Ðại-Ðạo
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ
Tòa-Thánh Tây-Ninh
Hạnh-Ðường
Tài-Liệu
Huấn-Luyện Chức-Việc Bàn-Trị-Sự
Nam-Nữ
( Khóa Canh-Tuất 1970 )
Hội-Thánh Giữ Bản-Quyền
Ấn-Hành năm Canh-Tuất 1970
* Bổn-Phận Chức-Việc
Bàn-Trị-Sự đối với Hội-Thánh
Thánh-Giáo Ðức Chí-Tôn
dạy: " Thầy dùng Lương-sanh mà cứu
vớt Quần-sanh, cả Lương-sanh ấy Thầy
dùng quyền Thiêng-Liêng dạy-dỗ, trước
un-đúc nơi lòng một khiếu từ-bi
cho tâm-địa có tình ái-vật ưu-sanh
theo tánh đức háo-sanh của Thầy, dùng
lợi khí phàm-tục để độ-rỗi
người phàm-tục.
Những Lương-sanh ấy
hiệp lại làm một lập-thành Hội-Thánh
là xác-thân phàm, tức là hình-thể
hữu-vi của Thầy tại thế để Thể-Thiên
Hành-Hóa, làm gương mẫu mà giáo-hóa
dìu-dắt con cái của Thầy trên đường
Ðạo và đường Ðời, trong buổi
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ để Thầy tránh
khỏi phải hạ-trần như lúc Nhứt-Kỳ
và Nhị-Kỳ Phổ-Ðộ ".
Bổn-phận của Chức-Việc
Bàn-Trị-Sự phải tuân mạng-lịnh
của Hội-Thánh truyền dạy, không được
phép trái với sở-định của bề
trên, chẳng nên lấy ý riêng của
mình mà canh-cải bất tùng giáo-hóa,
phải giữ lễ-nghĩa khiêm-cung đối
với Chức-Sắc Hội-Thánh cho vẹn toàn
bổn-phận làm em, dầu người có
kém tài, kém trí đi nữa, đàn
em cũng chẳng nên khinh-khi, vi-lịnh. Khinh-khi
vi-lịnh người tức là buộc vào
mình cái tội bất tuân Luật-Pháp.
Thảng như Chức-Sắc
bề trên cầm quyền hành-chánh của
Ðạo rủi có làm việc chi ngộ-bất-cập-lượng
sai-siển một đôi điều không phù-hạp
với Luật Thương-Yêu và Quyền Công-Chánh,
thì bổn-phận của đàn em được
phép gián-can với lễ-độ của tình
huynh-đệ nhứt gia, chỉ rõ những việc
làm khuyết-điểm dể cho đàn em suy
độ mà cải-cách hành-vi cho phù-hợp
nhơn tâm thuận tùng thiên-lý.
Một điều nên ghi
nhớ trong Tứ-Ðại-Ðiều-Qui là "
Dưới gián trên đừng thất khiêm-
cung " mà lỗi đạo làm em và bị
phạm luật Ðạo.
Tóm lại bổn-phận
Chức-Việc Bàn-Trị-Sự đã mang danh
là Hội-Thánh em, mà đối với Hội-Thánh
cùng Chức-Sắc đàn anh bề trên được
như vậy thì bao giờ Hội-Thánh cũng
tín-nhiệm và thương yêu đàn
em có tâm vì Ðạo, và cũng làm
tròn sứ-mạng Thiêng-Liêng của một
Chức-Việc đối với Hội-Thánh.
Bổn-phận Chức-Việc
Bàn-Trị-Sự đối với Bổn-Ðạo.
Chúng ta đã công-nhận
Ðức Chí-Tôn là Ông Cha chung của
Nhơn-loại về phần Thiêng-Liêng, tức
nhiên Nhơn-loại là Anh Em với nhau, mặc
dầu khác màu da sắc tóc; cái tình
Huynh-Ðệ nầy giữa người đồng
Ðạo càng thêm thâm-thúy và mật-thiết
hơn.
Ðức Chí-Tôn có
giảng dạy:
Chẳng quản đồng
tông mới một nhà,
Cùng nhau một Ðạo tức cùng Cha.
Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,
Dạy lẫn cho nhau đặng chữ hòa.
Vậy Chức-Việc Bàn-Trị-Sự
đối với Bổn-Ðạo đàn em phải
hết dạ thương-yêu, thành-thật giúp-đỡ
và dìu-dắt đàn em trên đường
Ðạo cũng như trên đường Ðời.
Phải giữ hạnh khiêm-cung, từ-nhượng,
dùng lời dịu ngọt mà dạy-dỗ, nhứt
là phải đối xử cho công-bình, giữ
mình cho trong sạch, để nêu gương
tốt cho đàn em bắt chước.
Chức-Việc Bàn-Trị-Sự
được quyền sai khiến đàn em trong
phạm-vi quyền-hạn của mình. Phải chỗ
khiến thì ôn-tồn mà khiến, chẳng
phải chỗ sai chớ cưỡng-bách mà
sai, đừng làm điều chi quá quyền
mà mất niềm hòa-khí cùng nhau trong tình
Huynh-Ðệ của Ðại gia-đình Tôn-giáo.
Chức-Việc Bàn-Trị-Sự
là người đã mang nơi mình một
trọng-trách thay cho Hội-Thánh, thân-cận
với Nhơn-sanh trong Hương-Ðạo, thì
bổn-phận của mỗi vị cần phải
thực-thi đúng theo trách-nhiệm của mình
y trong Pháp-Chánh-Truyền, tóm-lược sau
đây:
1/. Chánh-Trị-Sự:
Mỗi Hương-Ðạo có một vị Chánh-Trị-Sự
thay mặt Hội-Thánh làm đầu cho Tín-Ðồ,
gọi là Ðầu Hương-Ðạo, làm
Anh Cả trong địa-phận ấy, chịu trách-nhiệm
về phần Ðời và phần Ðạo
đối với Hội-Thánh.
Vì vậy Chánh-Trị-Sự
phải là người đầy-đủ đạo-hạnh,
hiểu hết về Luật-Pháp Chơn-Truyền
của Ðại-Ðạo, có đủ năng-lực
dìu-dẫn Bổn-Ðạo được trong
ấm ngoài êm, chăm nom giúp-đỡ sanh-hoạt
của Môn-đệ Thầy, giúp khó trợ
nghèo, coi cả Tín-Ðồ như em ruột.
2/. Phó-Trị-Sự:
Là người thay mặt cho Chánh-Trị-Sự
trong một Ấp, gọi là Tri-Lý-Ðạo
để lo về phần Hành-Chánh-Ðạo,
đặng phép sửa đương giúp-đỡ,
dìu-dắt, dạy-dỗ chư Tín-Ðồ
trong địa-phận trấn-nhậm.
Về mặt xã-hội,
giúp-đỡ Bổn-Ðạo trong xóm ấp
được tương-thân tương-trợ,
gặp người hoạn-nạn thì Phó-Trị-Sự
phải sốt-sắng kêu gọi Bổn-Ðạo
chung tâm trợ giúp. Phó- Trị-Sự có
quyền giáo-hóa chớ không có quyền
sửa-trị.
3/. Thông-Sự:
Là ngưòi thay mặt Chánh-Trị-Sự
trong một Ấp, gọi là Thông-Lý-Ðạo,
để lo về phần Luật-lệ.
Thông-Sự có quyền
răn dạy người Ðạo phạm Luật-Pháp
của Ðạo, bằng cách giải-thích
khuyên lơn, nếu đôi ba lần mà người
phạm lỗi không biết ăn-năn chừa
cải, thì Thông-Sự có quyền phúc-sự
lên Chánh-Trị-Sự khuyên-giải hoặc
định phạt sám-hối.
( Ðọc kỹ chú-giải trong Pháp-Chánh-Truyền
).
Quyền-Hành và Luật
Công-Cử Chánh, Phó Trị-Sự và Thông-Sự.
Quyền Hành-Chánh-Ðạo
địa-phương có hai vấn-đề quan-trọng
là Quyền-Hành và Luật Công-Cử Chức-Việc
Bàn-Trị-Sự.
Ðể thi-hành theo nguyên-tắc,
khỏi vi-phạm Luật-Pháp Chơn-Truyền
của Ðạo; vì nhiều nơi đã tỏ
ra lắm điều sơ-sót trong việc công-cử
Bàn-Trị-Sự, hoặc cũng có nhiều
trường-hợp thi thố quyền-hành của
3 phẩm: Chánh-Trị-Sự, Phó-Trị-Sự
và Thông-Sự không đúng theo quy-định
của Pháp-Chánh-Truyền. Sự sơ-sót
ấy do nơi quyền Hành-Chánh địa-
phương không được châu-đáo
ở hạ-từng cơ-sở nơi Hương-Ðạo
và Ấp-Ðạo, căn-bản của nền
Chánh-Trị-Ðạo.
I/. Quyền-Hành.
Chức-Việc Bàn-Trị-Sự
có 3 phẩm yếu-trọng là:
Thông-Sự, Phó-Trị-Sự,
Chánh-Trị-Sự.
- 1/. Thông-Sự: là
người cầm Luật-Pháp, nên trong Pháp-Chánh-Truyền
gọi là Hộ- Pháp em, nghĩa là đồng-quyền,
đồng-thể không hơn không kém, nhưng
Hộ-Pháp cầm- quyền toàn Ðạo khắp
Thế-Giới, còn Thông-Sự chỉ trong địa-phận
một Ấp mà thôi, vì thế mới gọi
là Hộ-Pháp em.
- 2/. Phó-Trị-Sự:
Người cầm-quyền Hành-Chánh, tức
là Chánh-Trị-Ðạo, ở Pháp- Chánh-Truyền
gọi là Giáo-Tông em. Hễ quyền trên
lớn lao bao nhiêu, thì quyền dưới cũng
thế, nhưng Phó-Trị-Sự chỉ cầm-quyền
một Ấp-Ðạo. Hai vị Phó-Trị-Sự
và Thông-Sự đều đồng-thể
cùng nhau, không ai lớn ai nhỏ, cũng như
Giáo-Tông và Hộ-Pháp, song quyền-hành
riêng biệt, Phó-Trị-Sự có quyền
về Hành-Chánh-Ðạo, còn Thông-Sự
có quyền về Luật-Lệ.
Phó-Trị-Sự và Thông-Sự có quyền
ứng-cử chức Chánh-Trị-Sự.
- 3/. Chánh-Trị-Sự:
Người cầm-quyền Luật-Pháp, và
Hành-Chánh-Ðạo; tại sao người cầm
hết 2 quyền? - Bởi vì Chánh-Trị-Sự
là Ðầu-Sư em, nên phải kiêm cả
2 quyền, và làm đầu trong một Hương-Ðạo,
trong Luật-Pháp cấm người không cho
đi ngoài ranh-giới Chánh-Trị-Sự khác.
Ngoài ra Luật-Pháp còn
nghiêm-cấm không cho công-cử Chánh-Trị-Sự
nội-dung, Chánh-Trị-Sự Ðầu-Văn-Phòng,
hoặc Chánh-Trị-Sự Phổ-Tế.
Il/. Luật Công-Cử.
Theo như thường tình
ở ngoài Ðời thì ta cũng thấy, Luật
công-cử Hội-Ðồng Xã, Ấp, Hội-Ðồng
Tỉnh, và Dân-Biểu, Thượng Hạ Nghị-Viện
...
Hễ có công-cử, thì
có người ra ứng-cử và người
thừa-sai ( cử-tri ), quyền ứng-cử mỗi
người đều có như quyền công-cử.
Phó-Trị-Sự và Thông-Sự
phải chịu cho Tín-Ðồ trong Ấp Ðạo
xúm nhau công-cử, mà trong một Hương-Ðạo
chia ra nhiều Ấp-Ðạo. Mỗi Ấp có
một Thông-Sự và một Phó-Trị Sự
làm đầu.
Chánh-Trị-Sự phải
chịu cho toàn cả Phó-Trị-Sự và
Thông-Sự xúm nhau công-cử, chớ không
phải để cho Tín-Ðồ xúm nhau công-cử
( Tín-Ðồ chỉ được mời đến
dự-kiến để phê-bình, chỉ-trích
hoặc đồng-ý ứng-cử-viên và
ký tên vào vi-bằng công-cử ).
Hồ-sơ ứng-cử-viên
gồm có:
Chức Chánh-Trị-Sự
phải có làm Phó-Trị-Sự hoặc Thông-Sự
mới được ra ứng-cử.
Hồ-sơ ứng-cử phải nạp cho Ðầu-Phận-Ðạo.
Sau khi Ðầu-Phận xem
xét xong hồ-sơ mỗi vị rồi thì
phải gởi danh-sách cho toàn Chức-Việc
trong Hương hiểu biết và định ngày
công-cử trước nhứt là 10 ngày.
Chánh-Trị-Sự đắc-cử
mỗi nhiệm-kỳ là 5 năm.
Ðắc-cử rồi mà
vô cớ phế-phận không trọn khóa
đắc-cử, thì không được kể
công- nghiệp, mặc dù có viện lý-do.
Chánh-Trị-Sự mãn-khóa được
quyền ra ứng-cử và tái-cử lại
một khóa nữa ( thủ-tục cũng như
mới ra ứng-cử vậy ).
Luật công-cử Phó-Trị-Sự
và Thông-Sự cũng y như công-cử Chánh-Trị-Sự.
ng-cử- viên Phó-Trị-Sự và Thông-Sự
phải là người Ðạo-hữu giữ
thập-trai, có Ðạo-tâm, sốt-sắng
và có năng-lực hành-sự.
Mỗi Tín-Ðồ khi được
nhập-môn thiệt-thọ nghĩa là sau khi
đổi Sớ Cầu-Ðạo tạm rồi
đều có quyền đầu-phiếu công-cử
và ứng-cử Phó-Trị-Sự hay Thông-Sự,
nhưng Nam, Nữ riêng biệt.
Một khi có cuộc công-cử
Chức-Việc Bàn-Trị-Sự thì phải
thành-lập một Ủy-Ban chứng-sự, lo
xem xét cuộc công-cử hầu tránh điều
gian-lận trong khi đầu phiếu.
Ủy-Ban nầy gồm có
ba nhơn-viên:
1- Ðầu-Phận-Ðạo
sở tại làm Chủ-tọa.
2- Luật-Sự Pháp-Chánh địa-phương
Giám-thị.
3- Chánh-Trị-Sự Ðầu Hương-Ðạo
kế cận chứng-kiến.
Sau cuộc đầu-phiếu
công-cử xong, thì phận-sự Ủy-Ban nầy
phải tuyên-bố liền danh-sách người
đắc-cử, kế lập Vi-Bằng công-cử
và tờ cử 3 bổn y nhau gởi về cho Khâm-
Thành Thánh-Ðịa, nhờ sự xem-xét
và phê-kiến, rồi giao trả lại cho Phận-Ðạo
1 bổn để hồ-sơ lưu-chiếu, 1 bổn
để hồ-sơ văn-phòng Khâm-Thành,
còn 1 bổn gởi về văn-phòng Lại-
Viện ( Nội-Chánh ). Ðến mãn hạn
kỳ 6 tháng tạm-vị, nếu xét đủ
tinh-thần phục-vụ, hạnh- kiểm tốt,
không phạm Luật-Pháp Ðạo, thì Ðầu-Phận-Ðạo
lập phúc-trình và hồ-sơ ứng-cử
luôn cả vi-bằng công-cử, tờ-cử
đính theo 3 ảnh bán thân ( 4x6 ). Hội-Thánh
sẽ ban Ðạo-Cấp chánh-vị. Ðó
là cuộc công-cử đúng phép.
Trường-hợp đặc-biệt:
Ðề-cử về Hương-Ðạo mới
phổ-độ lập-thành, thì Ðầu-Phận-
Ðạo có quyền đề-cử, nghĩa
là lựa chọn trong hàng Ðạo-Hữu
vị nào có hạnh-kiểm tốt, Ðạo-tâm,
sốt-sắng, lập thành Bàn-Trị-Sự
gồm 1 Chánh-Trị-Sự, 1 Phó-Trị-Sự
và 1 Thông- Sự.
Sau khi đề-cử xong, vị
Ðầu-Phận-Ðạo phải đệ tờ
Hội-Thánh xin chứng-nhận mới có giá-trị.
( Ðính theo mẫu Vi-Bằng
công-cử và Tờ cử ).
Vi-Bằng
Công-Cử Chánh-Trị-Sự Ðầu Hương-Ðạo___________
Do thơ-mời của Ðầu-Phận-Ðạo_____(
tên Phận-Ðạo )________ có mở cuộc
hội nhóm ngày____tháng____năm__________dl:__________đúng_____giờ
tại Văn-Phòng Phận-Ðạo___________________để
công-cử Chánh-Trị-Sự Ðầu-Hương-Ðạo____________
để thay thế vị Cựu Chánh-Trị-Sự________(
tên, họ )________vừa mãn-khóa ( hoặc
vì duyên-cớ khác thì nói rõ ra, ví-dụ
ngưng quyền-chức, triệu-hồi, truy-tố,
v.v... )
Sau đây thành-phần
của Ủy-Ban xem-xét cuộc công-cử:
* Ủy-Ban Trọng-Tài:
- Ðầu-Phận-Ðạo_____( tên Phận-Ðạo
)__ Chủ-Tọa.
- Ðại-Diện Pháp-Chánh địa-phương___________
- ________________________________Giám-Thị.
- Chánh-Trị-Sự_____________________________
- Ðầu Hương-Ðạo kế cận_____________________
* ng-Cử-Viên:
- ________________________________Giám-Thị.
- Phó-Trị-Sự_______________________________
-_________________________________kể tên tất cả.
- Thông-Sự________________________________
- _______________________________Kể tên tất cả.
Sau khi tất-cả chư-vị
Phó-Trị-Sự và Thông-Sự hiện-diện
bỏ thăm kín, Ủy-Ban trọng-tài khui thăm
và công-bố liền danh-sách vị________________được
đa số thăm hơn hết là________________________thăm
( biên số thăm ), đắc-cử Chánh-Trị-Sự,
Ðầu-Hương-Ðạo_____________________.
Lập tại Văn-Phòng
Phận-Ðạo
ngày___tháng__năm_____
Dl:_____, ______, 197...
Chủ-Tọa
Giám-Thị:
- Ðại-Diện Pháp-Chánh địa-phương__________
- Ðầu Hương-Ðạo kế cận__________________
Chức-Việc dự-cử:
Phó-Trị-Sự___________________
Phó-Trị-Sự___________________
Phó-Trị-Sự___________________
Thông-Sự______________________
Thông-Sự______________________
Thông-Sự______________________
Ðạo-Hữu:
___________________________
___________________________
___________________________
___________________________
___________________________
___________________________
Số:____T.C.
Ðại-Ðạo Tam-Kỳ
Phổ-Ðộ
( .............. niên )
Tòa-Thánh Tây-Ninh
Châu-Thành Thánh-Ðịa
Phận-Ðạo_________
Tờ Cử Chức___________
Chiếu y Pháp-Chánh-Truyền
về khoản phân-định quyền-hành
Bàn-Trị-Sự và Luật công-cử.
Chiếu y Vi-Bằng hội nhóm tại ăn-Phòng________________số:_______ngày_
tháng______năm______( Dl____/___197 ).
Do _________________ Chủ-Tọa, tất cả ________
Hương-Ðạo ____________ đồng công-cử
vị__________________tuổi, sanh-quán Hương-Ðạo__________________
Tộc-Ðạo____________________Châu-Ðạo_______________.
Nhập-môn ngày_______tháng_____năm______ ( Dl:____/____/
197 )
Trai-giới__________
Vị nầy tánh-hạnh tốt, hiền-lương
chơn thật.
Ðắc-cử chức_________________Hương-Ðạo:_________________Phận-Ðạo:_
_________________Châu-Thành Thánh-Ðịa.
Vị trên đây phải trọn vâng mạng
lịnh Chức-Sắc bề trên, và tuân
y Luật-Pháp Chơn-Truyền của Ðại-Ðạo
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ Tòa-Thánh Tây-Ninh
mà hành-đạo, chẳng đặng canh-cải
điều chi ngoài Tân-Pháp.
Lập tại Văn-Phòng,
ngày_____tháng____năm_________
( Dl:_____/______/ 197 )
Người đắc cử
( Ký tên )
Phê-kiến
Cho tạm-vị 6 tháng, nếu tròn phận-sự
sẽ đem vào chánh-vị và ban Ðạo-cấp.
V.P. , ngày____tháng____năm______.
( Dl:_____/______/ 197 )
Khâm-Thành Thánh-Ðịa
Giáo-Sư
Bàn-Trị-Sự hành-lễ
y như cách hành-lễ cầu hấp-hối.
A- Phương-pháp hành
lễ tẩn-liệm.
Phải cúng Thầy nhằm
tứ thời, có dâng sớ Tân-cố và
dâng Tam-bửu ( Bông, Rượu, Trà ) vị
chứng-đàn là Chánh-Trị-Sự.
Khi hành-lễ cúng thời xong, tất cả
người trong gia-quyến đều quỳ cầu-nguyện
Chí-Tôn, rồi đến chỗ người
chết quỳ lạy xác một lần, Ðồng-nhi
khởi tụng kinh Tẩn-liệm: Dây oan nghiệt
dứt rời trái chủ...v.v... tụng xong, tang-chủ
lạy xác một lần nữa, vị chứng-đàn
trở về Thiên-Bàn xá Chí-Tôn và
xả ấn.
Các chi tiết hành-lễ
vừa kể trên từ phẩm Chánh-Trị-Sự
đổ xuống Ðạo-hữu thì vị
chứng-đàn là Chánh-Trị-Sự thực-hành.
Còn từ phẩm Chức-Sắc Lễ-Sanh trở
lên thì phương- pháp cầu hấp-hối,
cầu hồn khi đã chết rồi, đến
tẩn-liệm, Ban-Trị-Sự chỉ hành-lễ
theo nghi-thức như trên. Riêng về phần
chứng-đàn, trước đầu người
bịnh hấp-hối, chết rồi nơi khoản
C phải nhượng cho Ðầu-Phận hay Khâm-Thành
nếu có thỉnh đến.
Phần thượng-sớ
Tân-cố vị Chánh-Trị-Sự phải đưa
lên cho Ðầu-Phận-Ðạo thay mặt
Hội-Thánh dâng sớ tại Thánh-Thất
hay tư-gia người đã chết.
B- Phần hành-lễ thành-phục
phát tang tại tư gia.
Trường-hợp nầy, có
lắm khi tùy hoàn cảnh gia-đình tang-chủ
thỉnh cầu như: thành-phục phát tang kế
tiếp hành-lễ tế điện cầu-siêu
và an-táng luôn, cũng có gia-đình duy
trì vì phải coi giờ thành-phục phát
tang hay ngày an-táng.
Do đó, mới có việc
không thỏa-mãn giữa nhau, vậy thì lễ
thành-phục phát tang kế tiếp cúng tế
cầu-siêu và an-táng luôn là phương-tiện
cho gia-đình hoặc Bàn-Trị-Sự là
tốt nhứt. Còn việc coi ngày giờ thành-phục
phát tang hay an-táng nếu quá hạn tam nhựt,
thì buộc tang-gia phải bảo-đảm quan-tài
về hơi hám ( điều đó bất đắc-dĩ
mà thôi ), Bàn-Trị-Sự cũng nên khuyên
gia-đình tang chủ trong ba ngày tống-táng,
hơn là duy-trì lâu ngày có nhiều
bất lợi.
Việc thành-phục phát
tang, Bàn-Trị-Sự chỉ cầu-nguyện Chí-Tôn
vì mới thiết lễ cúng Thầy hồi
tẩn-liệm.
C- Phần lễ cáo-từ
Tổ.
Có lễ-nhạc hoặc không
có, trước phải đặt một bàn
nghi ngoài để kiến Thần-Hoàng bổn
cảnh, đất đai ngũ phương một
mâm cơm trai hay hoa quả bánh nước tùy
gia vô hữu. Còn một mâm dâng trên
bàn thờ Tổ-phụ ( Cửu huyền thất
tổ ), một cái mâm đựng đồ
tang để cáo-từ Tổ. Khi xong bưng mâm
tang qua bàn vong ( linh-cữu ) hành-lễ. Vị
Chánh-Trị-Sự đứng phát tang phải
mặc Ðại-phục.
Nghi-tiết trên từ hàng
Lễ-Sanh trở xuống Ðạo-hữu, Lễ-sĩ
mặc áo màu xanh. Từ Giáo-Hữu trở
lên, Lễ-sĩ mặc áo màu đỏ.
Lễ-Sanh, Giáo-Thiện một cây Lộng và
Phướn Thượng-Sanh; Giáo-Hữu, Chí-Thiện
trở lên hai cây Lộng và Phướn Thượng-Phẩm.
Nên lưu-ý, dầu Nam
hay Nữ, Phướn Thượng-Sanh tả ( trái
), Phướn Thượng-Phẩm hữu ( mặt
) trong ngó ra chớ không phải để Nam
tả Nữ hữu.
Ðãnh lễ Ðức
Chí-Tôn trước khi cáo-từ Tổ.
Cách lạy khi qui-vị:
Lễ-sanh trở lên thì 3 lạy quỳ, còn
từ Chánh-Trị-Sự trở xuống Ðạo-hữu
lạy 4 lạy, 2 quỳ, 2 đứng theo nghi thường
lệ.
D- Phần hành-lễ cúng
tế và cầu-siêu cho Chức-Việc xuống
Ðạo-hữu.
Ðoạn nầy chiếu theo
quyển Tang-Lễ Ngài Cố Tiếp-Pháp Chơn-Quân
thì hành lễ đủ kinh dầu thiếu trai-giới
10 ngày. Chỉ đặc-biệt, người qui-vị
giữ trọn 10 ngày chay thì được thọ
truyền Bửu-pháp, nghĩa là thỉnh Chức-Sắc
hành Pháp đoạn căn mà thôi, dưới
10 ngày là không được hưởng
Pháp nầy.
Trường-hợp vừa
kể trên, đối với trẻ em từ 10
tuổi trở lên, nếu trường-trai hoặc
thập-trai cũng được thi-hành theo nghi-lễ
nầy.
Còn 10 tuổi trở xuống,
thì chỉ thượng-sớ và cầu-siêu
mà thôi.
Riêng về phần Chức-Sắc
Lễ-Sanh, Giáo-Thiện, Giáo-Hữu, Chí-Thiện
trở lên được phép tạm để
tư-gia hành-lễ chờ ngày di-quan vào Khách-Ðình
hay Báo-Ân-Từ thì Bàn-Trị- Sự hành-lễ
theo các chi-tiết đã nói trên ( nghĩa
là từ khi hấp-hối, chết rồi đến
cầu-siêu, để di-quan và phải đưa
vào Khách-Ðình hay Báo-Ân-Từ tùy
theo phẩm-vị, nên chung lo giúp-đở tang-quyến
đến khi an-táng xong ).
E- Phần lễ phát hành
an-táng.
Ðảnh lễ Ðức Chí-Tôn
trước khi cáo-từ Tổ, cúng vong, cầu-siêu,
khiển-điện, di linh-cửu ra thuyền Bát-nhã,
đi đến Báo-Ân-Từ thỉnh Linh-vị
vào bái lễ Ðức Phật-Mẫu, đến
Ðền-Thánh cũng thỉnh Linh-vị vào
bái lễ Ðức Chí-Tôn. Nếu trường-hợp
đi ngoài ngang qua Thánh-Thất hay Ðiện-Thờ
thì cũng thi-hành như vào Nội-Ô.
Tuần-cửu chỉ làm
tại Thánh-Thất hoặc Ðền-Thánh
mà thôi. Ngoại trừ những trường-hợp
đặc-biệt bất-khả kháng mới được
làm tại tư-gia.
F- Phần hành-lễ tuần-cửu
từ nhứt đến cửu-cửu tại tư-gia.
Thiết lễ cúng Thầy
có thượng Sớ dâng Tam-Bửu ( bông,
rượu, trà ) vào thời Ngọ và khai
tuần-cửu.
Trong lễ nầy, nếu tang-gia
có cúng phẩm Tổ-Phụ, Ông Bà và
vong linh thì tự tiện nguyện vái, Bàn-Trị-Sự
chỉ hành-lễ tuần-cửu và tụng
kinh Di-Lạc 3 lần, để cầu-nguyện cho
linh-hồn người được siêu-thoát
là xong.
Mỗi tuần-cửu hành-lễ
y như trên, đến ngày mãn-cửu, tức
là cửu thứ 9, tang-gia có cúng phẩm-vật
thì việc cáo-từ Tổ cúng vong theo nghi-thức
thường lệ.
G- Phần hành-lễ Tiểu
và Ðại-Tường tại tư-gia.
I/. Thiết lễ cúng Thầy,
có thượng Sớ, dâng Tam-Bửu vào thời
Ngọ và khai tuần Tiểu hay Ðại-Tường.
Trong lễ nầy, nếu có
Lễ-Nhạc tế-điện hoặc châm-chước
thì có cáo-từ Tổ. Tiếp hành-lễ
tế-điện, cúng tế xong, lễ thành
khỏi tụng kinh khai Tiểu hay Ðại-Tường
nơi bàn vong nữa, vì đã khai trước
Thiên-bàn sau thời cúng rồi.
Il/. Ðoạn Lễ thành
nếu Ðại-Tường thì một người
trong tang-quyến đứng trước bàn vong
để lời tạ-ơn chung các Cơ-Quan,
thân-bằng cố- hửu y như khi đám
xác, dứt rồi vị Chánh-Trị-Sự
mặc Ðại-phục, sắp Ðồng-nhi trước
Thiên-bàn mời tang-quyến đến, vị
Chánh-Trị-Sự quỳ trước, tang-quyến
quỳ sau cầu-nguyện Ðức Chí-Tôn
để xả tang, bắt đầu đốt
lá Phan và Linh-vị, đồng-nhi tụng 3
biến Vãng-sanh Thần-chú, dứt niệm câu
chú Thầy 3 lần, tang-quyến lạy Ðức
Chí-Tôn, rồi qua bàn thờ tang vong, kế
vị Chánh-Trị-Sự xả tang cho một người
trưởng trong tang-quyến, còn bao nhiêu tự
lột khăn tang trên đầu xuống và
đứng dậy, xá bước ra ngoài sẽ
cởi đồ tang ra đốt hay để tùy
gia-quyến. Ðến đây là hết phần
lễ Tang-tế sự.
Tóm lại, nghi lễ nầy
tạm thực-hành, chờ khi có quyển Tang-lễ
thống nhứt, Hội- Thánh sẽ cho thi-hành
y theo đó.
Chiếu Tân-Luật điều
thứ 6 đến thứ 10 dạy sự chọn
Hôn trong người đồng Ðạo, trừ
khi nào người ngoài ưng thuận nhập-môn
thì mới được kết làm giai-ngẫu.
Tám ngày trước lễ
Sính-hôn, chủ Hôn Trai phải dán Bố-cáo
nơi Thánh-Thất sở tại cho trong Bổn-đạo
hay biết, sau khỏi điều trắc-trở.
Làm lễ Sính-hôn,
hai đàng Trai và Gái phải dến Thánh-Thất
hoặc Ðền-Thánh mà cầu lễ Chung-hôn
( tức là lễ Hôn-phối ).
Phương-pháp thực-hành:
Tất cả người trong
Ðạo, khi kết thành Hôn-nhơn cho con,
cháu, phải tuân-hành theo Tân-Luật như
sau:
- 1/. Trước hết phải
chọn Hôn người trong Ðạo, như "
Ðiều thứ 6 của Tân-Luật "
- 2/. Trước ngày Sính-hôn, phải đăng
Bát-nhựt tại Thánh-Thất sở tại
" Ðiều thứ 7 Tân-Luật ".
- 3/. Khi làm lễ cưới, cả hai đàng
Trai và Gái phải xin phép lập lễ Hôn-phối
tại Thánh-Thất hoặc Ðền-Thánh
" Ðiều thứ 8 Tân-Luật ".
- 4/. Cấm không được cưới hầu
thiếp, trừ khi nào không con nối hậu,
thì đặng phép cưới hầu thiếp,
nhưng chính người chánh-thê đứng
cưới mới đặng " Ðiều thứ
9 Tân-Luật ".
- 5/. Cấm người trong Ðạo không được
để bỏ nhau, trừ khi ngoại tình hay
thất hiếu với công cô " Ðiều thứ
10 Tân-Luật ".
Trường-hợp bất
khả kháng, hành-lễ tại tư-gia, Bàn-Trị-Sự
thi-hành như sau:
- A. Buộc chủ-hôn Nam,
Nữ phải xin phép Ðầu-Phận, Bàn-Trị-Sự
hỏi rõ việc kết hôn nêu trong điều
thứ 6 và thứ 7 của Tân-Luật.
- B. Mỗi khi Bổn-Ðạo gã, cưới,
phải thỉnh Bàn-Trị-Sự hay Ðầu-Phận
đến chứng-sự hoặc hướng-dẩn
cách thức hành-lễ để tránh điều
bất trắc trong vụ, trừ ra trong gia-đình
của Chức-Sắc Ðại-Thiên-Phong dĩ
hạ " Dù hành-lễ nơi tư-gia ".
- C. Khi Bàn-Trị-Sự đến chứng-sự
hành-lễ, phải hoàn-toàn chịu trách-nhiệm,
nên cần lưu-ý mọi việc châu-đáo
theo phép Ðạo.
- D. Phần hướng-dẩn hành-lễ, trước
hết nếu đôi bên Trai, Gái có thỉnh
Chánh-Trị- Sự, thì 2 vị nầy vào
cầu-nguyện Chí-Tôn, kế 2 suôi gia Nam
Nữ, sau là chàng rễ. Khi xong tiếp bái
lễ Từ-Ðường ( Ông Bà quá vãng
).
Ðoạn trình Hội-Thánh,
Quốc-Vương, Thủy-Thổ, Ông Bà tại
tiền ( sống ), Cha Mẹ và tiếp Công
Cô.
Lưu-ý:- Khi lên đôi
đèn hành-lễ Cửu-Huyền Thất-Tổ,
thì tùy chủ-hôn hoặc sở cậy người
trong thân-quyến có đủ phước đức,
vì lệ nầy thành tục.
Tóm lại, phần nghi-lễ
trên đây tạm thực-hành, chớ Hội-Thánh
ban hành lễ thống nhứt sẽ tuân theo.
Ðể bảo-thủ Chơn-Truyền
khỏi bị tay phàm canh-cải ra phàm-giáo,
nên trong cửa Ðại-Ðạo có đủ
Luật và Pháp.
Tân-Luật và Pháp-Chánh-Truyền
là qui-củ chuẩn thằng của Ðạo,
cũng như Hiến- pháp là điều luật
của một nước. Người dân biết
tôn-trọng Hiến-pháp, nước mới có
trật-tự an-ninh, thái-bình thiên-hạ.
Còn tín-đồ của Ðạo, có trọn
tuân-hành Luật-Pháp, mới giữ được
Chơn-Truyền chánh-giáo.
Ðạo là con đường
Thiêng-Liêng siêu-việt cứu độ chúng-sanh
thoát khỏi chốn trần ai tội-lỗi mà
loài người còn phải chịu đày-đọa,
vay vay, trả trả dưới phép nhơn-quả
luân-hồi. Nếu người giữ Ðạo
biết trọn tuân luật-lệ, thực-hành
y theo Luật-Pháp Chơn- Truyền là ung-dung
tiến bước trên con đường chánh-đạo,
nhược bằng hành-vi ra ngoài Luật-Pháp
thì phải bị sự lôi cuốn của vật-chất,
người hành Ðạo như thế đã
xa Chơn- Truyền Chánh-Giáo và sa vào Bàn-Môn
Tả-Ðạo rồi vậy.
Người giữ Ðạo
mà tuân-y theo Luật-Pháp ví như người
thợ hành nghề có mực thước. Thợ
không mực thước thì chẳng tạo
nên vật dụng trang-hoàng. Còn người
Ðạo chẳng giữ-gìn khuôn viên Luật-Pháp
Chơn-Truyền của Ðạo thì không đắc-vị
Thần, Thánh Tiên, Phật nơi cõi Thiêng-Liêng
Hằng Sống, mà trái lại còn sa đọa
vào đường tội lỗi muôn năm
ngàn kiếp trong phép Luân-Hồi.
Tân-Luật Chương
Il : Về người giữ Ðạo.
* Ðiều thứ chín:
Muốn xin nhập-môn phải có hai người
đạo-đức tiến dẫn đến người
làm đầu trong họ. Hai người tiến
dẫn phải lo-lắng chỉ biểu và dìu-dắt
người mới cho hiểu biết đạo-lý.
* Ðiều thứ mười:
Mỗi Thánh-Thất từ đây phải lập
minh-thệ. Còn ai mới vô Ðạo, mỗi
ngày đem tên vào sổ, phải ra đứng
giữa Ðại-điện thề liền. Buộc
phải thuộc kinh, và thông-hiểu Luật-Pháp
của Ðại-Ðạo truyền ra.
* Ðiều thứ mười
một: Người làm đầu trong Họ,
hay là Chức-Sắc thay mặt cho mình phải
đến làm lễ cúng khai Ðàn trấn
Thần an-vị cho người mới vào Ðạo.
* Ðiều thứ mười
hai: Nhập-môn rồi được gọi
là Tín-Ðồ có hai bực:
- 1/. Một bực còn ở
Thế, có vợ chồng làm ăn như người
thường, song buộc phải giữ trai-kỳ
hoặc 6 hoặc 10 ngày trong tháng, phải giữ
Ngũ-Giới cấm và phải tuân theo Giới-
Luật của Ðại-Ðạo truyền bá.
Bậc nầy gọi là người giữ Ðạo
mà thôi, vào phẩm Hạ-Thừa.
- 2/. Một bậc đã
giữ trường-trai, giới-sát và Tứ
Ðại Ðiều-Qui gọi là vào phẩm
Thượng-Thừa.
* Ðiều thứ mười
ba: Trong hàng Hạ-Thừa, ai giữ trai-kỳ
từ mười ngày sắp lên, được
thọ truyền Bữu-pháp, vào Tịnh-Thất
có người chỉ luyện Ðạo.
Chương Ill : Về việc
lập họ Ðạo.
Từ điều thứ mười
sáu đến điều thứ hai mươi.
Chương IV : Về Ngũ-Giới
cấm.
* Ðiều thứ hai mươi
mốt ( từ số 1 đến số 5 ).
Chương V : Về Tứ
Ðại Ðiều-Qui.
* Ðiều hai mươi hai
( từ số 1 đến số 4 ).
Chương VI : Về Giáo-Huấn.
Từ điều thứ hai mươi
ba đến điều thứ hai mươi lăm.
Chương VIl : Về hình
phạt.
Từ điều thứ hai mươi
sáu đến điều thứ hai mươi
tám.
Chương VIll : Về việc
ban-hành Luật-Pháp.
* Ðiều thứ ba mươi
hai:
Thế-luật: Từ
điều thứ nhứt đến điều thứ
hai mươi bốn.
Bàn-Trị-Sự cần
mẫn nhắc-nhở và giáo-hóa trong hàng
Thiện-Tín phải học-hành thông suốt
Tân-Luật, nhứt là phần Thế-Luật
đặng làm phép hằng tâm mà tu-học,
trau-giồi cho xứng phận là Môn-đồ
của Ðức Chí-Tôn.
Người đồng Ðạo
phải nhìn nhau như con một Cha, Anh Em một
nhà. Nếu có sự kiện-tụng xãy ra
là điều bất-đắc-dĩ mà thôi.
Người tiên-cáo phải
nộp cáo-trạng tường-trình sự việc
rõ-ràng, có nhân-chứng nhìn nhận.
Nộp cho Trưởng Thập-Nhị Gia sở tại,
Trưởng Thập-Nhị Gia quan-soát minh bạch,
mời hai bên tiên-cáo và bị-cáo đến
khuyên nhủ, lập vi-bằng hòa-giải cho
đôi đàng được thấu triệt
ai là phải, ai là trái, đặng thông-cảm
trên lẽ phải, rồi tự thuận cùng
nhau.
Thoảng như bất hòa
vì lẽ đôi bên ngoan cố, thì Trưởng
Thập-Nhị Gia lập tờ-phúc, lấy công
tâm trình-bày sự thật kèm nội-vụ
gởi đến vị Thông-Sự Ấp mình
định đoạt.
Vị Thông-Sự khi tiếp
đặng hồ-sơ kiện tụng phải xem-xét
kỹ-lưỡng tìm thêm yếu-lý của
sự thật trong vụ đầy-đủ, sẽ
mời đôi bên tiên, bị-cáo, nhân-chứng
đến lấy lời khai từng người rồi
quan-soát lại với hồ-sơ trước
coi lời-lẽ thế nào? Sự phải quấy
về ai, mới mở cuộc hòa-giải, phải
lập vi-bằng hòa-giải, nếu êm-hòa
thì lập tờ tự-thuận đôi bên
ký tên. Nhược bằng đôi bên
còn chống báng, thì Thông-Sự giữ
dạ vô tư lập phúc-trình đến
Chánh-Trị-Sự đầu Hương-Ðạo
giải-quyết.
Ðầu-Hương-Ðạo
phải tìm mọi lý-lẽ, từng khía
cạnh trong nội-vụ, cho có đủ bằng-
chứng cụ-thể hoặc minh-tra hay mật-tra
tùy trường-hợp để tìm sự
thật đặng hòa-giải cho đôi đàng.
Việc hòa-giải phải
căn-cứ vào: Tân-Luật, Luật-Lệ
xử-đoán, Ðạo Nghị-Ðịnh, và
Pháp Chánh-Truyền mà thi-hành cho tròn
trách-nhiệm.
Việc hòa-giải kiện-tụng
trong đường Ðạo phải giữ theo
trật-tự đẵng-cấp như là đến
Trưởng Thập-Nhị Gia, đến Thông-Sự,
đến Chánh-Trị-Sự, đến Ðầu-Phận,
hoặc Ðầu-Tộc- Ðạo, đến Khâm-Thành
hoặc Khâm-Châu Ðạo.v.v...
Chú-ý: Mỗi giấy
tờ đều phải có đương-sự
ký tên đề ngày, tháng, năm. Như
tờ-khai đương-sự ký tên rồi,
người lấy lời khai cũng phải ký
tên thị-chứng mới hợp-lệ.
Quyền Sửa-Trị.
Khi đã nhận trách-nhiệm
Bàn-Trị-Sự thì quyền giáo-hóa chư
Tín-Ðồ trong Hương-Ðạo hoặc
Ấp-Ðạo của mình cai-quản và có
quyền hòa-giải những sự xích-mích
giữa người Bổn-Ðạo.
1/. Khuyên giải: Khi
có người phạm lỗi nhẹ về Thế-Luật
hoặc thiếu hạnh-kiểm, làm mất tư-cách
người Ðạo, làm tổn thương
chung cho người đồng Ðạo, thì Bàn-Trị-Sự
có bổn-phận phải dạy khuyên cho người
phạm lỗi biết ăn-năn sám hối.
2/. Răn phạt: Nếu
vị nào chẳng biết sửa mình chừa
lỗi lại còn tái phạm, thì Bàn-Trị-
Sự có quyền răn-phạt bằng quỳ
hương, tụng kinh sám-hối.
3/. Hòa-giải: Những
việc xích-mích tranh-tụng thường sự
giữa người đồng Ðạo dầu
thuộc về việc Ðời, hay việc Ðạo,
Bàn-Trị-Sự chẳng nên dễ-dãi bỏ
qua để mất niềm hòa-khí, sanh những
mầm hờn giận ghét-ganh mất tính tương-thân
tương-ái cùng nhau.
Trong trường-hợp nầy,
Chức-Việc Bàn-Trị-Sự cần mời
hết cả đôi bên đến dùng lời
đạo-đức giải-thích phép Ðời,
luật Ðạo, lời thuận lẽ êm, cân-phân
phải quấy cho đôi bên hiểu rõ,
rồi hòa-giải cho được thuận-hòa
cùng nhau.
4/. Răn trị: Người
giữ Ðạo buộc phải tuân-y Luật-Pháp
của Ðạo.
Luật có Tân-Luật
và Luật-Lệ xử-đoán.
Pháp có Pháp-Chánh-Truyền.
Thoảng như có vị
nào phạm Luật, phạm Pháp về mấy
khoản nặng mà Bàn-Trị-Sự hiểu
biết hay do Trưởng Thập-Nhị Gia phúc-tờ
lên thì chẳng nên im-ẩn, mà chính
mình Bàn-Trị-Sự phải đích thân
đến tận nơi xãy ra, mở cuộc minh-tra
cho minh-bạch, hoặc mời đến Văn-Phòng
hạch-vấn cho ra lẽ, rồi phúc-sự lên
Lễ-Sanh Ðầu-Phận hay Ðầu-Tộc
để cho người liệu phương giáo-hóa,
hay là Ðầu-Phận đệ tờ với
nội-vụ lên Khâm-Thành định đọat.
5/. Kiện-tụng: Khi
có việc kiện-tụng rắc-rối đại
sự, Chức Việc Bàn-Trị-Sự đã
hết lời hòa-giải mà chẳng đặng,
đôi đàng vẫn cố tình tranh hơn
thiệt, hoặc vì quyền-lợi, hoặc vì
danh-thể cá-nhân có ảnh-hưởng đến
quyền dân-sự, thì chừng đó mới
buộc lòng để đôi đàng kiện
đến Tòa-án Quốc-gia.
Còn những vụ tranh-tụng
về phần Ðạo mà Bàn-Trị-Sự
hòa-giải không đặng, thì nên dùng
quyền điều-tra riêng với tánh-cách
vô tư, rồi phúc-sự nội-vụ lên
Lễ-Sanh Ðầu-Phận- Ðạo phân xử.
* Chú-ý:
Việc Hành-Chánh-Ðạo phải giữ đúng
trật-tự đẵng-cấp, Trưởng Thập-Nhị
Gia chăm sóc 12 gia-đình, Phó Trị-Sự
giáo-hóa một Ấp-Ðạo, Thông-Sự
gìn Luật-Pháp một Ấp-Ðạo, Chánh-Trị-Sự
có quyền giáo-hóa và sửa-trị trong
một Hương-Ðạo./.
-- Chung --