ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
 TÒA THÁNH TÂY NINH
 

 * * *

 

QUAN HÔN TANG LỄ

(tiếp theo)

 

Hội Thánh Giữ Bản Quyền
Ấn Bản
Năm Bính Thìn (1976)

 

In tại BẠCH VÂN Ấn Quán - Cơ Quan Phát Thanh nội ô TÒA THÁNH Tây Ninh.

 

* * *


Tang lễ của Chức Sắc Thiên Phong (Nam Nữ)

 

Phẩm:

  1. Lễ Sanh

  2. Giáo Thiện

  3. Sĩ Tải

  4. Cai Nhạc

  5. Bếp Nhạc

  6. Phó Tổng Giám

  7. Hiền Tài

 

Sơ Giải: Phẩm nầy được hành pháp xác, chèo hầu tại Khách Ðình (không chèo đưa). Hành lễ tế điện theo Thần vị, làm Tuần Cửu, Tiểu Tường, Ðại Tường. Bài thài theo hàng Thần.

Hội Thánh xây Kim tỉnh (không xây nấm), dựng một tấm mộ bia.

 

 A) Nghi tiết hành lễ

1. Hấp hối: Tụng bài Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối (Rắp nhập cảnh .......)

2. Tắt hơi: Tụng bài Kinh Khi Ðã Chết Rồi (Ba mươi sáu cõi ...........)

3. Tại Ðền Thánh hay Thánh Thất: Ðổ một (1) hồi trống chuông.

4. Thượng sớ Tân cố: Dâng sớ tại Ðền Thánh hoặc nơi Thánh Thất.

5. Nhập mạch: Tụng bài Kinh Tẩn Liệm (Dây oan nghiệt .......)

 

B) Di Linh Cữu vào Khách Ðình

1.      Bảng Ðại Ðạo.

2.      Phướn Thượng Sanh.

3.      Dàn Nam.

4.      Bàn Hương án, 1 lọng, có 2 Lễ Sĩ mặc áo màu xanh đậm phò vong.

5.      Ðồng nhi theo hầu, không đọc kinh.

6.      Thuyền Bát Nhã chở Linh cữu.

7.      Tang quyến.

Nơi Khách Ðình: Bái lễ Ðức Chí Tôn, Cáo từ Tổ, thành phục, phát tang, hành lễ tế điện theo Thần vị.

Như có các cơ quan Ðạo hoặc thân bằng cố hữu tế lễ thì làm nghi châm chước.

 

Cầu siêu: Tụng bài Kinh Cầu Siêu (Ðầu vọng bái .........), tụng xen bài Kinh Khi Ðã Chết Rồi (Ba mươi sáu cõi ..........), mỗi bài tụng 3 lần, niệm chú Chí Tôn 3 lần.

Lễ chèo hầu xong, Ðồng nhi tụng Di Lặc Chơn Kinh.

 

Ngày an táng: Hành lễ châm chước, lễ Cáo từ Tổ, tụng Kinh Cầu Siêu, một vị Chức Sắc làm phép xác, khiển điện, di Linh cữu ra thuyền Bát Nhã đi đến Báo Ân Từ, thỉnh Linh vị vào bái lễ Ðức Phật Mẫu (có đổ một hồi chuông), đến Ðền Thánh, cũng thỉnh Linh vị vào bái lễ Ðức Chí Tôn (cũng có đổ một hồi trống và chuông), trở ra đưa đến Cực Lạc an táng.

 

 C) Trật tự đưa đám

1.      Bảng Ðại Ðạo.

2.      Phướn Thượng Sanh.

3.      Ðồng nhi tụng Kinh Ðưa Linh, có đờn.

4.      Bàn Hương án, 1 lọng, 2 vị Lễ Sĩ hầu.

5.      Vãng, lụy.

6.      Thuyền Bát Nhã chở Linh cữu.

7.      Dàn Nam.

8.      Tang gia.

9.      Chức Sắc, Chức Việc, Ðạo hữu nam nữ.

  • Tại Cực Lạc: Ðại diện các cơ quan Ðạo đọc Ai điếu (nếu có).

  • Ðồng nhi tụng Kinh Hạ Huyệt, và chú Vãng Sanh 3 lần, niệm chú Chí Tôn 3 lần.

  • Giải tán

 

Phụ chú:

Trường hợp tang chủ muốn để nơi tư gia hành lễ, thì phải xin phép Hội Thánh.

 

Vị Chức Sắc qui liễu hành lễ tại tư gia, khi tụng Di Lặc Chơn Kinh, linh vị của Chức Sắc được để ngang chỗ vị Chức Việc chứng lễ, Nam tả, Nữ hữu.

 

Chư vị Hiền Tài thật sự hiến thân phế Ðời hành Ðạo, có lãnh phận sự do Hội Thánh bổ dụng, khi qui vị mới được đài thọ về phần cấp táng. Vị nào còn lo việc Ðời, không hiến thân hành Ðạo, thì phần tổn phí về cuộc tống chung, do gia đình người qui vị đài thọ.

 

Ngoài ra, vị Hiền Tài nào có ăn chay mỗi tháng 10 ngày, do Tờ Chứng Nhận của Bàn Tri Sự nơi đương sự cư ngụ, thì khi qui vị mới được Hội Thánh cho hành lễ theo hàng phẩm Lễ Sanh, còn vị Hiền Tài nào không có ăn chay, hoặc ăn chay dưới 10 ngày mỗi tháng, thì khi qui vị chỉ hành lễ Bạt tiến mà thôi.


 

CHÚ GIẢI

 

 

Tang lễ Chức Sắc Thiên Phong & Chức Việc Ðạo hữu qui liễu trong những ngày đã đưa Chư Thánh

 

Sau ngày lễ đưa Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật Triều Thiên (từ ngày 23 đến 30 tháng Chạp) nếu có:

Chức Sắc Ðại Thiên Phong từ phẩm Ðầu Sư và các phẩm tương đương trở lên qui thiên, thì được cử hành tang lễ tại Biệt Ðiện trong vòng (3) ngày (không di Liên Ðài vào Báo Ân Từ, Ðền Thánh, cũng như ra Cửu Trùng Thiên.

 

 

Nghi thức hành lễ

 

1. Thượng sớ Tân cố: Chức Sắc Cửu Trùng Ðài tại Giáo Tông Ðường; Hiệp Thiên Ðài và Phước Thiện tại Hộ Pháp Ðường.

2. Lễ Thành phục: Phát tang (có lập nghi Tổ Tông).

3. Lễ Tế Ðiện, Cầu Siêu, Nhập Bửu Tháp: Ðều được đọc kinh như thường lệ.

 

Chức Sắc Thiên Phong từ phẩm Chánh Phối Sư đổ xuống Giáo Hữu và các phẩm tương đương qui vị, thì hành lễ tế điện tại tư gia, không di Linh cữu vô Báo Ân Từ và Ðền Thánh, không chèo hầu, chỉ được chèo đưa. (Nếu không có tư gia thì hành lễ tại Khách Ðình).

 

Phẩm Lễ Sanh và các phẩm tương đương, Chức Việc và Ðạo hữu qui liễu, thì hành lễ cúng tế tại tư gia. (Nếu vị nào không có tư gia thì hành lễ tại Khách Ðình).

 

Các cuộc lễ Tế điện, Cầu siêu, Hành pháp độ thăng, an táng, đều được đọc kinh như thường lệ.

 

 Lễ Bái Chí Tôn, Thần, Thánh, Tiên, Phật và Vong Phàm

 

Người Ðạo Cao Ðài hễ khi lạy thì tay chấp bắt ấn Tý. Lạy Thần, Thánh, Tiên, Phật hay vong phàm tay cũng đều bắt ấn Tý.

  • Lạy Chí Tôn 12 lạy, lấy dấu Phật, Pháp, Tăng (3 lạy, mỗi lạy 4 gật).

  • Lạy Phật, Tiên 9 lạy, không lấy dấu Phật, Pháp, Tăng (3 lạy, mỗi lạy 3 gật).

  • Lạy Thánh, Thần 3 lạy suông (không có gật).

  • Lạy Vong Phàm 4 lạy (2 lạy quì, 2 lạy đứng).

  • Lạy người sống 2 lạy (lạy đứng).

 Bái Liên Ðài, Lễ Kỷ Niệm các vị Ðại Thiên Phong

 

Bái Liên Ðài tại tiền cũng như bái Linh vị Ðại Thiên Phong lúc làm Lễ Kỷ Niệm hàng năm: Tay bắt ấn Tý, lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm Thánh Danh vị Ðại Thiên Phong.

 


Tang lễ của Chức Việc và Ðạo Hữu (Nam Nữ)

Phẩm:

  1. Chánh Trị Sự

  2. Phó Trị Sự

  3. Thông Sự

  4. Luật Sự

  5. Hành Thiện

  6. Thính Thiện

  7. Tân Dân

  8. Minh Ðức

  9. Giáo Nhi

  10. Nhạc Sĩ

  11. Lễ Sĩ

  12. Ðầu Phòng Văn Khoa Mục

  13. Thơ Ký

  14. Tá Lý

  15. Ðạo Sở và Ðạo Hữu

Sơ Giải: Chức vị trên đây, nếu giữ trường trai hoặc thập trai, thì được làm phép xác, hành lễ tế điện theo nghi cúng vong thường, và được làm Tuần cửu, Tiểu Tường, Ðại Tường. Bài thài theo hàng vong thường.

 

 A) Nghi tiết hành lễ

1. Hấp hối: Tụng bài Kinh Cầu Hồn (Rắp nhập cảnh .........)

2. Tắt hơi: Tụng bài Kinh Khi Ðã Chết Rồi (Ba mươi sáu cõi ...........)

3. Tại Ðền Thánh hoặc Thánh Thất : Ðổ hai (2) hồi chuông trống.

4. Thượng sớ Tân cố: Dâng sớ tại Ðền Thánh hoặc Thánh Thất hay tư gia cũng được.

5. Nhập mạch: Tụng Kinh Tẩn Liệm (Dây oan nghiệt ...........)

 

Thân nhơn muốn đem Linh cữu vào Khách Ðình hay làđể nơi ttư gia tùy ý. (Nếu muốn đem vô Khách Ðình thì phi xin phép Hội  Thánh).

 

v. Thành phục: Thì phải hành lễ Ðức Chí Tôn, Cáo Từ Tổ, Tế Ðiện, đọc Ai chúc (Vợ tế chồng, hay con tế cha ... v...v....). Nếu có thân bằng cố hữu tế lễ, thì làm nghi châm chước. (1)

 

7. Cầu siêu: Tụng bài Kinh Cầu Siêu (Ðầu vọng bái Tây phương ...... ) tụng xen bài Kinh Khi Ðã Chết Rồi (Ba mươi sáu cõi Thiên Tào ........), tụng mỗi bài 3 lần, niệm chú Chí Tôn 3 lần. Kế tiếp tụng Di Lặc Chơn Kinh.

 

8. Lễ an táng: Hành lễ châm chước, Cầu siêu tụng kinh như trên, một vị Chức Sắc hành pháp xác, di Linh cữu ra thuyền Bát Nhã, đưa đi đến Báo Ân Từ, thỉnh Linh vị`vào bái`lễ Ðức Phật Mẫu (đổ 1 hồi chuông). Ðến Pền Thánh, cung thỉnh Linh vị vào bái lễ Ðức Chí Tôn (cũng có đổ 1 hồi chuông), trở ra đưa đi an táng nơi Nghĩa őịa.

 

 Trật tự đưa đám

1. Bảng Ðại Ðạo.

2. Phướn Thượng Phẩm.

3. Bàn vong, theo sau là bàn đưa

4. Ðồng nhi tụng Kinh Ðưa Linh, có đờn.

5. Thµyền Bát Nhã chở Linh cữu

6. Tang quyến

7.Chức Sắc, Chức Việc và Ðạo hữu Nam N

  • Tại Nghĩa Ðịa: Nếu có ai điếu thì đọc.

  • Hạ Huyệt: Tụng Kinh Hạ Huyệt và chú Vãng Sanh 3 lần, niệm chú Chí Tôn 3 lần.

  • Giải tán.

 

Phụ chú:

Thành phục: Khi cáo Từ tổ có mâm Tang phục đặt phía trước bàn thờ. Hành lễ xong di mâm Tang phục đến trước Bàn Vong, những người thọ tang quì trước Bàn Vong cầu nguyện. Vị Chức Sắc hoặc Chức Việc hữu trách mặc sắc phục phát tang cho Tang quyến.

Chánh tế: Ðọc Ai chúc (Vợ tế chồng, con tế cha .........)

Phụ tế: Nếu có thân bằng cố hữu tế lễ thì làm nghi châm chước.

Tang lễ của chư Ðạo Hữu Nam Nữ giữ Lục Trai

Sơ Giải: Những vị nầy không được làm phép xác, Cầu siêu thì tụng bài Kinh (Ðầu vọng bái ........) và tụng Di Lặc Chơn Kinh mà thôi. Hành lễ Tế điện theo nghi cúng vong thường; không có làm Tuần Cửu, Tiểu Tường và Ðại Tường (theo Tân Kinh).

 

Khi tới ngày Tuần Cửu, Tiểu, Ðại Tường thì thân nhơn người qui liễu đến Thánh Thất sở tại xin hành lễ Cầu Siêu.

 

Cầu Siêu thì chỉ tụng bài Kinh "Ðầu vọng bái ............." và chỉ tụng "Di Lặc Chơn Kinh" mà thôi. Còn như làm lễ tại tư gia, thì cũng tụng hai bài kinh trên đây. Tụng nhiều chừng nào, tốt chừng nấy.

 

 A) Nghi tiết hành lễ

1. Hấp hối: Tụng bài Kinh Khi Hấp Hối (Rắp nhập cảnh ............)

2. Tắt hơi: Tụng bài Kinh Khi Ðã Chết Rồi (Ba mươi sáu cõi ..............)

3. Thượng sớ Tân cố: Tại tư gia hoặc Thánh Thất.

4. Tẩn liệm: Tụng bài Kinh Tẩn Liệm ( Dây oan nghiệt ..............)

5. Thành phục: Nếu để nơi tư gia, thì hành lễ Ðức Chí Tôn, Cáo Từ Tổ, phát tang. Còn đem vào Khách Ðình thì cũng hành lễ Ðức Chí Tôn.

Hành lễ Tế điện, nghi cúng vong thường. Nếu có thân bằng cố hữu tế lễ thì làm nghi châm chước.

6. Cầu siêu: Tụng bài Kinh Cầu Siêu (Ðầu vọng bái ................) tụng 3 lần, niệm chú Chí Tôn 3 lần. Tiếp tụng Di Lặc Chơn Kinh.

7. Lễ an táng: Hành lễ châm chước, tụng Kinh Cầu Siêu, khiển điện, di Linh cữu ra thuyền Bát Nhã, đi đến Báo Ân Từ thỉnh Linh vị vào bái lễ Ðức Phật Mẫu, đến Ðền Thánh cũng thỉnh Linh vị bái lễ Ðức Chí Tôn, trở ra đi an táng.

B) Trật tự đưa đám

1.      Bảng Ðại Ðạo.

2.      Phướn Thượng Sanh.

3.      Bàn vong.

4.      Ðồng nhi tụng Kinh Ðưa Linh, có đờn.

5.      Thuyền Bát Nhã chở Linh cữu.

6.      Tang quyến.

7.      Chức Việc, Ðạo hữu Nam Nữ.

  • Tại Nghĩa Ðịa: Nếu có ai điếu thì đọc.

  • Hạ Huyệt: Tụng Kinh Hạ Huyệt và chú Vãng Sanh 3 lần, niệm chú Chí Tôn 3 lần.

  • Giải tán.

Tang lễ của chư Ðạo Hữu sa ngã, và những người Ngoại Ðạo muốn Cầu Siêu theo Lễ Ðạo.

 (Thi hành theo Tân Kinh)

1.      Về việc Cầu Siêu, nếu gần Thánh Thất thì Cầu Siêu nơi Thánh Thất.

2.      Nếu ở xa Thánh Thất, thì thiết lễ Cầu Siêu nơi tư gia của Chức Sắc hoặc Chức Việc gần đó.

3.      Nếu người trong thân quyến chịu nhập môn, thì dễ hơn. Chức Sắc cứ đến thượng Tượng cho nhập môn, rồi thiết lễ tang sự luôn.

Sơ Giải: Hành lễ Bạt Tiến, không làm phép xác, tụng Kinh Cầu Siêu (Ðầu vọng bái .........), không tụng bài Kinh Khi Ðã Chết Rồi (Ba mươi sáu cõi ...........), tụng Di Lặc Chơn Kinh.

 A) Nghi tiết hành lễ

1. Hấp hối: Tụng bài Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối (Rắp nhập cảnh .............)

2. Thượng sớ Tân cố: Tại tư gia, nếu có nhập môn.

3. Tẩn liệm: Tụng bài Kinh Tẩn Liệm (Dây oan nghiệt ..................)

4. Thành phục: Lễ cầu nguyện Ðức Chí Tôn, Cáo Từ Tổ, thành phục phát tang, lễ Tế điện cúng vong thường. Nếu có thân bằng cố hữu tế lễ, thì làm lễ châm chước, Ðồng nhi đọc Ai chúc.

5. Cầu siêu: Tụng bài Kinh Cầu Siêu (Ðầu vọng bái ...............) tụng 3 lần, niệm chú Chí Tôn 3 lần. Tụng Di Lặc Chơn Kinh.

6. Lễ an táng: Hành lễ châm chước, tụng Kinh Cầu Siêu, khiển điện, di Linh cữu ra thuyền Bát Nhã, đi đến Báo Ân Từ, thỉnh Linh vị vào bái lễ Ðức Phật Mẫu. Ðến Ðền Thánh, cũng thỉnh Linh vị vào bái lễ Ðức Chí Tôn, trở ra đưa đi an táng.

B) Trật tự đưa đám

1.      Bảng Ðại Ðạo.

2.      Phướn Thượng Sanh.

3.      Bàn vong.

4.      Ðồng nhi tụng Kinh Ðưa Linh, có đờn.

5.      Thuyền Bát Nhã chở Linh cữu.

6.      Tang quyến.

7.      Chức Việc, Ðạo hữu Nam Nữ.

  • Hạ Huyệt: Tụng Kinh Hạ Huyệt và Vãng Sanh 3 lần, khi dứt niệm chú Chí Tôn 3 lần.

  • Giải tán.

 

Nghi lễ cúng tế Chức Sắc qui liễu hàng Tiên Vị

 

1.

Tang chủ tựu vị

Nhạc xây đờn bài Hạ, tang chủ sắp vô nghi.

2.

Nghệ hương án tiền

Lễ Sĩ sắp vô nghi ngoại.

3.

Giai quì

Nhạc đổ trống, Lễ Sĩ quì, tang chủ đồng quì, rồi dứt.

4.

Phần hương

Nhạc đánh thét và đổ, Lễ Sĩ đứng lên, rồi dứt.

5.

Ðiện hương

Nhạc vô đờn Ðão Ngũ Cung, Lễ Sĩ đi thảo, Ðồng nhi thài.

6.

Quì

Nhạc đổ trống, Lễ Sĩ quì.

7.

Thượng hương

Nhạc đổ trống, Lễ Sĩ đứng lên, nhịp thúc, Lễ Sĩ xuống.

8.

Cúc cung bái

Nhạc đánh rập ban (3 lạy, mỗi lạy 3 gật).

9.

Cung hiến Tiên hoa

Nhạc xây đờn bài Hạ, Lễ Sĩ sắp vô nghi ngoại.

10.

Quì

Nhạc đổ trống, Lễ Sĩ quì, rồi dứt.

11.

Chỉnh Tiên hoa

Nhạc đánh thét rồi đổ, Lễ Sĩ đứng lên, rồi dứt.

12.

Ðiện Tiên hoa

Nhạc vô đờn Xuân chầu bốn lái, Lễ Sĩ điện, Ðồng nhi thài tới Nội Nghi.

13.

Quì

Nhạc đổ, Lễ Sĩ quì.

14.

Thượng Tiên hoa

Nhạc đổ trống, Lễ Sĩ đứng lên, nhịp thúc, Lễ Sĩ xuống.

15.

Cúc cung bái

Nhạc đánh rập ban (3 lạy, mỗi lạy 3 gật).

16.

Cung hiến Tiên tửu

(Nhạc cũng hành y như tuần Hoa vậy).

17.

Quì

 

18.

Chước tửu

 

19.

Ðiện Tiên tửu

 

20.

Quì

 

21.

Thượng Tiên tửu

 

22.

Cúc cung bái

Nhạc đánh rập ban (3 lạy, mỗi lạy 3 gật).

23.

Ai chúc

Nhạc vô đờn Xuân Nữ, Ðồng nhi đọc kinh.

24.

Cúc cung bái

Nhạc đánh rập ban (3 lạy, mỗi lạy 3 gật).

25.

Cung hiến Tiên trà

(Nhạc cũng hành y như tuần Hoa và Tửu vậy).

26.

Quì

 

27.

Ðiểm trà

 

28.

Ðiện Tiên trà

 

29.

Quì

 

30.

Thượng Tiên trà

 

31.

Cúc cung bái

Nhạc đánh rập ban (3 lạy, mỗi lạy 3 gật).

32.

Hưng bình thân

 

33.

Tang chủ dĩ hạ giai xuất

 

34.

Lễ thành

Nhạc đổ một hồi rồi thét, Lễ Sĩ lên bái Tiên Vị.


Nghi lễ cúng tế theo hàng Thánh Vị

1.

Tang chủ tựu vị

Nhạc xây đờn bài Hạ, tang chủ sắp vô nghi.

2.

Nghệ hương án tiền

Lễ Sĩ sắp vô nghi ngoại.

3.

Giai quì

Nhạc đổ trống, Lễ Sĩ quì, tang chủ đồng quì, rồi dứt.

4.

Phần hương

Nhạc đánh thét và đổ, Lễ Sĩ đứng lên, rồi dứt.

5.

Ðiện hương

Nhạc vô đờn Ðão Ngũ Cung, Lễ Sĩ đi thảo, Ðồng nhi thài.

6.

Quì

Nhạc đổ trống, Lễ Sĩ quì.

7.

Thượng hương

Nhạc đổ trống, Lễ Sĩ đứng lên, nhịp thúc, Lễ Sĩ xuống.

8.

Cúc cung bái

Nhạc đánh rập ban (3 lạy trơn).

9.

Cung hiến hoa

Nhạc xây đờn bài Hạ, Lễ Sĩ sắp vô nghi ngoại.

10.

Quì

Nhạc đổ trống, Lễ Sĩ quì, rồi dứt.

11.

Chỉnh hoa

Nhạc đánh thét rồi đổ, Lễ Sĩ đứng lên, rồi dứt.

12.

Ðiện hoa

Nhạc vô đờn Xuân chầu bốn lái, Lễ Sĩ điện, Ðồng nhi thài tới Nội Nghi.

13.

Quì

Nhạc đổ, Lễ Sĩ quì.

14.

Thượng hoa

Nhạc đổ trống, Lễ Sĩ đứng lên, nhịp thúc, Lễ Sĩ xuống.

15.

Cúc cung bái

Nhạc đánh rập ban (3 lạy trơn).

16.

Cung hiến tửu

(Nhạc cũng hành y như tuần Hoa vậy).

17.

Quì

 

18.

Chước tửu

 

19.

Ðiện Tiên tửu

 

20.

Quì

 

21.

Thượng Tiên tửu

 

22.

Cúc cung bái

Nhạc đánh rập ban (3 lạy trơn).

23.

Ai chúc

Nhạc vô đờn Xuân Nữ, Ðồng nhi đọc kinh.

24.

Cúc cung bái

Nhạc đánh rập ban (3 lạy trơn).

25.

Cung hiến Tiên trà

(Nhạc cũng hành y như tuần Hoa và Tửu vậy).

26.

Quì

 

27.

Ðiểm trà

 

28.

Ðiện Tiên trà

 

29.

Quì

 

30.

Thượng Tiên trà

 

31.

Cúc cung bái

Nhạc đánh rập ban (3 lạy trơn).

32.

Hưng bình thân

 

33.

Tang chủ dĩ hạ giai xuất

 

34.

Lễ thành

Nhạc đổ một hồi rồi thét, Lễ Sĩ lên bái Thánh Vị.


Nghi lễ cúng tế theo hàng Thần Vị

1.

Tang chủ tựu vị

Nhạc xây đờn bài Hạ, tang chủ sắp vô nghi.

2.

Nghệ hương án tiền

Lễ Sĩ sắp vô nghi ngoại.

3.

Giai quì

Nhạc đổ trống, Lễ Sĩ quì, tang chủ đồng quì, rồi dứt.

4.

Phần hương

Nhạc đánh thét và đổ, Lễ Sĩ đứng lên, rồi dứt.

5.

Ðiện hương

Nhạc vô đờn Xuân Nữ, Lễ Sĩ đi thảo, Ðồng nhi thài.

6.

Quì

Nhạc đổ, Lễ Sĩ quì.

7.

Thượng hương

Nhạc đổ, Lễ Sĩ đứng lên, nhịp thúc, Lễ Sĩ xuống.

8.

Cúc cung bái

Nhạc đánh lớp tư. (3 lạy trơn).

9.

Hiến hoa quả

Nhạc xây đờn bài Hạ, Lễ Sĩ sắp vô nghi ngoại.

10.

Quì

Nhạc đổ trống, Lễ Sĩ quì, rồi dứt.

11.

Chỉnh hoa quả

Nhạc đánh trống thét và đổ, Lễ Sĩ đứng lên, rồi dứt.

12.

Ðiện hoa quả

Nhạc vô đờn Nam Ai, Lễ Sĩ điện, Ðồng nhi thài tới Nội Nghi.

13.

Quì

Nhạc đổ, Lễ Sĩ quì.

14.

Thượng hoa quả

Nhạc đổ, Lễ Sĩ đứng lên, nhịp thúc, Lễ Sĩ xuống.

15.

Cúc cung bái

Nhạc đánh lớp tư. (3 lạy trơn).

16.

Cung hiến tửu

(Nhạc cũng hành y như tuần Hoa vậy).

17.

Quì

 

18.

Chước tửu

 

19.

Ðiện Tiên tửu

 

20.

Quì

 

21.

Thượng Tiên tửu

 

22.

Cúc cung bái

Nhạc đánh lớp tư. (3 lạy trơn).

23.

Ai chúc

Nhạc vô đờn Xuân Nữ, Ðồng nhi đọc kinh.

24.

Cúc cung bái

Nhạc đánh lớp tư. (3 lạy trơn).

25.

Hiến trà

(Nhạc cũng hành y như tuần Hoa và Tửu vậy).

26.

Quì

 

27.

Ðiểm trà

 

28.

Ðiện Tiên trà

 

29.

Quì

 

30.

Thượng Tiên trà

 

31.

Cúc cung bái

Nhạc đánh lớp tư. (3 lạy trơn).

32.

Hưng bình thân

 

33.

Tang chủ dĩ hạ giai xuất

 

34.

Lễ thành

Nhạc đổ một hồi rồi thét, Lễ Sĩ lên bái Thần vị.

 


Nghi lễ cúng tế hàng vong thường

 

1.

Tang chủ tựu vị

Nhạc xây đờn bài Hạ, tang chủ sắp vô nghi.

2.

Nghệ hương án tiền

Lễ Sĩ sắp vô nghi ngoại.

3.

Giai quì

Nhạc đổ trống, Lễ Sĩ quì, tang chủ đồng quì, rồi dứt.

4.

Phần hương

Nhạc đánh thét và đổ, Lễ Sĩ đứng lên, rồi dứt.

5.

Ðiện hương

Nhạc vô đờn Ðão Ngũ Cung, Lễ Sĩ đi thảo, Ðồng nhi thài.

6.

Quì

Nhạc đổ Lễ Sĩ quì, Lễ Sĩ đứng lên, nhịp thúc, Lễ Sĩ xuống.

7.

Cúc cung bái

Nhạc đánh lớp tư, Tang chủ lạy (bốn (4) lạy).

8.

Tiến soạn

Nhạc xây đờn bài Hạ, Lễ Sĩ đi thảo, dâng cơm.

9.

Quì

Nhạc đổ Lễ Sĩ quì dâng cơm cho Tang chủ, nhạc nhịp thúc Lễ Sĩ đi xuống.

10.

Sơ hiến lễ

Nhạc xây đờn bài Hạ.

11.

Nghệ tửu tôn sở

Lễ Sĩ sắp vô nghi ngoại.

12.

Quì

Nhạc đổ Lễ Sĩ quì, rồi dứt.

13.

Chước tửu

Nhạc đánh thét, chước tửu rồi đổ trống, Lễ Sĩ đứng lên, rồi dứt.

14.

Ðiện Tiên tửu

  • Nhạc vô đờn Nam Ai, chầu bốn lái, Lễ Sĩ điện, Ðồng nhi Thài,

  • Nhạc trở qua đờn Xuân Nữ, Lễ Sĩ sang tuần Lưỡng Nghi. Khi Lễ Sĩ sang rồi,

  • Nhạc trở lại đờn Nam Ai, Lễ Sĩ điện lên tới Bàn Linh, Ðồng nhi vẫn còn Thài như thường.

15.

Quì

Nhạc đổ trống, Lễ Sĩ quì dâng rượu cho Tang chủ, rồi đổ trống, Lễ Sĩ đứng lên, nhịp thúc Lễ Sĩ xuống.

16.

Cúc cung bái

Nhạc đánh lớp tư, Tang chủ lạy hai (2) lạy trơn.

17.

Á hiến lễ

 

18.

Nghệ tửu tôn sở

 

19.

Quì

 

20.

Châm tửu

 

21.

Ðiện tửu

(Nhạc cũng hành y như tuần Sơ, Lễ Sĩ sang tuần Tứ Tượng, Ðồng nhi thài tuần Trung).

22.

Quì

 

23.

Cúc cung bái

 

24.

Ai chúc

Nhạc đờn Xuân Nữ, Ðồng nhi đọc kinh.

25.

Cúc cung bái

Nhạc đánh lớp tư, Tang chủ lạy hai (2) lạy trơn.

26.

Chung hiến lễ

 

27.

Nghệ tửu tôn sở

 

28.

Quì

 

29.

Chước tửu

(Nhạc cũng hành y như tuần Sơ và tuần Á vậy).

30.

Ðiện tửu

Lễ Sĩ sang tuần Bát Quái, Ðồng nhi thài tuần Chung.

31.

Quì

 

32.

Cúc cung bái

 

33.

Ðiện Tiên trà

Nhạc xây đờn bài Hạ, Lễ Sĩ sắp vô nghi Ngoại.

34.

Quì

Nhạc đổ, Lễ Sĩ quì rồi dứt.

35.

Ðiểm trà

Ðánh thét, châm trà rồi đổ, Lễ Sĩ đứng lên rồi dứt.

36.

Ðiện trà

Ðờn Xuân Nữ, nhạc đổ, Lễ Sĩ đi thảo, Ðồng nhi thài.

37.

Quì

Nhạc đổ, Lễ Sĩ quì, dâng trà rồi, đổ, Lễ Sĩ đứng lên, nhịp thúc, Lễ Sĩ xuống.

38.

Cúc cung bái

Nhạc đánh lớp tư (bốn (4) lạy trơn).

39.

Hưng bình thân

Nhạc đánh thét, Tang chủ đứng dậy.

40.

Tang chủ dĩ hạ giai xuất

Nhạc đánh thét, Tang chủ xá, bước ra.

41.

Lễ thành

Nhạc đánh thét, Lễ Sĩ lên bái vong.

 


Nghi lễ châm chước phụ tế

 

1.

Tế chủ tựu vị

 

2.

Giai quì

 

3.

Phần hương

 

4.

Nguyện hương

 

5.

Thượng hương

 

6.

Cúc cung bái

(Bốn (4) lạy)

7.

Chước tửu

 

8.

Cúc cung bái

(Hai (2) lạy)

9.

Chước tửu

 

10.

Cúc cung bái

(Hai (2) lạy)

11.

Ai chúc Ðồng nhi đọc kinh

 

12.

Cúc cung bái

( ................. )

13.

Chước tửu

 

14.

Cúc cung bái

(Hai (2) lạy)

15.

Ðiểm trà

 

16.

Cúc cung bái

(Bốn (4) lạy)

17.

Hưng bình thân

 

18.

 Tế chủ dĩ hạ giai xuất

 

19.

Lễ thành

 

 


Bài thài hiến lễ các bậc Tiền Bối

 

Ðức Quyền Giáo Tông

Càn Khôn quen thú phước Linh Tiêu,
Thấy khổ trần gian nghịch Thánh điều.
Mượn xác phàm, rêu cây Phất Chủ,
Nương cơ tạo, xủ phướn tiêu diêu.
Bầu linh khổ hải, đưa thiêu cạn,
Gậy sắt nhơn sanh, chống dắt dìu.
Muôn dặm cửa Tiên, chờ bước tục,
Cỡi lau trở gót, ruột trăm chiều.

Ðức Hộ Pháp

Trót đã ba năm ở xứ người,
Ðem thân đổi lấy phút vui tươi.
Ngờ đâu vạn sự do Thiên định,
Tuổi đã bảy mươi cũng đủ rồi.
Nhớ tiếc sức phàm thừa chống chỏi,
Buồn nhìn cội Ðạo luống chơi vơi.
Rồi đây ai đến cầm Chơn Pháp,
Tô điểm non sông Ðạo lẫn Ðời.

Ðức Cao Thượng Phẩm

Ngảnh lại mà đau cảnh đoạn trường,
Cõi Thiên mừng đặng dứt dây oan.
Nợ trần đã phủi, lòng son sắt,
Ngôi vị nay vinh, nghĩa đá vàng.
Cổi tấm chơn thành, lòa nhựt nguyệt,
Phơi gan chí sĩ, nhuộm giang san.
Bốn mươi hai tuổi sanh chưa phỉ,
Ðể mắt xanh coi nước khải hoàn.

Ðức Cao Thượng Sanh

Từ lúc đưa tay nắm Ðạo quyền,
Nguyện đem thi thố tấm trung kiên.
Ðộ đời quyết lánh vòng danh lợi,
Trau chí tìm roi bậc Thánh Hiền.
Từ ái làm nền an thổ võ,
Ðức ân dụng phép tạo nhơn duyên.
Những mong huệ trạch Trên nhuần gội,
Sứ mạng làm xong giữ trọn nguyền.


 

Bài thài chung Lễ Kỷ Niệm Thời Quân Hiệp Thiên Ðài

Tướng soái Thời Quân đã đạt thành,
Công trình lập Ðạo sử nêu danh.
Ngàn năm để tiếng đời ca tụng,
Không hổ mặt mày với kiếp sanh.

Bài thài chung Lễ Kỷ Niệm Ðầu Sư Cửu Trùng Ðài

Tu thân giáo hóa chỉnh đời thanh,
Ðồng chúc lê dân hưởng phước lành.
Cõi tục cầu an kinh tụng niệm,
Lời truyền nguyện thấu đến cao xanh.
Mưa nhuần gió thuận Nghiêu Thang tịnh,
Nắng tốt tuyết hòa Thuấn Võ thanh.
Ðồng hưởng đời đời câu thạnh trị,
Tiêu diêu khoái lạc chí hùng anh.


 

Bài thài hiến lễ hàng Thánh

 

Tuần Hương

Nghệ hương hiến, nghệ hương tiền,
Trầm đoàn khói tỏa năm mây,
Mùi hương phưởng phất thơm bay ngút trời.

Tuần Hoa

Thoàn mây thuận gió cánh bườm trương,
Phàm Thánh chia phôi cảnh đoạn trường.
Hoa quả tinh vi xin hiến lễ,
Thể lòng thành kỉnh tỏ tình thương.

Tuần Tửu

Thoát trần roi dấu tiếng anh phong,
Sớm tối riêng vui cảnh bá tòng.
Kẻ ở người đi giòng lệ đổ,
Tửu quỳnh kỉnh hiến nghĩa đồng song.

Tuần Trà

Ðạo Ðời vẹn phận đắc Thiên ân,
Lưu để Thánh danh chốn mộ phần.
Ðầu vọng bái anh linh chứng hưởng,
Trà hương tạm biệt khách dương trần.


Bài thài hiến lễ hàng Thiên Thần

Tuần Hương

Nghệ hương hiến, nghệ hương tiền,
Trầm đoàn khỏi tỏa năm mây,
Mùi hương phưởng phất thơm bay ngút trời.

Tuần Hoa

Thoàn mây thuận gió cánh bườm trương,
Sanh tử chia phôi cảnh đoạn trường.
Hoa quả tinh vi xin hiến lễ,
Thể lòng thành kỉnh tỏ tình thương.

Tuần Tửu

Thoát trần roi dấu tiếng anh phong,
Sớm tối riêng vui cảnh bá tòng.
Kẻ ở người đi giòng lệ đổ,
Tửu quỳnh kỉnh hiến nghĩa đồng song.

Tuần Trà

Ðạo Ðời vẹn phận đắc Thiên ân,
Lưu để Thánh danh chốn mộ phần.
Ðầu vọng bái anh linh chứng hưởng,
Trà hương tạm biệt khách dương trần.


 

Bài thài hiến lễ hàng vong thường

 

Tuần Hương

Nghệ hương hiến, nghệ hương tiền,
Trầm đoàn khói tỏa năm mây,
Mùi hương phưởng phất thơm bay ngút trời.

Tuần Sơ

Hiến tuần sơ, hề hiến tuần sơ,
Vân ám đảnh hồ, long viễn tựu,
Nguyệt minh huê liễu, hạc qui trì.
Cồn dâu hóa bể, bể hóa cồn dâu,
Cơ tạo biến đời, người vật đổi,
Sanh ly tử biệt, mạng nơi Trời.

Tuần Trung

Hiến tuần trung, hề hiến tuần trung,
...........................(1) nghĩa mặn nồng,
Ân thâm càng nhớ lụy khôn ngừng.
Nhựt nguyệt đôi vừng soi nhắc bóng,
Hỡi ôi! Chiếu thấu thảm nơi lòng.

Tuần Chung

Hiến tuần chung, hề hiến tuần chung,
Dặm cũ khách đà xa khổ não,
Nay ........... (2) hiu quạnh chốn trần gian.
Tiếng dế reo đêm sầu thắt dạ,
Nguồn sông lệ chảy, ruột trăm chiều.
Oanh khóc năm canh, chiu chít bạn,
Ủ ê cảnh cũ vẩn vơ tình.

Tuần Trà

Ðơn tiện xin dâng một tấc thành,
Cõi Thiên khẩn vái có anh linh.
Mãnh lòng tha thiết ai ôi thấu,
Ngó liễu trông mây để tượng hình.

 

 

 Lưu ý:

 

Bài Tuần Trung câu thứ hai:
...........(1) Nếu:

 

Con tế Cha Mẹ, thì thài

"Cắn muối trêu cơm nghĩa mặn nồng".

Chồng tế vợ, thì thài

"Tình ái cùng nhau nghĩa mặn nồng".

Vợ tế chồng , thì thài

"Tình ái cùng nhau nghĩa mặn nồng".

Em tế Anh Chị ruột, thì thài

"Huyết mạch đồng môn nghĩa mặn nồng".

Anh Em kết nghĩa, thì thài

"Huynh đệ cùng nhau nghĩa mặn nồng".

Bài Tuần Chung câu thứ ba:
Nay ..........(2)  Nếu:

 

Con tế Cha Mẹ, thì thài

"Nay Con hiu quạnh chốn trần gian"

Chồng tế Vợ, thì thài

"Nay Anh hiu quạnh chốn trần gian"

Vợ tế Chồng thì thài

"Nay Em hiu quạnh chốn trần gian"

Em tế Anh Chị, thì thài

"Nay Em hiu quạnh chốn trần gian"

 

 

Tẩn Liệm

  Cách Tẩn Liệm (Lúc chết)

 Cách trị quan

 Tẩn Liệm

 

 1. Cách Tẩn Liệm (Lúc chết)

Khi người đã tắt hơi, thân nhân dùng nước thơm (nước nấu với các lá thơm) hay là nước hoa (nước nóng có pha dầu thơm) để lau rửa sạch sẽ, rồi thay đổi quần áo tươm tất, sửa nằm ngay thẳng, chơn mang vớ, tay bọc bao tay (lấy vải may hai cái túi để bọc hai bàn tay). Trên mặt đắp một tấm vải trắng hình tam giác, bề đứng độ 0m33, góc nhọn để trên.

 

2. Cách trị quan

Dùng cháo nếp trộn với bột gạch (đâm cho nhuyễn) nhồi cho kỹ, hoặc dùng vôi bột trộn với dầu phọng, cũng trộn cho kỹ, trét mấy kẽ hở, mấy đường ván ráp, nhứt là 4 góc quan tài, làm cho kỹ đừng cho hở, khỏi sợ hơi.

 

3. Tẩn Liệm

Cách thức liệm có Tiểu Liệm và Ðại Liệm. Tiểu Liệm là vải bọc thi thể bên trong, Ðại Liệm là vải bọc bên ngoài.

Tiểu Liệm: Có một đoạn dây tung, bề ngang nửa khổ vải, bề dài 4m80. Có một cái khâm, hai khổ vải may kế lại, bề dài 4m10. Có 3 đoạn dây Hoành, bề dài mỗi đoạn 2m40. Dây Hoành phải xé hai, từ đầu vô 0m40 để buộc.

Ðại Liệm: Có một đoạn dây Tung, bề ngang nửa khổ vải, dài 4m80. Một cái Khâm hai khổ vải may kết lại, bề dài 4m40. Dây Tung, dây Hoành để y (không xé đầu), để phòng buộc cho chắc. Người hành sự phải ghi nhớ từng khoản, khi buộc phải nhớ lòn cái mối để xuôi xuống, bắt đầu từ trên buộc xuôi xuống dưới chơn.

Ðồ liệm chuẩn bị các món sau nầy cho đủ như là: 1 cái gối đầu, 2 tấm áp nhĩ (áp hai bên lỗ tai) 2 cây trường vấn bằng giấy súc, bề dài từ vai xuống tới đầu gối, nhiều kèn vấn bằng giấy súc.

 

Trước khi để đồ liệm vô quan tài, phải nhớ đặt 5 sợi dây Hoành Ðại Liệm trước nhứt, phân từ trên xuống dưới cho đều khoản, mỗi sợi phải đặt mực trung tim đừng cho xê dịch. Ðặt 5 sợi dây Hoành , rồi trải sợi dây Tung Ðại Liệm, cứ giữ mực trung tim. Xong, trải cái Khâm Ðại Liệm, vẫn giữ mực trung tim. Ðồ Ðại Liệm trải xong trong quan tài.

 

Bây giờ trải đồ Tiểu Liệm: Trải 3 sợi dây Hoành của Tiểu Liệm, cũng phân cho đều khoản, từ trên xuống dưới, kế trải sợi dây Tung của Tiểu Liệm, rồi tiếp trải Khâm Tiểu Liệm.

 

Ðồ Ðại Liệm và Tiểu Liệm trải xong, đặt vào quan tài 2 cây trường, một cái gối đầu, 2 tấm áp nhĩ. Chỗ nào trống thì vấn kèn bổ khuyết.

 

Khi khởi sự liệm, nâng đỡ xác thân lên, để trên các món đồ liệm, sửa tay chân cho ngay thẳng, để kèn vào ép cho chặt. Ðắp mí Khâm bên tả qua trước, đắp mi Khâm bên hữu qua sau, phủ mí dưới chân lên trước, phủ mí trên đầu xuống sau. Dây Tung cũng vậy, mí dưới phủ trước, mí trên phủ sau. Nhớ khi buộc sợi dây bên tả choàng trên, sợi dây bên hữu choàng dưới, 2 sợi dây choàng nhau hai bận rồi gút lại, nhớ để cái mối xuôi xuống, bắt từ trên đầu buộc xuống dưới chân. Hễ Tiểu Liệm buộc rồi, thì kế Ðại Liệm cũng buộc y vậy. Ngoài các sắc vải liệm, bọc thêm lớp mũ (nylon) bên ngoài cho thật kín càng tốt.

Sự Tẩn Liệm là do ý trân trọng quý báu thi hài của người mất, còn bao tay hay là chân mang vớ, là để xương vụn vặt như cốt xương tay hay cốt xương chơn khỏi bị rời đi mất.

 

Sau khi đậy nắp, và sơn gắn kỹ càng, đắp một tấm phủ quan có hình Thiên Nhãn tùy theo sắc phái, để giá đèn lên, thắp đèn cầy cho sáng (Nam phái bảy (7) ngọn, chín (9) ngọn cho Nữ phái). Dưới Linh cữu có thắp một ngọn đèn để ngay chính giữa, kêu là đèn khử trược lưu thanh. Ðèn nầy thắp, nên dùng dầu phọng tốt hơn.

 

Việc tẩn liệm nên bỏ tục lệ coi giờ kiên tuổi. Ðiều cần nhứt nên nhớ là đến giờ liệm, rờ kỹ ngực người chết xem còn nóng hay không. Nếu còn chút hơi ấm, phải đình chỉ ngay.

 

Sự tẩn liệm đã chỉ bày như trên, nghĩa là theo cách thức phải làm như vậy. Nhà dư ăn dư để chẳng nói làm chi, đến như những nhà bần hàn cơ cực, kẻ hành sự sáng suốt, biết biến chế, bỏ cái nầy thay cái kia, giấy vải dùng thứ nhẹ tiền, dùng một lớp vải Tiểu Liệm đủ rồi, không cần phải thêm lớp vải Ðại Liệm làm chi. Ðiều cần nhứt là việc làm phải kỹ càng, thi hài được bao bọc an toàn kín đáo. Cây trường và kèn dùng rơm làm nồng, ngoài bao giấy, để bớt tốn kém.

 

Nhà có tang nên thận trọng, phải giữ cho được yên tịnh. Người nhà không được cãi vả nhau lớn tiếng, nói cười vui vẻ, đùa giỡn, làm mất nét ai bi. Không nên bày tiệc tùng đãi đằng rần rộ. Có khách đến chia buồn, thì người nhà ân cần tiếp rước, khách về thì đưa, nhớ tỏ lời cám ơn.

 

Phần khách cũng phải giữ lễ, mình đương ở trong nhà người có tang, nhớ đến câu "Thố tử hồ bi", tỏ lòng đau xót cho nhau.

 

Lễ cất táng cử hành càng sớm càng hay, không nên quàn Linh cữu tại nhà lâu ngày. Bỏ tục lệ coi ngày và kiên tuổi. Cũng không cần có thầy Ðịa lý xây mộ.

 

Phụ chú:

(*) Cách Tẩn Liệm như đã trình bày ở trên, có thể chỉ áp dụng ở Việt Nam.

 

Tang

 Thọ tang

 Cách thức để tang

 Cách chế tang phục

 

 Thọ tang

 

Phàm người mất, thì quyến thuộc phải để tang, để ghi dấu đau thương với người mất. Tùy thân sơ, mà chia ra kỳ để tang lâu mau khác nhau.

Có năm (5) bậc để tang gọi là "Ngũ Phục":

1. Tang 3 năm (Trãm thôi, Tư thôi).
2. Tang 1 năm (Cơ niên).
3. Tang 9 tháng (Ðại công).
4. Tang 5 tháng (Tiểu công).
5. Tang 3 tháng (Tư ma).

Trãm thôi, nghĩa là áo tang bỏ xủ xuống, không lên trôn quần, xổ lai, không khâu bằng phẳng.

Tư thôi, nghĩa là áo tang có lên trôn, khâu bằng phẳng, quần cũng lên lai bằng phẳng.

 

Lệ thường, ngoài Ðời có tang 3 năm, kỳ thực là 24 tháng chẵn, tức là 2 năm và tang 1 năm là 12 tháng. Ít nghe có tang 9 tháng, 5 tháng và 3 tháng.

 

Trong Ðạo, theo Tân Kinh, mãn tuần Cửu cửu tức là 81 ngày. Từ đó, đến 200 ngày là tới tuần Tiểu Tường, tính ra là 281 ngày. Từ Tiểu Tường, đến 300 ngày là tới tuần Ðại Tường, là mãn Ðại tang.

 

Ðại Tường - Tiểu Tường

 

Chữ Tường nghĩa là lành, là kiết. Trong nhà có tang, cả nhà mang sự thương xót, đau buồn, tưởng đến người quá cố. Thời gian qua xoa dịu nỗi đau thương, cái buồn bớt lần lần, đem lại cái vui như điềm lành, điềm tốt trở lại. Vì vậy, mà Tiểu Tường cũng có nghĩa là Tiểu Kiết Tường; Ðại Tường cũng có nghĩa là Ðại Kiết Tường.

 

Cách thức để tang

 

1. Tang Cha Mẹ ruột

a) Về phần con Trai:

·         Con thọ tang Cha, dùng Trãm thôi và Gậy trước (tre), đến Ðại Tường là mãn.

·         Thọ tang Mẹ, dùng Trãm thôi và Gậy dong (cây dong đồng) đến Ðại Tường là mãn.

b) Về phần con Gái:

·         Con gái xuất giá thọ tang Cha Mẹ, dùng Tư thôi, đến Tiểu Tường là mãn.

·         Con gái tại gia (chưa xuất giá), dùng Trãm thôi, đến Ðại Tường là mãn.

2. Ðồng cư kế phụ

·         Hai bên kế phụ và mình ở chung, tang 1 năm, đến Tiểu Tường là mãn.

·         Trước có ở chung, sau không ở chung, tang 3 tháng, đến tuần Chung Cửu là mãn.

3. Bất đồng cư kế phụ

·         Trước sau không ở chung, không thọ tang.

4. Giá mẫu

·         Người Mẹ sau khi Cha mình mất, lại tái giá, tang 1 năm đến Tiểu Tường là mãn.

5. Xuất mẫu

·         Người Mẹ mà Cha mình thôi đi, tang 1 năm đến Tiểu Tường là mãn.

·         Như người Mẹ không tái giá, tang Tư thôi 2 năm, đến Ðại Tường là mãn.

6. Kế mẫu

·         Mẹ mình mất, Cha lấy bà kế mẫu, tang 1 năm đến Tiểu Tường là mãn.

7. Từ mẫu

·         Mẹ mình mất sớm, mình còn bé, cha mình giao cho bà Mẹ kế nuôi mình lớn khôn, gọi là Từ Mẫu, tang Tư thôi 2 năm đến Ðại Tường là mãn.

8. Bác, Chú, Cô

·         Ðồng tang 1 năm, đến Tiểu Tường là mãn. Như Cô xuất giá, tang 3 tháng đến tuần Chung Cửu là mãn.

9. Cậu, Dì

·         Ðồng tang 3 tháng, đến tuần Chung Cửu là mãn.

10. Ông Cố, Bà Cố

·         Tang 3 tháng, đến tuần Chung Cửu là mãn.

11. Ông Nội, Bà Nội

·         Tang Tư thôi, đến Ðại Tường là mãn.

·         Cháu đích tôn thừa trọng, thay thế cho Cha, chịu tang Ông Nội, Bà Nội, Trãm thôi, đến Ðại Tường là mãn.

12. Ông Ngoại, Bà Ngoại

·         Tang đến Tiểu Tường là mãn.

13. Tang Vợ Chồng

·         Chồng thọ tang cho vợ, đến Ðại Tường là mãn. Mãn tang mới được lấy vợ.

·         Vợ thọ tang cho chồng, đến Ðại Tường là mãn. Mãn tang mới được tái giá.

14. Anh Chị ruột

·         Em để tang đến Tiểu Tường là mãn.

15. Anh Chị chung Mẹ khác Cha

·         Em để tang 3 tháng, đến tuần Chung Cửu là mãn.

16. Tang bên chồng

·         Nàng dâu thọ tang Cha Mẹ chồng, Tư thôi, đến Ðại Tường là mãn.

17. Ông Nội, Bà Nội của chồng

·         Tang đến Tiểu Tường là mãn.

18. Tang bên vợ

·         Chàng Rễ thọ tang Cha Mẹ vợ, đến Tiểu Tường là mãn.

19. Tang người thân tộc

·         Vì ân nghĩa Thầy Trò, vì tình bậu bạn, Trò để tang cho Thầy, bạn để tang cho bạn, tùy ý, không hạn thời gian là bao lâu.

·         Vì đại ân, kẻ thọ ân để tang cho người thi ân không hạn kỳ.

·         Vì đại nghĩa, những kẻ anh hùng liệt sĩ, lập công vĩ đại, có ích cho nhân quần xã hội, cho Ðạo, cho Ðời, dân cảm mến để tang không hạn kỳ.

·         Công sanh thành, ân dưỡng dục, ví tợ biển rộng trời cao. Còn ai thương mình cho bằng Cha Mẹ? Còn ai nghĩa trọng tình thâm? Ðến lúc lìa trần, cùng mình vĩnh biệt ngàn năm, không bao giờ trông mong gặp lại. Phận làm con phải có tấm lòng xót thương Cha Mẹ và nhớ tiếc. Tang lễ phải hết lòng thành kính, sự tử như sự sanh, sự vong như sự tồn.

 

Cách chế tang phục

Thọ tang Cha Mẹ, may áo cổ trịch như áo lễ, không lên trôn. Ở phía sau lưng, trên vai may kèm 1 tấm vải phụ bản, tỏ dấu mang sự đau xót trên lưng. Còn may quần thì sổ lai, không khâu bằng phẳng.

Tang Cha, con trai chống gậy trước (tre); tang Mẹ, chống gậy dong.

Cây gậy trước, nghĩa là Cha có tiết tháo bên ngoài, và là tiết tháo ngay chính. Cây gậy dong, có nghĩa là Mẹ có tiết hạnh bên trong, và đầy lòng từ ái. Gậy dài ngắn không chừng, tùy người cao thấp, nhưng mà phải từ dưới đất lên đến yếm tâm, có nghĩa là chủ tâm ai bi.

 

Cách thức chế dây rơm mũ bạc: Mũ bạc hay là Bức cân, dùng vải to xếp làm ba (3) lằn, hướng về bên hữu. Ba lằn xếp, tượng trưng Tam Cang, là ba giềng trọng trong đạo Nhơn luân.

Cùng trong một lễ ấy, sợi dây rơm buộc ngang lưng cũng phải đánh đậu 3 tao.

Con gái có chồng, mặc áo chẹt, quần lên lai.

Con gái chưa chồng, và con dâu mặc áo rộng, quần xổ lai.

Con Rễ và các cháu thành niên, thì bịt khăn trắng. Các cháu nhỏ bé, thì đội mấn.

 

Cháu đích tôn thừa trọng

Nếu người con Trưởng Nam chết trước Cha, Mẹ mà có sanh con Trai để lại, thì khi Ông Bà Nội chết, đứa con Trai của người con ấy (Trưởng Nam) phải thay Cha mình mà chống gậy tang để báo hiếu Ông Bà, gọi là cháu đích tôn thừa trọng. Tang phục cũng như con Trai vậy.

 


Xe tang

 Thuyền Bát Nhã

 Long Mã

 Tấm Phủ Quan

 

 Thuyền Bát Nhã

Trong Ðạo, việc cất táng dùng xe tang bằng một chiếc Thuyền trổ hình con Rồng, gọi là Thuyền Bát Nhã. Từ Tín Ðồ đến Chức Sắc thảy đều dùng được. Duy có màu sắc tấm Diềm treo trên Thuyền Bát Nhã, và tấm vải Phủ Quan để phân biệt.

  1. Tín Ðồ, Ðạo Hữu, Ðạo Sở và Chức Việc phụ đi Thuyền Bát Nhã, treo Diềm và Phủ Quan màu Ðen.

  2. Chánh, Phó Trị Sự, Thông Sự và các phẩm tương đương (Nam Phái), đi Diềm và Phủ Quan màu Ðỏ.

  3. Chức Sắc Cửu Trùng Ðài (Nam Phái), treo Diềm và Phủ Quan theo Sắc Phái.

  4. Chức Sắc, Chức Việc Hiệp Thiên Ðài và Cửu Trùng Ðài (Nữ Phái), treo Diềm và Phủ Quan màu Trắng.

  5. Chức Sắc, Chức Việc Phước Thiện Nam Nữ, treo Diềm và Phủ Quan theo Sắc Phái.

  6. Chức Sắc Bộ Nhạc, treo Diềm và Phủ Quan màu Ðỏ.

 

Long Mã

Ðầu Sư, Tiên Tử, Thập Nhị Thời Quân đổ lên, kỵ Long Mã, không đi Thuyền Bát Nhã.

 

Tấm Phủ Quan

Tấm Phủ Quan bằng vải, vuông vức 1m20. Bốn bề viền ren, chính giữa may Thiên Nhãn, có ánh hào quang tia ra.

 


Ủy Ban Hổn Hợp
Tu Chỉnh Quan Hôn Tang Lễ

 

Tuân hành theo Quyết Nghị của Hội Thánh Lưỡng Ðài Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện trong phiên nhóm ngày mùng 9 tháng 2 năm Canh Tuất (Dl 16-3-1970), thành lập Ủy Ban Hổn Hợp Tu Chỉnh Quan Hôn Tang Lễ.

 

Ủy Ban Hổn Hợp gồm có:

Hiệp Thiên Ðài

 

 

Thời Quân Hiến Ðạo

Trưởng Ban

 

Giám Ðạo Huỳnh Hữu Lợi

Hội Viên

 

Giám Ðạo Nguyễn Văn Kiết

Hội Viên

Cửu Trùng Ðài

 

 

Giáo Sư Ngọc Ðính Thanh

Hội Viên

 

Giáo Hữu Thái Sơn Thanh

Hội Viên

 

Lễ Sanh Thái Vũ Thanh

Hội Viên

Phước Thiện

 

 

Chơn Nhơn Phạm Duy Hoai

Hội Viên

 

Chơn Nhơn Trần Văn Lợi

Hội Viên

 

Chí Thiện Lê Văn Ninh

Hội Viên

Bộ Nhạc

 

 

Nhạc Sư Lê Ngọc Hội

Hội Viên

 

Hành Thiện Văn Phước Ðức

Từ Hàn


 

Quyển Quan Hôn Tang Lễ
Do các Quyết Nghị Hội Thánh Lưỡng Ðài

 

  1. Vi Bằng số 6/VB ngày 29 tháng Giêng, mùng 4 và mùng 6 tháng 2 Nhâm Tý (Dl 14, 18 và 20.3.1972).

  2. Vi Bằng số 3/VB ngày mùng 7 tháng 11 Nhâm Tý (Dl 12.12.1972).

  3. Vi Bằng số 11/VB ngày mùng 8 và mùng 9 tháng 5 Ất Mão (Dl 17 và 18.6.1975)

  4. Vi Bằng số 17/VB ngày mùng 4 tháng 9 Ất Mão (Dl 8.10.1975).

  5. Vi Bằng số 1/VB ngày mùng 7 tháng 11 Ất Mão (Dl 9.12.1975).

 

Chung Quyết

Hiệp Thiên Ðài

 

Thời Quân Hiến Pháp

 

Thời Quân Bảo Ðạo

 

Thời Quân Hiến Ðạo

 

Thời Quân Khai Ðạo

 

Chưởng Ấn Nguyễn Văn Hợi

 

Cải Trạng Huỳnh Hữu Lợi

 

Cải Trạng Nguyễn Văn Kiết

Cửu Trùng Ðài

 

Thái Ðầu Sư

 

Thượng Ðầu Sư

 

Ngọc Ðầu Sư

 

Quyền Thái Chánh Phối Sư

 

Quyền Thượng Chánh Phối Sư

 

Quyền Ngọc Chánh Phối Sư

 

Quyền Nữ Chánh Phối Sư

 

Phước Thiện

 

Chưởng Quản Phước Thiện Nam Phái

 

Chưởng Quản Phước Thiện Nữ Phái

 

 

Từ Hàn

 

Giáo Sư

Thừa Sử

Giáo Sư

Nguyễn Hương Trụ

 Lê Minh Khuyên

Thượng Tám Thanh

 
về trang chủ