhà Châu.
Chương Thứ Mười
Sáu
Ðạo vẫn có một
phần dương, một phần âm, hiệp
thành kiền khôn thế-giới, thì âm-dương
chuyển vận tuần-huờn mà sanh sanh hóa
hóa, mới có đêm tối ngày sáng.
Khi Ðạo khai là phần âm cuối cùng
vừa tận, thì đến phần dương
phát khởi chuyển hóa. Ấy là thời-kỳ
phổ khai nhơn-loại đặng từ thiện
minh chánh, hung ác vạy tà điêu tàn
tiêu tị. Lúc ấy, dương thạnh
âm suy, nhơn vật tuần-huờn, đến
kỳ thoát hóa, tu tâm dưỡng tánh,
cộng hưởng thới bình. Tại nơi
cuối cùng, hết lúc Ðạo suy, đến
lúc Ðạo thạnh, do máy âm-dương
chuyển vận, phần âm cuối cùng thì
Ðạo khai, còn Ðạo bế là tại
phần dương cuối cùng muốn dứt
chuyển biến ra âm. Hết thạnh đến
suy, nhơn vật thay đổi, đến kỳ
Ðạo bế, hung ác bạo ngược gian
tham xảo trá, giao cảm ác khi gây nên
tội lỗi, chìm đắm sa đọa, nhơn
vật điêu tàn, phần dương tiêu
tị, phần âm thạnh phát. Ấy là
tại lúc âm thạnh dương suy, nên
Ðạo phải bế vậy.
Chương Thứ Mười
Bảy
Chúng ta cũng có chỗ
biết chút ít như vầy : - Là chánh-giáo
thất kỳ truyền đã lâu, đời
chưa có Ðạo nên người mới
không giữ cang thường luân-lý bỏ
phép công-bình, lo tranh cạnh hiếp đáp
lẫn nhau, làm cho phong dời tục đổi,
thì chúng ta nghĩ sau đây sẽ có
một chơn Ðạo nào chấn-hưng mà
dạy thế sửa đời cho ra thuần-phong
mỹ-tục, mới theo lẽ tuần-huờn.
Tỉ như một năm có bốn mùa, xuân,
hạ, thu, đông, mà chúng ta vẫn gặp
lúc thu đông đã lâu rồi, thì
sẽ có mùa xuân nữa, như chúng
ta ở lúc ban đêm thì cũng sẽ
có vận chuyển đến lúc ban ngày,
lẽ nào ban đêm hoài mà không ban
ngày? Hết tối thì sáng, không lẽ
tối hoài.
Vậy nên Sám-Truyền
có lưu ý rằng: " Mạt hậu, tam
kỳ Thiên khai Huỳnh-đạo ", nghĩa
là sau đây sẽ có Trời mở Ðại-Ðạo
nơi kỳ thứ ba, kêu là Ðại-Ðạo
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ.
Và sử rằng: " Lục
vạn dư niên, Thiên khai Huỳnh-đạo
", nghĩa là, đủ sáu muôn năm
lẻ, Trời sẽ mở Ðại-Ðạo
lại cùng khắp năm châu, như khi trước
vậy, và cũng nhờ có huyền-diệu
cơ-bút thông công cùng Thiêng-liêng
mà chúng ta đặng rõ biết Tam-Kỳ
Phổ-Ðộ.
Chương Thứ Mười
Tám
Lập Thiên-Bàn để
thờ Ðấng Chí-Tôn là Tạo-Hóa.
Ðấng ấy sanh hóa chúng ta, lại gầy
dựng Kiền-Khôn Thế-Giới, sanh sản
muôn vật, cho chúng ta hưởng nhờ,
thì chúng ta để thờ kỉnh Ðấng
ấy. Còn kế dưới thì thờ Ngũ-Chi
Ðại-Ðạo. Ngũ-Chi là: Phật-Ðạo,
Tiên-Ðạo, Thánh-Ðạo, Thần-Ðạo,
Nhơn-Ðạo.
Chương Thứ Mười
Chín
Thờ ngôi Chí-Tôn,
Ðấng Tạo-Hóa, thì thờ kính Ðấng
ấy trên hết.
Chương Thứ Hai Mươi
Tại chúng ta vào Ðạo
thì phải biết bổn nguyên nơi đâu
gầy dựng Càn-Khôn Thế-Giới cho đến
chúng ta, thì chúng ta phải biết gốc
ngọn thủy chung. Cái ân lớn, mà trọng
kính thờ phụng Ðấng ấy là Trời
trên hết.
Chương Thứ Hai Mươi
Mốt
Khi làm lễ Ðức
Chí-Tôn mà dâng Bông, Rượu, Trà
: Ba vật ấy chủ ý rõ ba vật báu
là Tinh, Khí, Thần trong thân-thể. Lấy
lý Ðạo tỏ dấu kỉnh bề ngoài
mà cúng cho có thể dụng : Bông thể
Tinh, Rượu thể Khí, Trà thể Thần.
Vậy lấy ba món báu của người
mà chỉ dấu kỉnh, vật có hình
mà hiến lễ, vậy nên trong Kinh Ngọc-Hoàng
Tâm-Ấn gọi là tam phẩm thượng
dược: Thần dữ Khí, Tinh là vật
quí báu phẩm trên đó. Ðạo
thơ rằng : " Thiên hữu tam bửu: Nhựt,
Nguyệt, Tinh; Ðịa hữu tam bửu: Thủy,
Hỏa, Phong; Nhơn hữu tam bửu: Tinh, Khí,
Thần ". Nghĩa là Trời có ba vật
báu là mặt Nhựt, mặt Nguyệt, và
Tinh-tú; Ðất có ba vật báu là
nước, lửa, gió. Người có ba
vật báu là Tinh, Khí, Thần. Nên chúng
ta không có vật chi là quí nữa, chỉ
có ba điều ấy quí báu, nên trạng
ra vật có hình là Bông, Rượu,
Trà dùng dâng kính hiến Thượng-Ðế.
Ðó là chủ ý kính tam-bửu vậy.
Chương Thứ Hai Mươi
Hai
Bởi Ðức Thượng-Ðế
chính mình xuống lập Ðạo, hạ
mình xưng với chúng ta bằng Thầy,
đặng dạy chúng ta và truyền bảo
chúng ta rằng: " Phải kêu bằng Thầy
", đặng dìu-dắt, dạy-dỗ chúng
ta. Ấy là xưng Thầy mà dạy trò
cho hiệp đạo, lại cũng là một
phương-pháp để làm gương
cho chúng ta nữa. Ðã đứng bực
Chí-Tôn, lại còn hạ mình xuống
xưng Thầy với các con là tỏ ý
cái hạnh khiêm-cung của Trời cho ta học
lấy. Thế thì chúng ta đây là
kẻ phàm-phu tục-tử còn phải hạ
mình khiêm-cung với kẻ dưới ra làm
sao mới hiệp đạo? Vậy chúng ta phải
noi theo gương ấy mà dìu-dắt lẫn
nhau mới có hạnh khiêm-cung là hạnh
yêu dấu của Ðấng Chí-Tôn. Bởi
lý ấy nên chúng ta mới dám kêu
Chí-Tôn bằng Thầy.
Chương Thứ Hai Mươi
Ba
Cúng lạy là cảm
cái ân-đức của Ðấng Tạo-Hóa
và các vì tiền giác. Bởi chúng
ta không biết lấy chi báo đáp, nếu
lấy lòng chúng hiệp chí thành cung
kính nơi tâm thì không thấy rõ
ảnh-hưởng hình trạng chi hết. Vậy
phải dùng cúng lạy mà tỏ dấu
kính bề ngoài cho có hình-dạng khó
nhọc cám tạ ân-đức ấy mới
vừa lòng; nên dùng hết tinh-thần
bề ngoài cúc cung tận tụy, đặng
ra vẽ kính lễ hiến. Nên có câu:
" Lễ Phật dã kỉnh Phật chi đức
" nghĩa: lạy Phật là kính đức
của Phật. Bởi vậy, buộc chúng ta
phải cúng lạy là chủ ý nầy
vậy.
Chương Thứ Hai Mươi
Bốn
Lạy chấp hai tay ấn
Tý. Tả thuộc dương, hữu thuộc
âm. Ấn Tý đó là chỉ: Thiên
khai ư Tý , Trời mở nơi đầu
hội Tý. Sách gọi: Vô danh Thiên-Ðịa
chi thỉ, là khi trước chưa có Trời
Ðất gọi là " Hư không nhứt khí
". Còn tay mặt thuộc phía âm, ắp
ngoài bàn tay trái, là âm dương
bào ắp. Khí âm ở ngoài, khí dương
ở trong, âm-dương lưỡng-hiệp
kêu Kiền-Khôn Ðịnh Vị. Còn ngón
tay mặt chỉ ngôi Dần bên tay trái,
tay âm chỉ qua dương là dấu tỏ
: Nhơn sanh ư Dần . Dương trung hữu
chơn âm, trong bàn tay dương, có ngón
phía âm ẩn trong, nên người bẩm
khí âm dương mà sanh, mới có hậu
thiên hình chất.
* Bởi Nhứt-kỳ Phổ-độ
sơ Long-Huê-Hội, Thái-Thượng
lập Ðạo dạy cách lạy hai bàn
tay chấp nắm co lại, như cái bông
búp.
* Qua Nhị-kỳ Phổ-độ nhị Long-Huê-Hội,
Thích-Ca lập Ðạo dạy cách lạy
hai bàn tay sè ra nhập sát lại một
như bông nở.
* Nay đến Tam-kỳ Long-Huê-Hội,
Ðức Chí-Tôn lập Ðạo dạy
cách lạy chấp tay ấn Tý, kiết
quả lại như trái cây có hột,
kêu là kiết quả thâu viên, độ
tận chúng sanh trở về cựu vị (
ngôi cũ ), là Hạ-Ngươn thâu viên
kiết quả, Tam-kỳ Phổ-độ, Tam-Giáo
qui nguyên phục nhứt.
Trước khi vào lạy,
đứng ngay thẳng rồi xá ba xá, chỉ
tỏ dấu thành kỉnh, tam dương khai
thới, Ðạo lập lần thứ ba cho hiệp
chơn-lý. Khi chấp tay đưa lên trán,
chỉ dấu kỉnh Thiên, xá xuống chí
gối chỉ dấu kỉnh Ðịa, đem
về để ngay ngực, chỉ dấu kỉnh
Nhơn, cũng đều gom lại Tâm mà
thành kỉnh Ðức Chí-Tôn (2). Nên
lạy cũng cho phù hợp theo ngươn hội
mới nhằm Ðạo, nên cách lạy
phải như thế vậy.
(2) Khi quì lấy dấu
niệm : Phật, Pháp, Tăng ; Phật là
Thần, Pháp là Khí, Tăng là Tinh: dấu
niệm Thần là Trời, niệm khí là
Ðất, niệm Tinh là Người, nên
bên Thánh-Giáo lấy dấu : Nhơn danh
Cha và Con, và Thánh Thần, cũng là
ba Ngôi ấy.
Chương Thứ Hai Mươi
Lăm
Trả lời : " Chẳng
phải cúng lạy nhiều mà có phước
khỏi tội đặng ". Có phước khỏi
tội là tại lòng người biết
tu hành ngay thẳng hiền lành nhơn đức,
thương người mến vật, bỏ các
điều dữ y theo luật Ðạo, làm
những điều lợi ích chung Trời Ðất
cùng Người Vật, thì là phương
có phước khỏi tội đặng; chớ
chẳng phải cúng lạy nhiều mà có
phước khỏi tội đặng!
Chương Thứ Hai Mươi
Sáu
Chẳng nên bỏ, vì
Trời, Phật, Tiên, Thánh, Thần và
tiên-linh cũng là căn nguyên nguồn
cội trong một điểm chuyển biến
sanh hóa đến chúng ta. Nay chúng ta đặng
hình chất nầy cũng do gốc đó
mà ra. Các Ðấng ấy lại để
những gương lành tốt cho đới,
và lưu kinh truyền điển dạy đời
đặng thuần-phong mỹ-tục, biết điều
lành mà làm, điều dữ mà tránh,
được siêu thăng thoát hóa, thì
chúng ta đáng ngưỡng vọng ân
ấy, nên không biết lấy chi tỏ lòng
thù tạ báo đáp, dùng việc cúng
lạy bề ngoài cho có dấu kỉnh mà
xưng tụng nhắc nhở công-đức
ấy. Ðến khi làm lễ đối kỉnh
các Ðấng ấy, thì phải lấy hết
lòng, hạ thân đảo bái, cúc cung
tận tụy, cho ra lễ thành kính tỏ
dấu bề ngoài, nên không bỏ sự
cúng lạy đặng.
Chương Thứ Hai Mươi
Bảy
Trả lời: " Chẳng
phải lớn hơn, Trời là Chúa cả
Kiền-Khôn hóa dục quần sanh, nên
bài tặng : Ðại-La Thiên-Ðế
... Nải nhựt nguyệt tinh thần chi quân,
vi Thánh, Thần, Tiên, Phật, chi chủ ",
nghĩa là: Trời làm chủ mặt nhựt,
mặt nguyệt, sao, Chúa cả của các
Ðấng Tiên, Phật, Thánh, Thần. Bởi
vậy, chư Tiên có giáng bút cho mấy
lời như vầy:
Ðạo-đức
nhà ngươi khá gắng giồi,
Nên hư tại máy cướp cơ Trời.
Trời sanh người, người sanh Tiên,
Phật,
Phải nhớ Càn-Khôn chớ khá lơi.
Bởi Trời sanh người,
người biết giác ngộ thức tỉnh
tu hành, mới thành Tiên, Phật đặng.
Nên chữ Phật phải có chữ
Nhơn người, một bên chữ Phất
mới là Phật. Có làm người
trước rồi, sau tu mới làm Phật,
nên không phải Phật mà lớn hơn
Trời đặng. Nhứt nhứt Ðạo nào
cũng lấy Ðấng Tạo-Hóa gầy dựng
ra cả, nên Phật chẳng phải lớn
hơn.
Chương Thứ Hai Mươi
Tám
Các phẩm vật để
trên Thiên-Bàn mà cúng đó là
chủ ý lấy lý đạo Tiên-Thiên
thể ra cho có hình trạng vật chất
Hậu-Thiên mà sùng bái.
* Phẩm vật nơi Thiên-Bàn
thường có một ngọn đèn chong
ở giữa, đó là Thái-Cực đăng,
nhứt điểm huệ đăng bất diệt.
Thể trên Trời là mặt Nhựt, thể
dưới đất là Lửa, thể nơi
người là Tánh, thể nơi Ðạo
là Huyền-Quang nhứt khiếu; chỉ nơi
Trời ở giữa gọi sao Thiên-Xu ( Bắc-Ðẩu
), chỉ nơi đất ở giữa gọi
là Tu-Di-Sơn, chỉ nơi người ở
giữa gọi Linh-Quang nhứt điểm.
* Bên tả để một
chén nước trắng gọi là Thái-Cang
( Tả Thanh-Long ). Bên hữu một chén nước
có trà gọi là Thái-Nhu ( Hữu Bạch-Hổ
). Trong chén nước có tám phân,
bên âm có trà, bên dương nước
trắng : Âm-Dương hiệp lại thành
Ðạo. Ðạo gọi là : " Nhị
bát hiệp thành nhứt cân chi số dã
", ( nghĩa là hai cái tám phân hiệp
làm một cân 16 lượng ). Chỉ đối
trên Trời là âm-dương, chỉ nơi
Ðất là cang-nhu, nơi người tánh-mạng.
* Khi cúng Bông, Rượu,
Trà ba vật ấy thể nơi Trời là
: Nhựt, Nguyệt, Tinh ; nơi Ðất là
: Thủy, Hỏa, Phong ; nơi người là
: Tinh, Khí, Thần. Còn lư hương thuộc
thổ, tại nơi người là tạng
tì, đốt hương cắm năm (1) đó
thể nơi Trời thuộc ngũ khí, thể
nơi Ðất thuộc ngũ hành, nơi người
thuộc ngũ tạng. Mùi thơm chủ về
khí nhẹ nhàng, khử trược lưu
thanh, khinh phù xung thấu Cửu-Trùng-Thiên,
đặng tỏ lòng thành kỉnh của
chúng ta chủ ý vậy.
(1) Ngũ phần chơn
hương là năm phần mùi thơm.
Chương Thứ Hai Mươi
Chín
Minh-thệ chủ ý để
cho người vào Ðạo buộc phải
thệ đặng thủ-tín, nhớ lời
nguyện trước Thiên-Bàn : Trời, Phật,
Tiên, Thánh, Thần và có mặt Ðạo-hữu
chứng lời thệ nguyện của người
vào Ðạo đặng người ấy
lấy hết một lòng dạ giữ thờ
chánh Ðạo mà thôi, sau chẳng dám
làm điều gì sái lời nguyện với
bề trên, nên buộc phải giữ lời
nguyện với Trời, Phật, Thánh, Thần
mới chứng chiếu, đặng chúng ta răn
lòng sửa chí hằng ngày, phải nhớ
lời nguyện mà kiềm thúc cái tâm
phàm tánh tục của người giữ
Ðạo cho cuối cùng.
Nên Phật, dĩ nguyện
vi bằng, vô nguyện bất năng thành
chánh quả (2). Nên chủ ý thệ nguyện
là vậy đó.
(2) Nghĩa là Phật
lấy lời thệ nguyện làm bằng chứng,
không lời nguyện đó không dốc
tín lập chí cho thành chánh-quả.
Chương Thứ Ba Mươi
Chủ ý về mỗi
khi lập Ðạo, phải lấy Thánh-danh
khác mà khai Ðạo cho có danh-hiệu.
Nhưng trong Thánh-hiệu
lại có lý Ðạo. Như niệm hai
chữ Nam-Mô, là tâm không tưởng
chi cả, để không cho thanh-bạch, đặng
niệm Thánh-hiệu Ðức Chí-Tôn.
Còn chữ Cao-Ðài
trong Ðạo-thơ rằng : Thượng-Ðế
viết Cao-Ðài, viết Linh-Ðài,
hai chữ Cao-Ðài chỉ phần Nho-Giáo.
Tiên-Ông chỉ về Tiên-Giáo.
Ðại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát chỉ về
Phật-Giáo. Vậy nên kêu là Ðại-Ðạo
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ Tam-Giáo Qui-Nguyên.
Nên mỗi kỳ Thượng-Ðế
lập Ðạo hay là Tiên, Phật cũng
đều mượn Thánh-danh khác, như
Trời khai Ðạo khi trước.
Hoặc xưng :
Nên lập Ðạo,
mỗi kỳ Thánh-danh đều khác, cho phù-hiệp
ngươn hội của Ðạo. Câu niệm
chủ ý là vậy.
Chương Thứ Ba Mươi
Mốt
Chủ ý Ðạo gốc
có một mà ra. Nên chúng ta học Ðạo
phải thuộc kinh nơi tâm, đặng rõ
lời yếu-lý bí-pháp của Ðạo,
cho biết mà thiệt hành phận sự,
và đọc cho ăn nhịp hiệp nhau làm
một, ấy là chỉ rõ Ðạo có
một gốc mà ra, nên kêu là " Nhứt
sanh vạn-vật, Ðạo sanh nhứt "(1).
Song khi đọc kinh dùng lòng thành-tín,
tinh-thần của nhiều người, đồng
hiệp chung liên-kết lại, gom về một
mà cầu-nguyện, khẩn-đảo mới
là qui nhứt hiệp Ðạo. Bởi lý
ấy, mỗi người thuộc kinh và đọc
cho ăn nhịp nhau mới nhằm lý Ðạo.
(1) Nghĩa là: Một
điểm Linh sanh muôn vật, thì Ðạo
sanh một điểm Linh ấy.
Chương Thứ Ba Mươi
Hai
Trai nghĩa chay lạt,
đồ trong sạch nhẹ-nhàng tinh-khiết.
Giới là điều cấm răn của
Ðạo. Trai là chay, nếu ăn chay thì
tâm tánh phải hiền lành lánh điều
tội-lỗi, giảm tánh hung-hăng, đổi
lần họa ra phước, bỏ dữ về
lành :
1- Là chẳng giết hại
loại bò bay máy cựa. 2- Là tránh nợ
oan báo, linh-hồn đặng trong sạch nhẹ-nhàng.
3- Lòng nhơn biết thương người
mến vật.
Ðó là giữ trai-giới.
Nên có câu rằng: " Phật ái chúng
sanh như mẫu ái tử ". Nghĩa là
: " Phật thương loài chúng sanh như
mẹ thương con vậy ". Và có câu
rằng " Nhứt tử trì trai thiên Phật
hỉ ", nghĩa là " Một người
ăn chay đặng thì ngàn muôn Phật
thảy đều vui lòng mừng đó ".
* Chú-thích: Hai chữ
Trai và Giới tác-giả đều có
phụ chú chữ Hán trong nguyên bản
gốc nhưng ở đây không có.
Chương Thứ Ba Mươi
Ba
Ngũ là năm, Giới
là răn, năm điều cấm răn của
Ðạo Phật.
- Thứ nhứt : bất
sát sanh, cấm không giết hại loài
sanh linh vật sống.
- Thứ nhì : bất du đạo, cấm gian
tham trộm cướp của người.
- Thứ ba : bất tà dâm, cấm không
phong tình huê nguyệt.
- Thứ tư : bất tửu nhục, cấm thịt
rượu say sưa.
- Thứ năm : bất vọng ngữ, cấm không
nói dối trá sai lời.
Ðạo Nho ngũ-thường
Nhơn : " Bất sát
bất hại, thể háo sanh chi đại-đức
", là không giết hại muôn vật, lấy
lòng nhơn phóng xá để chúng nó
đặng phần sống, sanh hóa như chúng
ta. Vậy mới có lòng bác-ái thương
người mến vật.
Nghĩa : " Nhứt thảo nhứt mộc,
các hữu kỳ chủ bất vấn khẩn
ngật, ám thủ phi nghĩa ", nghĩa là
: Cả thảy mọi vật đều có chủ,
chẳng hỏi mà lấy và sanh lòng gian
giảo tham muốn của người là điều
thất nghĩa.
Lễ là : Bới lòng dục nuôi
mạng, cấm tà dâm khỏi hao tổn ngươn
tinh, sát hại chất sanh, làm cho mất lễ.
Trí là : Tồn tâm dưỡng tánh,
không dùng rượu thịt mùi ngon vật
lạ, mê tâm loạn tánh, hoại hư
tạng phủ, đổi mất tánh xưa,
biến ra ngây dại, mà thất trí.
Tín là : Chỉ ư tín, thủy chung
như nhứt, không sai lời đổi chí
giữ điều chắc thật, cho khỏi thất
tín.
Ngũ-giới, Ngũ-thường cũng một
lý.
Chương Thứ Ba Mươi
Bốn
Tam nghĩa là ba. Còn
chữ Qui, bạch một bên, chữ phản
một bên. Phản bạch nghĩa là
phải trau-giồi sửa tánh trở lại
cho đặng thanh bạch gọi là qui,
nên kêu là Tam-Qui, là ba điều
cho thanh-bạch tinh-khiết trở lại tánh
chơn-như Phật tánh.
Ba điều là điều
gì ?
1- Là cho y Phật,
2- Là cho y Pháp,
3- Là cho y Tăng.
Y là làm cho giống
in khuôn không sai, gọi là Y. Y Phật là
tu tâm sửa tánh, tịnh dưỡng nguơn-thần,
y lại như thuở mới sanh ( nhơn chi sơ,
tánh bổn thiện ) gọi là y Phật.
Y Pháp là tu điều dưỡng ngươn-khí
( hơi thở ) không cho hao tán, phục lại
Tiên-thiên, không hô-hấp là chơn-khí
như thuở mới sanh, gọi là y Pháp.
Y Tăng là tu bổ cho nguơn-tinh, chẳng cho
hao tán khuy tổn, y lại như thuở nhỏ,
tinh ba đầy-đủ chưa khuyết điểm,
vậy là y Tăng. Nên tam-qui chủ-nghĩa
tu luyện Thần-Khí-Tinh, ba điều
cho y nguyên lại thanh-bạch tinh-khiết, gọi
là qui-y.
Chương Thứ Ba Mươi
Lăm
Quan-hệ việc cơ-bút
tối trọng. Vì cơ-bút cốt để
dùng thông-công với Thiêng-liêng không
hình-dạng, mà chúng ta là người
có hình chất phàm-phu nhục-nhãn, đâu
thấy biết rõ đặng lẽ nào tà
chánh, phải hay là quấy, vì những
điều có hình-dạng hiển nhiên
đây mà chúng ta phân biệt chơn
giả còn chưa thiệt đặng ; huống
chi không hình-dạng ánh bóng, tuy lấy
lời chánh tà có lý hay là không
có lý, mà biện luận đó thôi.
Có khi Tiên, Phật giáng dạy chúng
ta điều chánh-đáng có ích, mà
chúng ta không muốn làm theo lời ấy.
Có khi tà quái lấy sự thông-minh của
chúng nó bày điều có lý hay hơn
chúng ta, và phù hợp ý chúng ta thì
chúng ta lại nghe lời chúng nó cám-dỗ,
sai khiến, bị mưu, lớp hao tài tốn
của, lại thêm nhọc sức. Chúng nó
làm nhiều điều huyền-diệu cho mà
tin, và có lý tín-ngưỡng mà lại
làm tôi tớ nó. Có khi thần tư-tưởng
của người phò cơ, hoặc của
người hộ-đàn, cũng có thể
tiếp thêm điển mà ra bày điều
cho chúng ta làm mất ngày giờ mà không
biết đặng. Vì điều sai khiến
chúng ta đặng là chơn-thần của
chúng nó mạnh hơn, hoặc cái chơn-thần
nó ra đặng khỏi xác, nó thông
linh, biết điều vị lai quá khứ,
nên nó rõ cao xa, lại do theo ý muốn
của chúng ta mà nó lập theo, ắt phải
lầm hại, chừng biết ăn năn thì
đã muộn.
Còn người phò
cơ chấp-bút cũng bị cái thần-điễn
nó nhập vào choán cái chơn-thần
của đồng-tử, thì chơn-thần
của người phò cơ chấp-bút, càng
ngày càng suy giảm thối vị lần lần.
Có khi nó choán hết chơn-thần, còn
lại thức-thần phải điên cuồng
lảng-trí là khác nữa. Bởi có
người tập cơ chấp-bút mà điên
cuồng là vậy, nên cơ-bút là quan-hệ
tối trọng chẳng nên dùng thường./.
Chung