Thiết tưởng, Đạo nào cũng dạy
lánh dữ làm lành. Chủ-nghĩa mỗi Tôn-Giáo thảy đều cao thượng; nhưng nếu người
hành Đạo không noi theo một phương châm nào cho chánh đáng, tức nhiên Đạo cao
thượng cũng hóa ra như hèn, rồi lâu đời mối Chánh-Truyền phải mất.
Tôi vốn không từng viết văn, lẽ không nên làm sách, song nghĩ vì trách
nhiệm nặng nề, sở dĩ phải lược lục quyển sách " Phương Châm Hành Đạo " nầy,
mong rằng chư Đạo-Hữu lưỡng phái nam nữ nhứt tâm hành sự theo qui tắc chuẩn
thằng, thì rất may mắn cho nền Đạo, mà lại cũng là một điều hân hạnh cho tôi
lắm đó.
Mỗi lần thuyết Đạo, chư vị Thiên-Phong cũng nên đem quyển sách nầy ra đọc
cho chư Tín-Đồ nghe, rồi giải rành thêm cho mọi người dễ hiểu.
Tòa-Thánh Tây-Ninh, ngày 29 tháng 2 năm Mậu-Thìn
Thượng Đầu-Sư
Lê-Văn-Trung
Phương Châm Hành Đạo
Kỳ Hạ-Ngươn nầy là buổi
hiệp Tam-Giáo làm một, hầu đem về căn-bổn cho hiệp lẽ tuần-hườn; Đức Ngọc
Hoàng Thượng Đế lại dùng huyền-diệu Tiên-Gia giáng cơ giáo Đạo; thế thì chúng
ta lấy làm hữu duyên hữu phước mới sanh nhằm đời Đạo mở; muôn năm ngàn kiếp
mới có một lần như vậy; nếu chẳng thành tâm tu-niệm thì rất uổng cho cơ hội
nầy lắm đó.
Nhập môn cầu Đạo là để làm lành lánh dữ, dưỡng tánh tu tâm, lập công bồi
đức, cứu độ nhơn-sanh; chớ không phải vào Đạo để lấy phần đông, rồi kết phe
lập đảng rồi ỷ chúng hiếp cô cùng là xui mưu làm loạn. Kẻ vào Đạo chỉ mưu việc
quấy như vậy là muốn gây rối cho nền Đạo, tức là kẻ nghịch Đạo đó.
Muốn giữ Đạo cho trọn bổn phận, người nhập-môn rồi phải do theo " Tân-Luật
", lại cần phải " Làm lành lánh dữ " và " Trau-giồi đức-hạnh ".
1. Làm lành lánh dữ
Có người thuở nay không làm điều chi bất nhơn thất
đức, cứ một lòng ở thật ăn ngay; như vậy có đủ gọi là làm lành lánh dữ không?
Không đâu. Người ấy chỉ biết có lánh dữ mà thôi, nghĩa là chỉ có biết giữ mực
công bình (1) của nhơn loại vậy thôi, chớ chưa có chi gọi là làm lành.
((1) Mực công bình chỉ gom vô câu nầy: " Việc chi mình không muốn, thì mình
chẳng nên làm việc ấy cho ai ". Bao giờ mình lại muốn việc dữ đến cho mình;
thế thì mình chẳng nên làm dữ với ai cả. Cho nên không làm dữ là giữ mực công
bình vậy thôi, chớ chưa đủ gọi là lành đặng.)
Muốn trọn hai chữ làm lành, phải cứu nhân độ thế. Kinh Phật dạy cứu nhân độ
thế mà không giải rành là sao, thành ra nhiều vị tu hành không để ý đến, chỉ
biết có một phép từ bi thanh tịnh là gốc.
Sao gọi là cứu nhân độ thế? Cứu nhân độ thế là cứu cấp những người đương
hồi khốn cùng, hoạn nạn. Ai đói mình cho ăn, ai khát mình cho uống, ai đau
mình giúp thuốc, ai thác mình thí hòm, ai lạc nẽo mình chỉ đường, ai buồn rầu
mình an ủi, ai kiện thưa tranh-đấu mình kiếm chước giải-hòa; bắt cầu bồi lộ
cho hành khách tiện bề qua lại; in kinh thí điển, thiên thơ cho mọi người coi
theo hầu cải tà qui chánh, vân vân... Vậy mới gọi là cứu nhân độ thế, song
chẳng nên bất cập, mà cũng đừng cho thái quá. Bất cập là khi nào mình giúp
người không trọn, có trước không sau, làm cho người sau rồi cũng phải khốn
cùng, hoạn-nạn như trước vậy. Thái quá là đụng ai giúp nấy, không xét coi kẻ
ấy có đáng giúp hay chăng, vì ở đời lắm người giả dối, quanh năm chỉ ỷ lại nơi
người nhơn thiện mà no cơm ấm áo. Giúp đỡ cho những kẻ ấy tức là giúp cho họ
dễ bề làm biếng, tiện thế ở không, tức là chưởng ác cho họ vậy. Vả lại, cứu
nhơn độ thế phải tùy dươn tùy sức mới đặng; giàu cứu độ theo phận giàu, nghèo
cứu độ theo phận nghèo. Theo lời giải trước kia, cứu nhơn độ thế có nhiều
cách; có của thí của, không của thí công; của công ví đặng thiệt lòng, cân lại
cũng đồng âm-chất.
2. Trau-giồi đức hạnh
Người giữ Đạo không những làm lành lánh dữ là
đủ, lại còn phải trau-giồi đức-hạnh thì nhơn cách mới hoàn toàn. Đức-hạnh là
điều cần nhứt của bực tu hành. Thành Tiên, thành Phật cũng nhờ đức-hạnh, vì
thuở nay chưa từng nghe có Tiên Phật nào mà không hoàn toàn đức-hạnh.
Thái-Thượng khuyên lập đức, Khổng-Thánh dạy tu thân, lập đức tu thân là
căn-bổn của Tôn-Giáo. Muốn vẹn bề đức-hạnh, ngoài ra đạo Tam-Cang Ngũ-Thường
( Đạo Tam-Cang Ngũ-Thường đã có nhiều sách giải rồi, tưởng không cần luận
ra đây cho choán giấy.) ta lại cần phải giữ sao cho đặng khiêm-nhượng,
nhẫn-nại, thuận-hòa, kiên-tâm, thanh-liêm, thì mới gọi là khắc-kỷ (Khắc-kỷ
là thắng mình ( la maitrise de soi ) là đè ép được tánh tình chẳng tốt.
),mới gấm-ghé đặng phẩm-vị Thần Tiên vậy.
a. Khiêm-nhượng
Sao gọi là khiêm-nhượng? Khiêm-nhượng là hạ mình
để nhượng người, tặng người trên mình vậy. Đấng Chí-Tôn có dạy rằng: " Hạnh
khiêm-nhượng là hạnh yêu dấu của Thầy ... Các con phải cho khiêm-nhượng mới độ
rỗi thiên-hạ đặng ".
Kẻ tài sơ mà biết khiêm-nhượng, người bác-học mới vui dạ dắt dìu; người
bác-học mà biết khiêm-nhượng, kẻ tài sơ mới đem lòng mến phục. Nên biết rằng
dầu mình tài cao trí sáng đến bực nào đi nữa, cũng có người khá giỏi hơn mình.
Vả lại, nếu đem cái sức học hữu hạn của mình mà so sánh với biển Thánh
minh-mông, rừng nhu thăm-thẳm thì có thấm tháp vào đâu mà mong tự đắc. Vì vậy,
mà Thánh-Hiền xưa có nói: " Học chừng nào, càng thấy mình dốt chừng nấy ".
Thánh-Hiền xưa thì vậy, con người đời nay, phần nhiều hễ mở miệng ra đà khoe
mình giỏi, không đợi ai khen; cái tánh tự kiêu ấy làm cho lòng dạ tối-tăm, có
mắt mà không biết thấy, có trí mà không biết suy, vì vậy nên hễ việc chi của
mình làm, lời chi của mình thốt đều cho là phải cả, rồi hiu-hiu tự-đắc, xem
người như không có; ai nói cũng không nghe; ai khuyên cũng không nạp; ai trách
lại không dung.
Kẻ tự kiêu là ngu-xuẩn thì không quan-hệ chi, vì đã là ngu-xuẩn thì không
ai thèm phục; cho nên kẻ ấy không làm hại đến ai, chỉ có làm trò cho thiên-hạ
cười chơi vậy thôi. Đến như kẻ tự kiêu mà tài giỏi thì rất nên nguy-hiểm, vì
kẻ ấy đủ tài lực chuyên chế cả hạng người tinh-thần yếu ớt rồi một mình làm
quấy kéo cả bọn quấy theo; một mình nghị sai hại cả một đoàn sai cả. Có câu
rằng: " Thiên-Đạo ố dinh nhi ích khiêm ". Nghĩa là : " Đạo Trời ghét đầy mà
thêm vơi, nghĩa là ghét kẻ tự-kiêu mà giúp cho người khiêm-nhượng ". Quí hóa
thay hạnh khiêm-nhượng! Nguy-hiểm thay tánh tự-kiêu!
b. Nhẫn-nại
Đức nhẫn-nại là đức nhịn-nhục. Người biết
nhẫn-nại không đua tranh cãi-cọ với ai, cứ giữ thái-độ ôn-hòa, ai nhạo-báng
không hờn, ai chê bai chẳng giận.
Việc chi mà hai bên phải xung đột kịch liệt nhau, nếu một đàng biết
nhẫn-nại thì việc cũng hóa êm, tỉ như hai đầu dây, một bên thẳng, một bên dùn,
thì chẳng hề dây đứt. Nên biết rằng, nhẫn-nại không phải là xấu, chỉ muốn xuôi
mọi việc mà thôi, cho nên phương-ngôn có câu: " Một câu nhịn bằng chín câu
lành ".
Đức nhẫn-nại rất cần ích cho mọi người, nhứt là cho người hành Đạo, vì
người hành Đạo thường hay gặp điều khó-khăn gay trở, nào là kẻ nầy vấn nạn,
nào là người kia công-kích, nếu không nhẫn-nại cho qua buổi, chi cho khỏi sanh
ra lắm cuộc dở-dang bất-hòa, mà hễ bất-hòa thì còn mong chi độ người cho được.
Thuở trước có một người trong hàng đệ-tử Đức Thích-Ca xin đi truyền Đạo,
Đức Phật hỏi rằng:
" Nếu truyền giáo người ta không nghe, còn trở lại mắng nhiếc, thì hiền-đồ
liệu sao?"
Thưa: " Nếu ai mắng nhiếc, thì đệ-tử chắc rằng người ấy là người
tốt, vì họ không đánh đập ."
Hỏi: " Nếu họ đánh thì hiền-đồ liệu
sao?"
Thưa: " Đệ-tử cũng cho họ là lành tốt, vì họ chỉ đánh đập chớ chưa hề
đâm chém."
Hỏi: " Nếu họ đâm chém thì hiền-đồ liệu sao?"
Thưa: " Đệ-tử
cũng cho họ là lành tốt, vì họ không đành lòng chém đệ-tử đến chết."
Hỏi: "
Nếu họ chém chết mới liệu sao?"
Thưa: " Đệ-tử sẽ cho họ là người ơn, vì nhờ
họ đệ-tử khỏi đau đớn mà thoát được cái xác thịt thúi hôi tù túng nầy."
Ấy
là một gương nhẫn-nại chúng ta nên noi theo trong mảy mún để đi truyền Đạo.
c. Thuận-hòa
Sách có câu: " Địa lợi bất như nhơn hòa ". Nghĩa
là: " Đất lợi chẳng bằng người hòa ". Cho nên gia-đình nào mà chẳng thuận-hòa
thì gia-đình ấy chẳng đặng yên ổn; chồng trách vợ, vợ hờn chồng, gia-đạo không
thành, rồi ra lắm điều cắn đắng.
Thân-tộc nào chẳng thuận-hòa, tức là thân-tộc ấy phải mất niềm tương hảo,
rồi đối với nhau không những là không mật thiết, mà lại còn chống trả nhau,
trách thiện nhau, nghịch lẫn nhau cho tương-tàn cốt-nhục.
Xã-hội nào mà chẳng thuận-hòa tức là xã-hội ấy phải đảo điên rối-rắm chẳng
chi là trật-tự, công-bình, rồi mạnh đè yếu, trí hiếp ngu, lê thứ phân-vân, dân
tình ly-loạn.
Tôn-giáo cũng như một gia-đình, một thân-tộc, một xã-hội vậy. Tôn-chỉ Đạo
dầu cao-thượng đến đâu đi nữa, nếu người hành Đạo không được thuận-hòa, nền
Đạo tức phải vì đó mà nghiêng đổ. Nền Đạo tỷ như nhơn thân, mỗi người hành Đạo
chẳng khác nào một phần trong thân ấy. Giác-quan, tạng-phủ thảy đều ăn chịu
nhau, nương cậy nhau cả, thì người cùng chung một Đạo cũng phải ăn chịu nhau,
nương cậy nhau mới được. Xét đến lẽ ấy rồi, người đồng Đạo phải biết thương
nhau, cư xử nhau cho hết dạ thuận-hòa, trên dạy dưới tuân lời, dưới khuyên
trên vui dạ, mỗi việc chi trong Đạo đều chung trí nhau tính bàn rồi mới nên cử
sự thì bề thi thố đã không sơ-sót, mà tình đồng Đạo càng thêm mật thiết; như
vậy mới tránh khỏi " cái hại chia phe lập đảng " mới không lỗi câu "đồng Đạo
tương phân ".
Tóm lại, đã gọi là đồng Đạo, phải bỏ hết những thù hiềm ngày trước, mà
liên-lạc nhau, ỷ-y nhau đồng tâm hiệp-lực vụ một chữ " Hòa " mà lo điều công
ích cho nhơn sanh, thì Thiên-Đạo mới chóng hoằng khai, sanh chúng sau nầy mới
gội nhuần ân-huệ.
d. Kiên-tâm
Có người thuở nay thường mang tiếng " làm chi
không nên việc ". Bất câu việc gì, lúc ban đầu thì hô-hào sốt sắng, rồi không
bao lâu lại thối chí, ngã lòng thành ra cuộc bán đồ nhi phế (bán đồ nhi phế
là giữa đuờng mà bỏ, nghĩa là làm không nên việc): ấy là tại không hay
chịu cực và chẳng biết kiên tâm (bền lòng). Việc thế mà còn vậy, hà huống là
việc tu-hành khổ hạnh? Cho nên bực tu-hành cần phải biết kiên tâm trì chí hơn
người ở thế mới nên cho; khó-khăn phải rán, cực khổ phải cam, thì mới mong giữ
tròn bổn phận.
Nghĩ coi, muốn làm quan cần phải xôi kinh nấu sử khuya sớm nhọc nhằn từ
mười năm sắp lên mới đặng, hà huống là muốn đạt phẩm vị Thần Tiên, thì bảo sao
không phải cần lao khổ hạnh? Cho nên ngạn-ngữ có câu: " Chí công mài sắt
chầy ngày nên kim ".
Chư Đạo-hữu cần phải nhắc nhở nhau về hạnh nầy cho lắm.
e. Thanh-liêm
Thánh-Nhơn có câu: " Lấy của trái lẽ thì mất
đức thanh-liêm ". Thế thì hai chữ thanh-liêm không những chỉ về quan viên mà
thôi, mà lại chỉ chung về cả dân tình cùng người tu niệm nữa. Thanh-liêm là
gì? Là giữ mình cho trong sạch, không tham lam của ai. Làm quan thanh-liêm,
trị dân mới công-bình, chánh-trực; rồi dân sự mới khỏi vì thế lực kim tiền mà
bị kẻ bô lương đè ép. Làm dân mà đặng thanh-liêm trong xứ mới khỏi lo trộm
cướp. Làm Đạo mà vẹn đức thanh-liêm, thì lương-tâm mới khỏi cắn rứt.
Tài-chánh của Đạo vốn là của chung trong bổn đạo chớ không phải riêng ai;
cho nên người hành Đạo chẳng phép lấy của chung mà xài riêng cho mình đặng.
Người nào lợi dụng danh Đạo mà thủ lợi; hoặc cậy quyền thế ép buộc chư
Tín-Đồ tốn kém vì mình, hoặc là thâu đa nạp thiểu, thì mất hẳn đức thanh-liêm.
Hễ mất đức thanh-liêm thì bao nhiêu công-lao tu-niệm của mình nơi Tiên-thơ
thảy đều bị bôi xóa. Cử-chỉ người hành Đạo cần phải cho minh-chánh: như phận
sự mình hay về việc lý-tài, thì xuất phát đâu đó cần phải phân minh; lại cũng
chẳng nên tự chuyên lấy của chung mà làm việc chi tùy ý mình; giữ đặng vậy,
trên chẳng hổ với Đấng Chí-Tôn cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, dưới lại đặng
lòng tin-cậy của chư Đạo-Hữu cùng tránh khỏi những việc hiềm nghi của chư vị
hảo-tâm thiện-tín.
Ở đời, người ta cần
phải giao tiếp (Giao-tiếp là lân-la lai vảng cùng nhau.) với nhau; đối
với chư Đạo-Hữu, sự giao tiếp ta lại có cái tình liên-lạc chí thành, cái nghĩa
tương thân chí thiết. Giao tiếp mà chi? Là để dìu-dắt nhau, nâng-đõ nhau trong
đường Đạo và đường đời, anh lớn chỉ biểu cho em nhỏ, người rõ Đạo bày vẽ cho
kẻ chưa thông; người nầy lầm lỗi kẻ kia chỉ giùm; dưới vui tuân lệnh trên dạy;
trên không hổ cho dưới bày; lấy lẽ hòa nhau, trên khiêm dưới kỉnh; vui-vẻ
chung nhau, buồn thảm sớt nhau giao lưng đâu cật mà bồi đấp mối Đạo Trời cho
rõ là con một cha, chung thờ một chủ nghĩa.
Đấng Chí-Tôn có giáng cơ dạy như vầy:
" Chẳng quản đồng tông mới một nhà,
Cùng nhau một Đạo, tức cùng
Cha.
Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,
Dạy lẫn cho nhau đặng chữ
hòa ".
Trong đường giao thiệp, ta cần phải lấy hết tấm lòng bác-ái
(Lòng bác-ái là lòng đại từ-bi thương xót sanh linh hơn thân mình.),
đem hết tất dạ chí thành, (Chí-thành là mỗi việc đều lấy lòng thành-thật mà
đối đãi nhau trong đường Đạo và đường đời.) mà đối-đãi nhau, thì đạo-tâm
ta mới biểu lộ ra cái gương chân chánh. Đồng Đạo mà chẳng biết thương nhau,
chẳng vảng lai thù tạc nhau, cứ nhà ai nấy ở, ai khôn dại mặc ai, ai hoạn nạn
thây ai, bo bo cứ giữ câu " Độc thiện kỳ thân " (Độc thiện kỳ thân là lo
cho một mình mình lành mà thôi.) thì trái hẳn với chủ- nghĩa Đại-Đồng
(Đại-đồng là cả thảy nhân-loại đồng một thể với nhau / Grande Unité
humaine.) của Đạo Trời làm đó.
1. Tín-Đồ
Đứng vào hàng Tín-Đồ, cần phải kính tuân chư chức-sắc
Thiên-Phong, vì chư Thiên-Phong là người đã thọ lãnh nơi Thượng-Đế một cái
thiên-chức đặc-biệt để thông truyền chánh giáo; người vẫn có cái quyền sai
khiến chư Tín-Đồ về việc phải trong Đạo. Dầu bậc Thiên-Phong mà tài sơ tuổi
nhỏ hơn mình đi nữa, hàng Tín-Đồ cũng chẳng nên hổ mình tùng sự, hoặc là vượt
bực khinh khi ganh-gổ, vượt bực khinh khi ganh-gổ tức là buộc vào mình cái tội
vị linh cùng Thượng-Đế vậy.
Vả lại, chức-sắc Thiên-Phong chỉ có cái giới hạn trong khi hành sự mà thôi,
ngoài ra toàn là người đồng đạo với nhau, tức là Đạo-hữu với nhau vậy.
2. Chức-sắc
Đối với hàng Tín-Đồ, chư chức-sắc Thiên-Phong cần phải có
cái hạnh khiêm-cung từ nhượng; phải dùng lời dịu ngọt mà dạy-dỗ kẻ dưới quyền
mình; phải lấy nét ôn hòa mình điều độ nhau; phải chỗ khiến thì khiến; không
phải việc sai chớ nên sai, đừng làm điều chi quá phận sự mà ra lẽ chuyên
quyền. Chẳng nên tự cao, tự phụ; mình may nhờ tiền căn cựu-phẩm hoặc là công
cả quả dày nên mới được chức Thiên-Phong, biết đâu trong hàng Tín-Đồ lại không
có người tài cao đức trọng hơn mình?
Chư Chức-sắc và chư Tín-Đồ mà đối đãi nhau cho có thái-độ ôn-hòa thảo-thuận
thì trên không chinh, dưới không mích, ấy là một lễ hiến cho đấng Chí-Tôn rất
long trọng đó vậy.
1. Đối với Quan-viên Chức-sắc
Quan-viên chức-sắc là bậc thay quyền
Chánh-Phủ để điều đình việc chánh-trị và hoài-bảo cuộc an bình trong nước. Thế
thì phận tôi dân ai lại không kính trọng quan-viên, nhứt là kẻ thành tâm tu
niệm lại cần phải kỉnh tùng hơn nữa. Tại sao vậy? Vì người tu niệm, đối với
bực quan-viên chức-sắc, vẫn có hai phương-diện: một là phương-diện người giữ
đạo đối với hàng trưởng thượng, hai là phương-diện bực thần dân đối với hàng
quan lại. Người giữ đạo đối với hàng trưởng thượng phải giữ sao cho có
lễ-nghĩa, khiêm-nhường; trên dạy điều phải đạo, dưới thành thật vâng theo;
trên bày điều trái lẽ, dưới cung kỉnh chối từ; chớ nên nói năng vô lễ, vượt
bực loạn hàng. Giữ được vậy, không những người trên thương mến, chúng bạn ngợi
khen, lại còn làm cho rỡ-ràng danh Đạo thêm nữa.
Bực thần dân đối với hàng quan lại cũng không ngoài cái phạm-vi lễ-nghĩa,
khiêm-nhường. Quan-viên chức-sắc trong khi hành sự, dạy điều chi kẻ dưới phải
tuân theo, vì người thay quyền cho Chánh-Phủ; vi lịnh người tức là vi lịnh
Chánh-Phủ, mà lịnh Chánh-Phủ thì chẳng khi nào trái cải đặng. Nhưng quyền hành
của quan-viên chức-sắc cũng không ngoài giới-hạn của Luật định cho; dầu vậy
mặc dầu, nếu quan-viên nào chuyên quyền áp chế, ta chẳng nên chống chỏi lại
liền, vì nếu chống chỏi lại liền, quấy phải gì sau sẽ hay, chớ trước hết ta đã
chịu một phần lỗi trọng trong ấy. Thế nào cũng còn có kêu nài nơi quan trên
nữa, vì luật-pháp Chánh-Phủ đặt ra, không những trừng trị kẻ thường dân mà
thôi, mà lại cũng trừng trị đến chư chức-sắc quan-viên nào chuyên quyền trái
lệ.
2. Đối với người khác Đạo
Một đôi khi người không thông đạo-lý, hay
tưởng rằng hễ vào Đạo rồi thì chỉ biết người trong bổn Đạo mà thôi, ngoài ra
không chịu giao thiệp với người khác Đạo, thậm chí đến đỗi khi thị không khứng
làm ăn chung với người ta nữa. Tưởng vậy rất lầm; Đạo gốc tại lòng bác-ái;
tôn-chỉ Đạo là cứu nhơn độ thế, nghĩa là cứu vớt cả sanh-linh, xót thương cả
nhơn-loại, chớ không phải riêng người trong Đạo mà thôi. Nhiều vị chưa vào
Đạo, là tại chưa rõ tôn-chỉ Đạo Trời cao-thượng thể nào, chớ biết đâu trong
phần đó lại không có lắm bực nhơn-từ đạo-đức. Vì vậy nên, khi thị người ngoại
Đạo thì rất lầm, không giao-thiệp với người ngoại Đạo là trái tôn-chỉ đó.
3. Đối với người nghịch Đạo
Bất câu là Đạo nào, hễ mới khai ra tất
phải gặp lắm điều gay trở. Khi Đức Thích-Ca truyền Đạo, dân Bà-la-môn ( Brahma
) cho là Bàn-Môn vì khác chánh-giáo Phật-Đạo buổi ấy; khi Đức Lão-Tử truyền
Đạo, kẻ đồng thời cho là phép mê hoặc; khi Đức Chúa Giê-Su truyền Đạo, nhà
Israel gọi là cải chánh Đạo, đến đỗi bắt giết đi, bảo sao ngày nay chúng ta
lại không chịu lắm điều khó khăn gay trở?
Mặc tình ai bẻ bai nghịch Đạo, miễn không chuyên chế cùng không làm điều
chi can danh phạm nghĩa đến ta, thì ta cũng nên giữ tròn thái độ ôn-hòa,
lễ-nghi, rốt cuộc rồi họ phải hổ mình mà tự hối.
Vả lại, mình vào Đạo là mình đã biết tôn-chỉ tối cao của Đạo, người nghịch
Đạo là người không hiểu đến, vì " lộ bất hành bất đáo "; thế thì người biết
Đạo mà ra đua tranh, cãi cọ với kẻ không biết, đã chẳng bổ ích vào đâu, lại
còn mất ngày giờ vô lối.
Chư Thiên-phong là người đã thọ lãnh một trách-nhậm
rất lớn lao để phổ-thông Thiên-Đạo. Người ngoài cho Đạo mình chơn chánh cùng
chăng là do nơi cử-chỉ hành-động của người làm Đạo. Vì vậy, nên người đi
truyền Đạo cần nhứt phải giữ cho tròn phận sự của mình, một là làm sao cho
sáng Đạo Trời, hai nữa để làm gương cho đoàn em bắt chước.
Người đi truyền Đạo cần phải đủ tư-cách tu-hành thì nhơn tâm mới phục.
1. Thuyết Đạo
Mỗi lần thuyết Đạo, cứ theo chánh lý giải bày, chẳng nên
tôn trọng Đạo mình thái quá mà mục hạ đến Tôn-Giáo khác; chẳng đặng luận bàn
quốc-sự; chẳng đặng bày điều huyễn hoặc làm cho náo động lòng người cùng mất
cuộc trị bình trong nước; chẳng đặng dùng thói dị-đoan mê-tín mà mê-hoặc lòng
người. Trong khi thuyết Đạo, nếu ai kích-bác mà dùng lời khiêm-từ tao nhã,
mình cũng nên giữ lấy thái-độ ôn-hòa mà đối đáp. Trừ ra kẻ nào vô lễ thì mình
phải nhịn mà làm thinh, song chẳng nên hờn giận.
2. Khai Đàn
Khi đến khai đàn làm lễ thượng trang cho người mới vào
Đạo, trước hết phải xem coi cuộc sắp đặt nơi Thiên-bàn có nghi-tiết và
tinh-tấn chăng? Nghi-tiết phải sắp đặt theo cách thờ phượng của Đại-Đạo Tam-Kỳ
Phổ-Độ; chư Thiên-Phong chứng đàn không được phép tự chuyên canh cải nghi-tiết
theo ý muốn của mình. Chẳng nên để cho đàn-chủ tốn kém tiền chi vì mình hết.
Chẳng đặng phép thâu góp tiền chi của ai cả; dầu ai muốn gởi tiền cúng về
Thánh-Thất hoặc là nhang đèn cũng chẳng đặng lãnh thế ( ai hảo tâm đến
Thánh-Thất mà cúng ); như vậy mới tránh khỏi hiềm nghi dị-nghị. Chức-sắc hành
Đạo mà giữ đặng cử chỉ minh chánh như vậy, không những là chư Tín-Đồ tùng
phục, mà người ngoại Đạo trông vào cũng chẳng lời chi bác bẻ.
Mỗi lần khai đàn, chẳng nên nhóm quá số hai mươi người, trừ ra khi nào có
phép quan cho thì mới nên nhóm nhau đông-đảo.
Hành Đạo mà giữ tròn phận sự, biết kiêng phép nước, biết giữ luật hình, thì
quyền tự-do tín-ngưỡng của mình mới không ai phạm đến.
Vào
Đạo rồi, chớ nên lầm tưởng rằng nhà mình có lập vị thờ Thượng-Đế, mỗi bữa cúng
tứ thời là đủ; cần phải đến Thánh-Thất hầu đàn vì đâu cũng Thầy vậy.
Nghĩ như thế rất sai. Thánh-Thất là nhà thờ chung lập ra cho chư Đạo-hữu
tới ngày sóc vọng (Thánh-Thất một tháng tới hai kỳ đàn lệ.) tựu đến,
trước là dưng đại lễ cúng Thầy cùng nghe thuyết Pháp, sau nữa là có dịp cho
mình hội hiệp nhau để luận bàn đạo-đức cùng xe chặt mối tương thân.
Thánh-Thất lại là nơi biểu-hiện nền chơn Đạo của Đấng Chí-Tôn. Do đó, mà
nhơn-sanh mới biết cách hành Đạo, cùng cách sắp đặt đạo-nghi niêm-thức của
mình ra thể nào; do đó, mà Đạo mới dễ phổ-thông. Cho nên ngày sóc vọng chư
Đạo-hữu nơi nào cần đến Thánh-Thất nơi đó hầu đàn cho đông đảo, thì Đạo mới ra
vẻ thạnh hành. Nếu mỗi người cứ nói ở nhà cũng có Thầy, rồi nhà ai nấy cúng
mãi, thì Thánh-Thất tất phải bỏ không, ấy có phải là điều đại quan-hệ cho nền
Đạo lắm chăng?
Có người lại lầm tưởng rằng hễ nhập-môn nơi Thánh-Thất nào cứ hầu đàn nơi
đó, còn mấy Thánh-Thất khác không cần phải đến. Xin phải biết rằng, Thánh-Thất
nào cũng thờ một Đấng Chí Tôn mà thôi; Thánh-Thất nào cũng là Thánh-Thất chung
của Đạo, chớ không phải của riêng ai mà phòng nói Thánh-Thất nầy Thánh-Thất
nọ. Giả sữ như khi trước chỗ mình ở chưa lập Thánh-Thất, mình phải nhập môn
nơi khác. Nay chỗ mình có Thánh-Thất rồi, mình nên hầu đàn chỗ mình cho tiện
hơn, một là khỏi mất công đi xa, hai là khỏi tốn tiền lộ phí.
Còn các Thánh-Thất khác ở xa, như mình có dịp đi đến, lẽ cũng nên ghé vào,
một là làm lễ Đấng Chí-Tôn, hai nữa cho biết chư Đạo-hữu nơi đó.
Tóm lại, vào Đạo rồi cần phải năng đến Thánh-Thất hầu đàn, trừ ra khi bận
việc nhà, mới nên vắng mặt.
Cúng
tế Trời Phật qui tại lòng thành kỉnh. Chư Đạo-hữu nam nữ, chư Nhu, chư Tín-nữ
đến hầu đàn phải cho tinh-khiết nghiêm-trang.
Vậy thì:
Trước khi đến hầu đàn, phải dọn mình cho sạch-sẽ, hết lòng thành kỉnh mà
khẩn nguyện cùng Trời Phật. Đến đàn rồi, phải giữ lễ nghi cho thiệt
nghiêm-trang.
Trước khi chỉnh đàn, không đặng ở trước Thiên-bàn mà giởn cợt hay là nói
điều chi hoại sự cùng là khạc nhổ trong đàn.
Dầu chỉnh đàn rồi, dầu chưa chỉnh đàn cũng vậy, nam nữ phải cho phân biệt
thứ tự hẳn hòi; cứ trong ngó ra, thì nam tả, nữ hữu, không được lộn xộn, không
phép nói cười lả lơi, không đặng lời to tiếng nhỏ, không đặng phép đem chuyện
người ngoài mà thuật lại, không đặng luận bàn quốc sự, không đặng đồn-đãi điều
chi huyễn-hoặc, không đặng nhắc chuyện bất bình buổi trước mà cải lẫy nhau,
không đặng hơn thua rầy rà, không đặng nói chuyện của Đạo-hữu vắng mặt, không
đặng dùng lời quanh co xoi bói nhau, không đặng gìn ý nói chơi mà kỳ trung
châm chích nhau, không đặng đem lên đàn những sách vở chi khác hơn là sách vở
mà Hội-Thánh đã phê chuẩn.
Khi nhập đàn
Nhập đàn phải khăn đen áo dài; môn-đệ của Đấng
Chí-Tôn thì sắc phục cứ tuân theo Thánh-ý, mỗi người ai phải lo phận nấy, giữ
cho khỏi vô lễ với Đấng Chí-Tôn cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.
Chỉnh đàn rồi, phải phân hàng đứng hầu lẳng lặng, khi cúng phải cho đại
tịnh.
Ai mặc âu-phục thì quần áo phải đoan trang theo phép Âu. Nhập đàn rồi, phải
đi chơn không, không đặng hút thuốc, không đặng ăn trầu.
Những người uống rượu lỡ thì không nên nhập đàn. Hầu đàn thì thân thể phải
cho tinh sạch, lòng dạ kỉnh thành. Việc tinh-khiết cùng chẳng tinh-khiết trong
mình, thì ai biết nấy, chớ người nào khác hơn mình thì không thế rõ đặng. Ai
đến lỡ mà trong mình không tinh-khiết thì chẳng khá nhập-đàn, e mang lỗi cùng
Trời Phật.
Trước khi cúng Đấng Chí-Tôn, thường có thuyết Đạo, thì cả thảy phải
lẳng-lặng mà nghe. Ai có điều chi không hiểu hay là không vừa ý, thì chờ
thuyết-giả nói hết rồi mới hỏi lại, chẳng đặng cải cọ giữa chừng. Còn xin hỏi,
thì ai xin nấy hỏi, mấy Đạo-hữu khác không đặng xen vào cãi lẫy. Như ai có
muốn cãi, muốn hỏi điều chi, thì phải xin phép thuyết-giả, chớ không đặng
người nầy nói, người kia cãi om-sòm, thì là vô lễ lắm.
Khi cúng cùng là khi thuyết Đạo, Đạo-hữu nào còn ở hậu đường cũng phải giữ
cho êm tịnh, không đặng làm rầy-rà, cùng đi đứng lộn xộn, khua guốc, khua giày
lộp-cộp, lạc-cạc.
Sách kinh luật-lệ trong Đạo chẳng khác nào ngọn đèn
để soi tỏ bước đường cho người giữ Đạo.
Người ít học cần năng đọc sách xem kinh, một là mở-mang kiến-thức cho mình,
hai đặng rõ thông đạo-lý. Luật Đạo là quy-tắc dọn sẵn để mọi người do theo mà
hành Đạo cho có chuẩn thằng, cho khỏi phạm điều giới cấm. Có người nhập-môn
rồi mà không lo học hỏi theo kinh sách, giữ mình theo luật-lệ; mỗi ngày miễn
cúng tứ thời là gọi đủ, rồi than phiền rằng vào Đạo rồi mà không thấy ai chỉ
bày tâm-pháp đạo-lý chi hết. Than phiền như vậy rất sai lầm, vì số bổn đạo vẫn
hằng ức hằng triệu, ai hơi đâu chỉ biểu từng người. Thiên thơ sẵn, chơn kinh
sẵn, tại mình không thỉnh mà xem để than phiền trái lẽ.
Đó là phần người ít học. Còn phần người trí-thức, tuy mình tài cao trí rộng
mặc dầu, chớ mới bước chơn vào cửa Đạo, không thể nào hiểu Đạo cho rành, mà
dầu có hiểu thông đạo-lý đi nữa, cũng nên xem kinh sách nào thuở nay mình chưa
đọc đến, vì kinh sách ấy có lẽ cũng giúp thêm kiến-thức cho mình nhiều ít.
Vả lại, tuy mình tài trí mặc dầu, chớ mới đầu cơ, thế nào hiểu thấu tôn-chỉ
cùng luật-pháp đạo mầu cho rành-rẽ. Ví dụ, như một vị thông-minh kia sang đến
xứ lạ nọ, muốn biết đường sá nơi ấy, cần phải hỏi thăm người bổn thổ, chớ có
đâu tự-phụ mình là người thông-thái không cần chi phải hỏi han đến kẽ thường
nhơn thiểu học. Việc Đạo cũng vậy; mình giỏi là giỏi về phương diện khác mà
thôi, chớ mới bước vào cửa Đạo, tức cần phải hỏi Đạo nơi người thông Đạo trước
mình, hoặc là học cứu nơi kinh sách. Đến khi rõ thông đạo-lý rành-rẽ rồi, nhờ
trí-thức của mình ra công nghiên-cứu thêm nữa, có lẽ mình sẽ trổi hơn người đã
chỉ dẫn cho mình trước đó, rồi mình có thể trước tác ra nhiều sách vở có
giá-trị hơn sách vở mà mình đã xem trong buổi nhập-môn cầu Đạo.
Kinh sách vẫn do nơi các Ngài rõ thông đạo-lý soạn ra,
song các bực ấy vốn cũng người phàm như mình (1) nên cũng có chỗ sai
lầm sơ sót; vì vậy mà kinh sách tự nơi mấy vị ấy soạn ra cũng có chỗ khuyết
điểm sai lầm. Vả lại kinh sách làm ra phải hạp thời tùy thế. Có nhiều quyển
kinh xưa sách cũ đối với đời trước thì rất hạp thời, mà với đời nay lại có lắm
điều không hạp. ( Tác-giả không trưng bằng cớ ra đây là không muốn kích bác
đến kinh sách nào cả. )
Vậy nên muốn đọc kinh sách nào cho được bổ ích, là cần biết suy nghĩ
nghiên-cứu, khoản nào chánh lý để lòng, đoạn nào mơ-hồ chớ nên tin vội, chỗ
nào hạp theo thời thế thì nghe, khoản nào nghịch với tôn-chỉ mình thời bỏ.
Chẳng nên quá tin nơi kinh sách, chớ nên tưởng rằng kinh sách của Thánh-Hiền
làm ra cả thảy, nên dạy sao phải nghe nấy; đọc sách như vậy thì nguy hiểm đó.
Kinh sách có chỗ đáng tin, mà có chỗ cũng không nên tin vậy; nếu tin hết thì
phải lầm lạc; đọc kinh sách mà không biết phân biệt điều nào hữu lý, điều nào
phi lý, đọc kinh sách mà trí-thức không biết mở-mang, tư-tưởng không biết dò
lượng, thành ra đã tổn công vô ích lại còn làm nô-lệ cho kinh sách nữa; như
vậy thà là đừng đọc là hơn. Sách có câu: " Tận tín thơ bất như vô thơ ". Nghĩa
là : "Tin hết sách chẳng bằng ( không ) đọc được sách ".
Thuở nay, nhiều người quá tin nơi kinh sách điển xưa, cứ nhắm mắt tin theo
từng chữ, nghe từng câu, rồi hiều sái; tin lầm, khổ tâm luyện Đạo. Than ôi ! Đã
không ấn-chứng thì chớ, lại còn hại đến tinh-thần là khác. Ấy vậy, xem kinh
sách để rõ thông đạo-lý thì nên, chớ do theo đó mà luyện Đạo thì nguy lắm, vì
hễ hiểu lầm một mảy thì cũng đủ hại cho châu thân.
Muốn luyện Đạo cho ấn-chứng, trước hết ta cần phải tu âm-chất và lập công
bồi đức cho đủ đầy; đến khi công viên quả mãn rồi, một câu tâm-pháp
chơn-truyền của Thầy ta là Đức Ngọc-Hoàng Thượng-Đế cũng đủ cho ta hiểu Đạo.
Vả lại, Đức Thượng-Đế có dạy rằng: " Kinh điển giúp đời siêu phàm nhập
Thánh chẳng khác chi đũa ăn cơm. Chẳng có nó, kẻ ăn cơm bốc tay cũng ăn đặng
". Ý Đấng Chí-Tôn muốn nói như vầy: " Kinh điển tỉ như đủa, luyện Đạo tỉ
như ăn cơm. Người đủ âm-chất, đạo-đức mà rõ thông kinh điển, thì luyện Đạo rất
giản tiện, tỷ như người ăn cơm có đũa vậy. Còn người có đủ âm-chất, đạo-đức mà
không rõ thông kinh điển đi nữa bất quá luyện Đạo khó một chút vậy thôi, thế
nào luyện cũng thành đặng, tỷ như kẻ ăn cơm dầu không đũa, bốc ăn cũng xong
vậy".
Tóm lại, vào cửa Đạo rồi bất kỳ kinh xưa sách nay, thảy đều nên xem cho
biết, song cần phải xét suy chiêm nghiệm, phân biệt giả chơn, thì đọc mới là
bổ ích ./.
(1) Xin chớ lầm tưởng rằng kinh điển xưa vẫn là của Thánh Tiên làm
ra hết, dầu cho thiệt của Thánh Tiên đi nữa, chớ lúc soạn ra kinh điển ấy, các
Ngài cũng vẫ còn là phàm, thì tất phải còn lầm lạc