Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay Đạo Cao Đài là một tôn giáo
phát sinh tại miền Nam nước Việt Nam từ đầu thế kỷ XX.
Lịch sử tôn giáo này hãy còn quá ngắn nhưng trải qua
nhiều biến đổi thăng trầm. Trung ương là Toà Thánh Tây
Ninh có một hệ thống giáo quyền chặt chẽ trên khắp miền
Nam Việt Nam. Từ nguồn gốc này một số chức sắc tách rời
ra lập thành chi phái hoạt động riêng lẻ không tùng luật
pháp và sự điều khiển của Tòa Thánh nữa.
Trong bối cảnh lịch sử như thế vai trò của Hộ Pháp phải
ra sao trong khi Ngài không còn hình xác để đi đứng nói
năng được như những con người bằng xương bằng thịt. Khí
phách anh linh, chơn thần của Ngài bất tiêu bất diệt đã
đành thiên biến vạn hóa kề cận một bên con cái Đức Chí
Tôn nhưng làm sao những đứa con trần tục kia nghe được
tiếng nói của Ngài thấy được Thiên thơ mà Ngài đang xây
chuyển.
Hồi tưởng lại những ngày còn sanh tiền đứng trên giảng
đài Tòa Thánh, Ngài đã nói :
Trong thời kỳ ấy Bần Đạo vâng lịnh Đức Chí Tôn xuống thế
mở Đạo thì Đức Chí Tôn mới hỏi rằng : "Con phục lịnh
xuống thế mở Đạo con mở bí pháp trước hay con mở thể
pháp trước?"
- Bần Đạo trả lời : "Xin mở bí pháp trước"
- Chí Tôn nói:
" Nếu con mở bí pháp trước thì phải khổ đa. Đang lúc
đời cạnh tranh tàn bạo, nếu mở bí pháp trước cả sự bí
mật huyền vi của Đạo đời thấy rõ xúm nhau tranh giành
phá hoại thì mối Đạo phải ra thế nào. Vì thế nên mở thể
pháp trước, dầu cho đời quá dữ có tranh giành phá hoại
cơ thể hữu vi hữu hủy đi nữa thì cũng vô hại xin miễn
mặc bí pháp còn là Đạo còn. Bí pháp là Hiệp Thiên Đài
giữ…"
( TĐ của ĐHP. 30-5 Quí Tỵ-1953 )
Như vậy Thiên Thơ đã định cho Đức Hộ Pháp giáng trần
trong cửa Đạo Cao Đài nầy có nhiệm vụ tạo dựng hình
tướng của tôn giáo trước tức nhiên là thể pháp của Đạo,
rồi sau đó mới mở bí pháp tức là quyền năng của điển lực
để giải thoát Chơn Thần con người không còn bị ràng buộc
bởi lục dục thất tình nữa.
Nhưng :
Hộ Pháp là ai?
Đây là lời dạy của Đức Chí Tôn :
" Hiệp Thiên Đài dưới quyền Hộ Pháp chưởng quản, tả
có Thượng Sanh, hữu có Thượng Phẩm. Thầy lại chọn Thập
Nhị Thời Quân chia ra làm ba.
· - Phần của Hộ Pháp chưởng quản về pháp lo bảo hộ
luật Đời và luật Đạo, chẳng ai qua luật mà Hiệp Thiên
Đài chẳng biết…"
· - Thượng Phẩm thì quyền về phần Đạo lo về phần Đạo
nơi Tịnh Thất, mấy Thánh Thất đều chăm sóc chư môn đệ
Thầy chẳng cho ai phạm luật đến khổ khắc cho đặng."
· - Thượng Sanh thì lo về phần Đời."
Tóm lại Hộ Pháp là vị chức sắc nắm quyền chưởng quản
Hiệp Thiên Đài.
Ngày 22-23 04-1926 trong đàn cơ sắp đặt cuộc Thiên phong
nghi lễ dành riêng cho Hộ Pháp như vầy.
"Cư, nghe dặn :
Con biểu Tắc tắm rửa cho sạch sẽ( xông hương cho nó)
biểu nó lựa một bộ quần áo tây cho sạch sẽ, ăn mặc như
thường, đội nón.
Cười…
Đáng lẽ nó phải sắm khôi, giáp như hát bội mà mắc nó
nghèo Thầy không biểu. Bắt nó lên đứng trên, ngó mặt
vô ngai Ngôi Giáo Tông, lấy chín tấc vải điều đắp mặt
nó lại.
Lịch con viết một lá phù ( Gián ma xử ) đưa cho nó
cầm…"
"…Cả thảy Môn đệ phân làm ba ban, đều quỳ xuống biểu
Tắc leo lên bàn, Con (Cao Quỳnh Cư) chấp bút bằng
nhang đến bàn Ngũ lôi đặng Thầy triệu nó đến, rồi mới
đến trước mặt Tắc, đặng Thầy trục Chơn Thần nó ra, nhớ
biểu Hậu, Đức xông hương tay của chúng nó như em có
giật mình té thì đỡ".
Như vậy nghi lễ Thiên phong dành cho Hộ Pháp không phải
là một lời tuyên thệ, lời nguyện, lời cam kết mà là một
cuộc hành pháp trục Chơn Thần Phạm Công Tắc ra khỏi xác
thân để Chơn linh Hộ Pháp giáng ngự nơi hình xác này và
Phạm Công Tắc đã trở thành Hộ Pháp.
Đây là trường hợp giáng linh ngự thể. Nghi lễ nầy không
thấy dành cho Thượng Phẩm, Thượng Sanh và Thập Nhị Thời
Quân cũng là những đồng tử như Ngài. Bởi cớ nên mới sanh
lắm điều trắc trở sau này.
Trên bước đường hành Đạo khi chấp chưởng quyền hành cơ
bút nơi tay vì thể thức hành pháp quyền linh trên Chơn
Thần và thể phách, ảnh hưởng trực tiếp vào sự khai mở
tâm thức của người thọ nhận. Các vị đồng tử kia không
được đặc ân như Ngài và trình độ tâm thức cũng khác xa
Đức Hộ Pháp ít nhất trên phương diện biểu hiện bên ngoài
mà nhơn sanh nhận thấy được.
Qua nghi lễ này chúng ta thấy vị Hộ Pháp trong Đạo Cao
Đài không ai khác hơn là Phạm Công Tắc thọ phong từ năm
1926. Người đã được Đức Chí Tôn chỉ định có trách nhiệm
làm đầu Hiệp Thiên Đài chịu trách nhiệm về phần Chơn
Thần của tất cả tín đồ. Trong khi phẩm Giáo Tông có
quyền về phần xác chớ không có quyền về phần hồn.
Từ năm 1919 Ngài Ngô Văn Chiêu đã có tham dự các đàn Cơ
cầu thỉnh Tiên về xin thuốc và học Đạo. Ngài gặp được
Tiên Ông chỉ giáo và cho hiện huyền diệu Thiên Nhãn để
mách bảo Ngài về biểu tượng thờ phượng.
Năm 1925 Ngài Phạm Công Tắc cũng tham dự phong trào cầu
Cơ và đích thân làm đồng tử sau được Đức Cao Đài dạy
phải liên lạc với Ngài Ngô Văn Chiêu để biết cách thờ
phượng vì Đức Chí Tôn có chỉ dạy cho Ngài Ngô Văn Chiêu
trước rồi.
Như vậy, Phạm Công Tắc và Ngô Văn Chiêu là những vị môn
đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn học Đạo chung một Thầy bằng
phương pháp Cơ bút.
Chứng tích hãy còn trong lịch sử Đạo qua bài thơ sau đây
được ghi nhận vào ngày 9-1-Bính Dần (1926.)
Bài thơ ghi lại tên của các vị môn đồ có mặt trong đàn
cơ để kỷ niệm.
Xin lưu ý.
Hai chữ CHIÊU và TẮC trong câu 1 và 3. Năm sau Ngài Phạm
Công Tắc được phong làm Hộ Pháp và Ngô Văn Chiêu được
chuẩn bị phong Giáo Tông Đạo Cao Đài. Ngài Phạm Công Tắc
vâng lời dấn thân vào Đạo, lo phổ độ nhơn sanh lập thành
Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Toà Thánh đặt tại Tây
Ninh.
Ngài Ngô Văn Chiêu từ chối không chịu nhận làm Giáo Tông
chuyên chú vào việc tịnh luyện, thiền định hầu tìm
phương giải thoát cho mình trước đã với chủ trương
"Ngô thân bất độ hà thân độ". Một số người quy tụ
xung quanh Ngài theo phương pháp tu luyện này theo thời
gian mở rộng dần phát triển thành phái " Chiếu Minh"thờ
Thiên Nhãn. Trung tâm đặt tại Cần Thơ. Con đường đã rẽ
lối từ đây để lại muôn vàn khó khăn cho hậu thế.
Chứng tích lịch sử như sau:
Sau khi chứng kiến được nhiều lần sự linh hiển, huyền
diệu của cơ bút, Ngài Ngô Văn Chiêu quyết chí tu hành và
có lời nguyện rằng:
"Nếu Đức Cao Đài độ cho tôi thành Đạo tôi sẽ độ lại
chúng sanh tùy theo phước đức của mỗi người."
(Trích Lược Sử Đạo Cao Đài. Phần vô vi của Đồng Tân).
Và Đức Chí Tôn đã bố hóa cho Ngài một hồng ân đặc biệt
để Ngài tịnh luyện, thiền định có đủ ấn chứng hầu tạo
cho Ngài một đức tin mãnh liệt, một sự sáng suốt thánh
thiện để Ngài đảm nhận một trách nhiệm lớn lao hơn lời
khấn nguyện ban đầu của Ngài.
Trách nhiệm ấy là thông công cùng Tam Thập Lục Thiên,
Tam Thiên Thế giới, Thất Thập Nhị Địa giới mà cầu rỗi
cho nhân loại và thay mặt Thầy mà dìu dắt cả chư môn đệ
trên con đường đạo đức do chính mình Thầy khai tạo và
trên con đường đời do cơ Đạo gầy nên. Ấy là một nhiệm vụ
thiêng liêng mà Thánh ý Đức Chí Tôn muốn trao cho Ngài
đảm nhiệm qua sự thông công của Chơn Thần các đồng tử ở
Tòa Thánh Tây Ninh. Thế nhưng đối với Ngài Ngô Văn Chiêu
Ngài cho là ý phàm.
Ngày 13-2-1926 giờ Tý nhằm mùng một Tết B.D. Đức Thượng
Đế giáng cơ dạy rằng :
"Chiêu bữa trước hứa lời truyền Đạo cứu vớt chúng
sanh, nay phải y lời làm chủ mối Đạo dìu dắt cả môn đệ
Ta vào đường đạo đức đến buổi chúng nó thành công
chẳng nên tháo rút phải thay mặt Ta mà dạy dỗ chúng
nó". (Trích: LS Quan Phủ N.V.C.)
Thế nhưng lòng Trời bao la lòng người có giới hạn như
chúng ta sẽ thấy những sự kiện lịch sử diễn ra liên tục
sau đó.
Ngày 14-4-1926 Đức Chí Tôn dạy phải chuẩn bị một bộ
Thiên phục Giáo Tông cho Ngài Ngô Văn Chiêu. Bà Hương
Hiếu lãnh may theo kiểu mẫu do Đức Chí Tôn giáng cơ chỉ
dạy. Xong, Tòa Thánh cử người mang đến cho Ngài. Tất cả
đều do lệnh cơ bút.
Ngài Ngô Văn Chiêu từ chối trả bộ áo mão lại cho Tòa
Thánh kèm theo một số tiền chi phí may bộ Thiên phục ấy.
Đây là một sự kiện lịch sử quan trọng một thái độ dứt
khoát rõ ràng trên con đường tu của Ngài là không chấp
nhận, không tin Thánh giáo do nhóm đồng tử Tòa Thánh
thông công. Ngài chỉ tin đồng tử riêng của Ngài đã sử
dụng từ trước.
Tưởng cũng nên ghi nhận thêm trong đàn cơ ngày 14-4-1926
nầy. Ngài Ngô Văn Chiêu có đến dự, Ngài đến sau chót
thấy số người tham dự đông đảo đã đến trước Ngài nói :
"Cầu cơ chớ lập Thiên Địa hội sao mà đến đông vậy".
Nói xong Ngài bỏ ra về.
( Theo lời thuật của Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức -
người có tham dự đàn cơ nầy.)
Vì vậy khi Đức Chí Tôn giáng dạy về Ngài thì Ngài đã
vắng mặt vì đã bỏ về mấy phút trước đó.
Trong đàn cơ ngày 24-4-1926 sau khi giảng dạy Ngũ Chi
Đại Đạo bị qui phàm Đức Chí Tôn có dạy :
"Thầy nhứt định đến chính mình Thầy mà độ rỗi các
con chẳng chịu giao chánh giáo cho tay phàm nữa nhưng
mà buộc phải lập chánh thể có lớn nhỏ đặng dễ thế cho
các con dìu dắt lẫn nhau anh trước em sau mà đến nơi
Bồng Đảo !
Vì vậy Thầy mới lập ra phẩm Giáo Tông nghĩa là Anh
Cả…"
Đức Chí Tôn cũng xác định luôn về trường hợp của Ngài
Ngô Văn Chiêu như sau:
"Chiêu đã có công tu lại là môn đệ yêu dấu của Thầy
nên Thầy muốn ban chức Giáo Tông cho nó, song vì lòng
ám muội phạm đến oai linh Thầy mà ra lòng bất đức
chẳng còn xứng đáng mà dìu dắt các con nên Thầy cất
phần thưởng nó. Thầy nhứt định để chức ấy lại đợi
người xứng đáng hay là Thầy đến chính mình Thầy đặng
dạy dỗ các con…"
"Chiêu đã hữu căn hữu kiếp Thầy lại dùng huyền diệu mà
thâu phục đặng rỗi nó trước các con. Biết bao phen
Thầy gom các môn đệ yêu dấu của Thầy lại sở cậy nó ấp
yêu dùm cho Thầy dường như gà mẹ ấp con song nó chẳng
vâng mạng lịnh Thầy lại đành cắn mổ, xua đuổi dường ấy
thì làm sao cho xứng đáng cái trách nhiệm rất lớn của
Thầy toan phú thác cho nó!".
( Trích : Đạo Sử Hương Hiếu ).
Tóm lại trong buổi đầu lập giáo Đức Chí Tôn dùng huyền
diệu cơ bút thâu nhận môn đệ rải rác nhiều nơi sau đó
Ngài dạy lập thành chánh thể Đại Đạo có luật pháp, phẩm
tước, quyền hạn, trách nhiệm, qui tụ tất cả môn đệ đã độ
rỗi từ trước gom về một mối ban quyền cho Hội thánh xưng
danh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ gồm hai đài hữu hình là Cửu
Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài giao cho hai vị Giáo Tông và
Hộ Pháp làm đầu.
Ngài Phạm Công Tắc vâng lời làm Hộ Pháp, Ngài Ngô Văn
Chiêu từ chối không chịu đứng chung trong tổ chức tôn
giáo nầy.
Vì vậy Ngài Ngô Văn Chiêu không hề làm Giáo Tông Đạo
Cao Đài một ngày nào. Và cho đến bây giờ chưa có
người nào xứng đáng ngồi ở địa vị Giáo Tông chính thức
của Đạo Cao Đài. Chơn linh Đức Lý Thái Bạch trong hàng
Tam Trấn phải kiêm trách nhiệm Giáo Tông về phần Thiêng
Liêng, còn Ngài Thượng Trung Nhựt chỉ là quyền Giáo Tông
chưa được chánh vị. Riêng phần chi phái Giáo Tông có
nhiều nhưng ngoài chơn pháp. Pháp Chánh Truyền qui
định Đạo Cao Đài có một Giáo Tông mà thôi.
Ngay từ những ngày đầu thành lập Hội Thánh Đại Đạo Tam
Kỳ Phổ Độ khi ban hành bộ Tân Luật vào năm 1927, Tòa
Thánh Tây Ninh đã dành một chương trong bộ luật Đạo để
nói về những sinh hoạt tịnh luyện trong chương trình phổ
độ của Hội Thánh. Chương này gồm 8 điều khoản qui định
một cách tổng quát nhà Tịnh phải có một Tịnh chủ điều
khiển giờ giấc công phu, chế độ ăn uống của ngừơi tu
tập, điều kiện nhập tịnh và sự quan hệ với ngừơi
ngoài.v.v...
Pháp Chánh Truyền qui định các Tịnh Thất đặt dưới sự
trông coi của vị Thượng Phẩm Hiệp Thiên Đài. Như vậy
trong chánh thể của Đại Đạo Tam Kỳ Độ các sinh hoạt về
khoa tịnh luyện, thiền định nằm ở Hiệp Thiên Đài nghĩa
là vị chưởng quản Hiệp Thiên Đài. Hộ Pháp chịu trách
nhiệm tối cao về việc truyền bí pháp hướng dẫn những
sinh hoạt công phu, tịnh luyện, thiền định của người tu
tập. Vị chức sắc phải chịu trách nhiệm trực tiếp là
Thượng Phẩm.
Ngài Thái Thơ Thanh vị chức sắc Cửu Trùng Đài người đã
có công đầu tiên đi tìm mua miếng đất xây cất Tòa Thánh
và Khuôn viên Nội Ô Tòa Thánh hiện nay cũng đã theo đuổi
công phu tu tập tịnh luyện và đã được Đức Hộ Pháp trợ
thần, điều chỉnh kịp thời một bước sai lầm trong một
chuyến xuất thần của Ngài. Nhờ sự can thiệp giúp đỡ đúng
lúc của Đức Hộ Pháp ở cấp độ chơn thần đầy linh hiển,
Ngài Thái Thơ Thanh trở thành một người bạn Đạo trọn
lòng tín nhiệm nơi Đức Hộ Pháp và Ngài đã hủy bỏ sơ đồ
Nội Ô Tòa Thánh mà Ngài đã phác họa và chấp nhận tuân
theo sự sắp đặt của Đức Hộ Pháp mà thôi.
Năm 1928 Đức Hộ Pháp mở Phạm Môn, một đường lối tu hành
vượt qua hình tướng áo mão, quyền hành chuyên chú nhiều
về phương diện Tam Lập ( lập Đức, lập Công, lập Ngôn ).
Và Phương-luyện-Kỷ để đạt tới tình trạng Tinh hóa Khí,
Khí hóa Thần, Thần hườn Hư mà đoạt cơ giải thoát. Ngài
đã tuyển lựa một số người ở Phạm Môn có đủ điều kiện để
nhập tịnh và Ngài đã truyền bí pháp công phu tịnh luyện,
thiền định cho từng người. Các sinh hoạt loại nầy không
được phổ biến rộng rãi vì rất khó thành công và rất ít
người có điều kiện theo đuổi.
Trong suốt thời gian còn sanh tiền Đức Hộ Pháp cũng đã
thường xuyên theo dõi tình trạng Chơn Thần của một số
chức sắc Hiệp Thiên, Cửu Trùng, Phước Thiện có điều kiện
phát triển về khoa luyện kỷ nầy để kịp thời điều chỉnh
những sai lệch và nâng đỡ bước đường công phu cho được
tinh tấn. Ấy là phận sự đặt biệt của Đức Hộ Pháp y như
lời dạy của Đức Chí Tôn nhân khi đề cập tới cái hại của
rượu về phần hồn con người như sau :
" Thầy dạy về hại của phần hồn các con Thầy nói cái
Chơn Thần là nhị xác thân các con, là khí chất nó bao
bọc thân thể các con như khuôn bọc vậy nơi trung tâm
của nó là óc nơi cửa xuất nhập của nó là mỏ ác gọi
tiếng chữ là Vi Hộ nơi ấy Hộ Pháp hằng đứng mà gìn giữ
chơn linh các con khi luyện thành Đạo đặng hiệp một
với Khí rồi Khí mới thấu đến Chơn Thần hiệp một mà
siêu phàm nhập Thánh ".
Ngày 14-4- Tân Mão (1956) Đức Hộ Pháp còn tuyên bố rõ
ràng công việc trợ lực của một vị Hộ Pháp còn mang xác
phàm đối với người xin nhập Tịnh vào Trí Huệ Cung một
cách cụ thể như sau :
" Ấy vậy khi muốn bước vô Trí Huệ Cung phải có đủ
Tam lập là tu thân, nhưng làm sao biết họ đã lập công,
lập ngôn, lập đức của họ rồi, dầu giao cho Bộ Pháp
Chánh cũng chưa chắc điều tra được bởi nó thuộc về nửa
bí pháp nửa thể pháp…
Bây giờ bần Đạo có một điều. Những người nào xin đến
Trí Huệ Cung Bần Đạo coi màng màng được thì Bần Đạo
trục Chơn Thần của họ cho hội diện cùng quyền năng
Thiêng Liêng nếu có đủ Tam lập thì vô không đủ thì
ra…".
Về phương diện hình tướng Đức Hộ Pháp đã hoàn tất được
hai trung tâm Tịnh Luyện là Trí Huệ Cung và Trí Giác
Cung còn lại trung tâm thứ ba là Vạn Pháp Cung chỉ mới
phác họa, kế đến Ngài qui Thiên nên chưa hoàn thành
được.
Điều quan trọng hơn hết mà người nghiên cứu về Đạo Cao
Đài không thể quên được là chương trình phổ độ của Tòa
Thánh Tây Ninh gồm hai phần tương liên mật thiết với
nhau là thể pháp và bí pháp.
Thể pháp là hình tướng của Đạo tức nhiên là hình trạng
của Hội Thánh. Bí pháp là quyền năng của điển lực để
giải thoát. Phận sự đặt biệt của Hộ Pháp trong Đại Đạo
Tam Kỳ Phổ Độ là cầm bí pháp để giúp đỡ chúng sanh tự
giải thoát lấy mình. Việc phổ độ bắt đầu bằng hình tướng
đưa người vào cửa Đạo để nương theo các tổ chức, sinh
hoạt Đạo giáo mà lập công, lập đức, lập ngôn tiêu trừ
nghiệp chướng tiền khiên tân tạo của mỗi người và kết
thúc bằng pháp giới độ tận chúng sanh. Hai phần nầy nằm
trong chánh thể Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Hội Thánh có
nhiệm vụ thực hành trọn vẹn cả hai. Tuyệt nhiên trong
chơn truyền của Đức Chí Tôn không hề có sự phân chia làm
hai, phần phổ độ gọi là Ngoại Giáo Công Truyền do Tòa
Thánh Tây Ninh đảm trách, còn phần công phu tịnh luyện,
thiền định gọi là Nội Giáo Bí Truyền do một chi phái đảm
trách.
Cơ siêu phàm nhập Thánh là quyền năng của điển lực Chơn
Thần con người, nó không chịu thúc phược bởi bất cứ thế
lực chính trị hữu hình của tổ chức Đạo giáo nào. Hễ tinh
thần cá nhân của mỗi người tu có đủ tính thánh thiện thì
đương nhiên siêu phàm nhập Thánh hiển linh tại thế,
thoát xác rồi Chơn Thần bất tiêu, bất diệt và ngược lại,
tinh thần còn vương vấn những nét phàm tục thì cửa luân
hồi vay vay, trả trả chưa hề qua khỏi.
Quyền pháp này không phải riêng có trong Cao Đài Giáo mà
nó vẫn có từ ngàn xưa trong tất cả các Đạo giáo bất di
bất dịch với thời gian. Hình tướng Đạo giáo chỉ là cái
vỏ bề ngoài còn sự giải thoát là nội dung chứa đựng bên
trong không thể có tình trạng vỏ một nơi ruột một nẻo.
Thể pháp và bí pháp tương liên cùng nhau như bóng với
hình, hễ có hình thì có bóng, có bóng thì có hình. Tỉ
như lời kinh tiếng kệ tụng niệm hằng bữa là cái hình thể
mà người tu đang cố gắng gom Thần định Trí vào một tư
tưởng thanh cao là Trời Phật. Còn cái bóng của kệ kinh
tức nhiên là kết quả của sự tụng niệm, là trạng thái
sống của tinh thần người ấy đạt được, hoặc là tình trạng
vắng bặt tà tâm, tư ý, vọng niệm, hoặc chú định được vào
cái âm ba trầm bỗng hoặc dường như quên hẳn âm ba hòa
nhập được vào dòng Thần lực của Trời Phật tuôn chảy qua
hồn phách mình tỏa ra một vùng không gian lân cận, một
sức sống tâm linh mãnh liệt bàng bạc nhiệm mầu làm thức
tỉnh Chơn Thần sanh chúng. Âm ba kinh kệ là hình sức
sống; tâm linh là bóng; hình với bóng không thể xa nhau.
Ấy là luận một việc nhỏ, còn việc lớn hơn Thiên Thơ của
Đức Chí Tôn mở cơ tận độ khi Ngài lập pháp Đại Đạo Tam
Kỳ Phổ Độ ban quyền cho Hội Thánh độ rỗi con cái của
Ngài đến chỗ giải thoát, Ngài ban cho Hội Thánh đủ quyền
cả về thể pháp lẫn bí pháp. Đây là lời dạy của Phật Mẫu
đối với Đức Hộ Pháp :
" Hễ làm mẹ quyền hành dạy trẻ
Con đừng lo mạng thế thi phàm
Huyền linh mẹ chịu phần cam
Ban cho con trẻ vẹn toàn pháp môn."
( Thánh giáo ĐHP cầu tại Trí Huệ Cung )
Vậy thì yếu tố quyết định sự thành bại trên đường tu là
công nghiệp phụng sự vạn linh để tiêu trừ nghiệp chướng
tiền khiên, trau dồi đức hạnh để nâng cao chất Thánh cho
Tinh hóa Khí, Khí hóa Thần, Thần hườn Hư được mà không
mang theo một chút ô trược trong Chơn Thần mới nhập vào
cõi hằng sống được.
Tiến trình ấy liên tục và từng giai đoạn thăng tiến đều
có sự hướng dẫn đúng lúc; chẳng hề có sự phân chia phái
phổ độ dạy tu tề trị bình, phái vô vi lo siêu phàm nhập
Thánh ; hoặc người muốn được siêu thoát phải rời khỏi
phái phổ độ, nhập môn vào phái vô vi nhận khẩu khuyết
tâm truyền luyện Tam Bửu Ngũ Hành công phu thiền định
mới đắc Đạo.
Ngày nay Đức Hộ Pháp đã về Thiêng Liêng vị. Quyền năng
chuyển pháp của Chơn Thần càng dễ dàng ứng biến với
những lời cầu nguyện chân thành của người tầm Đạo dầu ở
phương trời góc biển nào, khi người tín đồ đủ công đức
xứng đáng để được khai mở năng khiếu tâm linh thành tâm
cầu nguyện sự trợ lực của Ngài. Ngài sẽ diệu dụng quyền
năng điển lực của Bửu Pháp Kim Quang Tiên và Long Tu
Phiến để trợ thần cho người hành công phu tu luyện cho
Tinh hoá Khí, Khí hóa Thần, Thần hườn Hư mà siêu phàm
nhập Thánh.
Ấy là công việc của Đức Hộ Pháp nơi cõi Hư linh còn phần
pháp giới bán hữu hình tức nhiên là những công việc
huyền linh cần có xác phàm mới gần gũi đặng Chơn Thần và
thể phách của chúng sanh, luôn luôn trong cửa Đạo Tam Kỳ
Phổ Độ nầy vẫn có những bậc cao tăng ẩn dạng, đủ quyền
năng tinh thần để thi hành trọn vẹn sứ mạng ấy. Họ làm
việc theo Thánh ý Đức Chí Tôn thể hiện sự công bình
thiêng liêng nơi mặt thế hữu hình nầy. Cửa Bát Quái Đài
vẫn luôn luôn mở để đón rước chơn thần sanh chúng đủ
công đức xứng đáng đối diện cùng quyền năng của Đức Chí
Tôn và các Đấng trọn lành.
Cho nên dù Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã về thiêng liêng
vị, phần Bí Pháp trong Đạo Cao Đài vẫn thực hiện được.
" Do công đức mà đặng đắc Đạo cùng chẳng đặng"
Ấy là lời phán quyết tối cao của Đại Từ Phụ vậy.
Lập Đạo Cao Đài Đức Chí Tôn mở cơ tận độ, ngay từ buổi
sơ khai Đức Chí Tôn đã dạy :
Ngài gọi đích danh Ngài Ngô Văn Chiêu trước nhứt dạy
phải " độ dẫn hoài sanh " nghĩa là dầu trẻ con
trong bụng mẹ cũng phải lo độ rỗi cho đến khi cuối cuộc
đời chết đi lỡ có thất thệ hay bị tội lỗi chi mà sa đọa
vào cõi âm quang thì trong cảnh giới này cũng còn có
Thất Nương Diêu Trì Cung theo độ hồn ăn năn sám hối hay
là chuyển kiếp đầu thai.
Chữ Phổ Độ nghĩa lý bao la như vậy.
Đức Chí Tôn lập một Đạo Cao Đài với tôn chỉ Tam Giáo qui
nguyên, Ngũ Chi phục nhứt và cứu cánh của đời tu là giải
thoát. Người hành Đạo không thực hiện trọn vẹn Thánh ý
của Đức Chí Tôn mới nảy sinh ra bất hòa, chia rẽ thành
ra nhiều chi, nhiều phái mặc dù họ vẫn nhân danh Thượng
Đế mà hành sự.
Hiện tượng chi phái là một biến tướng trên dòng lịch
sử của tổ chức Đạo giáo, nó ở ngoài chơn pháp của Đức
Chí Tôn, một dấu hiệu qui phàm của tâm thức người hành
đạo nói chung. Quyền tự do tín ngưỡng là quyền của
mỗi cá nhân con người nhưng chân lý vẫn có một và sự
diễn tả chân lý thì muôn vàn hình thức khác nhau tùy
theo tâm thức của mỗi người đạt được đến mức độ nào trên
con đường tấn hóa vô tận.
Năm 1947 Đức Hộ Pháp cho phổ biến những chỉ dẫn cụ thể
về cách sống của người tu luyện với lời giới thiệu :
Đã gọi là con đường thứ ba tất nhiên phải có con đường
thứ nhứt và thứ hai. Vậy con đường thứ nhứt và thứ hai
là con đường nào ? Đạo Cao Đài được chính thức khai mở
vào năm Bính Dần ( 1926 ) với những thủ tục thông thường
của một đoàn thể xã hội như :
· Tuyên ngôn Khai Đạo ( 7-10-Bính Dần. 1926 )
· Lễ ra mắt gọi là Lễ Khai Đạo ( 15-10-BD. 1926 )
· Ban hành Bản Hiến Pháp thiêng liêng của Đạo gọi là
Pháp Chánh Truyền và bộ luật của tôn giáo mới gọi là
Tân Luật. Đó là những yếu tố cần thiết phải có để
thành hình Hội Thánh là cơ quan quyền lực tổ chức và
điều hành sinh hoạt tín ngưỡng của khối tín đồ Cao Đài
theo triết lý đã chọn. Tín đồ phải có tín ngưỡng Trời
Phật, hiểu biết luật nhân quả luân hồi, ăn ở hiền
lành, lập công bồi đức, tu tâm sửa tánh và tùy theo
công nghiệp phụng sự vạn linh, đức hạnh, tài năng có
được nhiều hay ít sẽ được thăng phẩm từ tín đồ lên đến
Giáo Tông.
Đó là con đường lập quyền Đạo để nương nhờ quyền hành ấy
mà làm phương tiện phổ độ chúng sanh. Các phẩm tước hữu
hình trong Hội Thánh chỉ là những nghi thức đối phẩm với
các Đấng thiêng liêng trong thế giới vô hình, nó đòi hỏi
người thọ nhận phải làm tròn thiên chức của mình, khi
chết linh hồn mới xứng đáng được gọi là Thần, Thánh,
Tiên, Phật. Chẳng hạn phẩm Giáo Sư, Pháp Chánh Truyền
buộc phải lo lắng cho tín đồ như anh ruột lo cho em. Ôi
! Được bao nhiêu người có tâm đức ấy, chẳng trách nào
Đức Chí Tôn định chỉ có 72 Giáo Sư hành quyền trên toàn
thế giới. Hay là phẩm Giám Đạo của Hiệp Thiên Đài đòi
hỏi người chức sắc phải có đủ quyền năng tâm linh để tự
mình hay biết những vụ vi phạm luật pháp Đạo đã hay đang
xảy ra ở một nơi nào đó mà về phương diện hữu hình chưa
lộ tông tích, mới đúng nghĩa Giám Đạo, đúng với câu
trong Pháp Chánh Truyền : " chẳng ai qua luật mà Hiệp
Thiên Đài chẳng biết ".
Vì vậy phẩm tước hữu hình chỉ là giả tạm và trạng thái
sống thực của Chơn Thần có tinh tấn hay không mới là yếu
tố quyết định giá trị của hai tiếng đối phẩm. Con
đường đó là Cửu Trùng Đài, con đường thứ nhứt của Đại
Đạo lấy quyền hành, phẩm tước hữu hình làm phương tiện
hành đạo. Phẩm tước ấy phải do công nghiệp hành đạo
và đức hạnh mới có được, khi chết chơn thần rời khỏi xác
thân trở về cùng Đức Chí Tôn. Con đường thứ nhứt nầy bao
gồm cả những chức sắc cấp dưới của Hiệp Thiên Đài mà sở
hành của họ cũng lấy quyền Đạo làm phương tiện lập công.
Con đường thứ hai là Phước Thiện với Thập Nhị
đẳng cấp thiêng liêng cũng có phẩm tước hữu hình để đối
chiếu với Thiêng Liêng từ Minh Đức đến Phật Tử.
Sở hành của họ chú ý nhiều đến việc lập đức, tạo ra
nhiều của cải, vật chất để tế khó trợ nghèo, yểm trợ đời
sống hữu hình cho chức sắc hành đạo bất kỳ ở cơ quan
nào, nuôi nấng bênh vực trẻ mồ côi, người già cả, tật
nguyền. Cũng phải đợi đến khi chết Chơn Thần mới rời
khỏi thân xác trở về cùng Đức Chí Tôn.
Con đường thứ ba Đại Đạo là Tu Chơn tức là con
đường tịnh luyện, thiền định chú ý tới sự rèn luyện năng
lực sống trong nội thân mình theo tiến trình Tinh hóa
Khí, Khí hóa Thần, Thần huờn Hư, đến chỗ Chơn Thần có đủ
khả năng rời khỏi xác phàm trước khi chết trở về cùng
Đức Chí Tôn được. Đây là con đường đi tắt trong kiếp
sanh, dĩ nhiên Chơn Thần xuất ngoại xác thân được thì
phải trở về được và sống trọn kiếp người của mình theo
đúng Thiên ý. Có rất nhiều người lầm lạc vì ảo tưởng, ảo
giác trong loại sinh hoạt nầy.
Nếu như ở con đường thứ nhứt và thứ hai, người ta có thể
lầm lạc chạy theo danh, lợi, quyền trong tôn giáo, cũng
là ảo ảnh của cuộc đời, nhầm lẫn phương tiện với cứu
cánh, làm biến tướng nền Chơn Giáo thành Tả Đạo Bàn Môn,
thì ở con đường thứ ba nầy nhầm lẫn chính là ảo tưởng và
ảo giác rất tinh vi.
Trong phép thông công của con người với thế giới Thần
linh cũng có vô vàn những điều đáng tiếc như vậy đã xảy
ra và hậu quả của nó đối với đời sống tín ngưỡng của một
số đông người cũng rất đáng thương tâm.
Như vậy có phải con đường thứ ba Đại Đạo là phần tiếp
nối của con đường thứ nhứt hoặc thứ hai trong tiến trình
tu tập của người tín đồ hay không ?
Đức Hộ Pháp chủ trương tín đồ phải có đủ Tam Lập mới
bước vào sinh hoạt tịnh luyện, không buộc phải qua một
thời gian hành đạo có áo mão, hay quyền hành, chức tước.
Một đàng sống với đức tin vào nguyên tắc đối phẩm, lấy
sự thể hữu hình làm chuẩn với lý trí thông thường, đợi
đến khi chết chơn thần sẽ xuất ngoại xác thân trở về
cùng Thượng Đế, cũng chẳng vội, ung dung lập công bồi
đức và thăng tiến theo phẩm trật hữu hình. Một đàng tìm
phương rốt ráo, phải về diện kiến Đức Chí Tôn ít nhứt
một lần trong khi còn sống thì phương pháp tu hành mới
gọi là chứng đắc được.
Yếu lý khác biệt của nó nằm ở chỗ Chơn Thần về được cùng
Đức Chí Tôn trước khi chết hay sau khi chết. Còn điều
kiện định quyết cho Chơn Thần về được hay không là ở chỗ
công đức, chớ không phải ở phương pháp tu luyện điều
khí, dưỡng thần, truyền thần, xuất thần, tham thiền,
nhập định. Phương pháp tu luyện là kiến thức có thể
truyền lại cho nhau dễ dàng giữa người nầy và người kia
nhưng công đức mỗi cá nhân tự tạo mới có. Phải có đủ
công đức nghĩa là tròn tam lập, áp dụng phương pháp tu
luyện mới có kết quả gọi là ấn chứng chánh truyền, bằng
không rất dễ rơi vào ảo tưởng làm cho Thần biến ra đủ
thứ khi công phu thiền định.
Một người thiếu công đức là người mà khí thể còn ô
trược, lấy trược khí nuôi Thần, thì Thần phải tối, tức
nhiên đời sống tâm linh còn trộn lẫn nhiều hình ảnh tư
duy ảo vọng. Thần phóng ra ảo rồi nhắm lấy ảo ấy mà đeo
đuổi thì quả thật là " đổi chơn thay giả tô Thiên vị
". Chỗ nhằm lẫn nầy hết sức tế vi, khó thấy và chẳng
dễ gì xua đuổi nó ra khỏi tâm tư của con người khi mà
các trung khu não bộ hãy còn phủ trùm bằng một vùng
trược khí.
Nói vắn tắt cho dễ hiểu, nếu như kiến thức về phương
pháp công phu làm cho người ta đắc đạo được thì những kẻ
gian hùng nhứt ở thế gian sẽ ngự trị ở cõi Thiên Đàng.
Vì sao ?
Vì những kẻ gian hùng ở thế gian nầy, thứ gì họ cũng ăn
cướp được, nói chi đến bí quyết luyện đạo của thầy tu là
điều mà kẻ có lòng từ tâm luôn luôn muốn có nhiều người
hưởng ứng. Kinh điển hay là phương pháp tu luyện cũng
như đũa với chén để ăn cơm, phải có cơm vào dạ dày mới
no được, công đức của mình mới là thứ cơm tinh thần vậy,
phải có cơm thì chén đũa mới hữu dụng.
Đức Chí Tôn dạy :
- " Người ở thế nầy muốn giàu phải kiếm phương thế
làm ra của cải. Ấy là phần xác thịt. Còn Thần, Thánh,
Tiên, Phật muốn cho đắc Đạo phải có công quả". (
TNHT. 5-7-1926 )
- " Đạo vẫn như nhiên do công đức mà đặng đắc Đạo
cùng chẳng đặng". ( TNHT. 21-8-1926 )
- " Thầy nói cho các con biết nếu công quả chưa đủ,
nhân sự chưa xong thì không thể nào các con luyện
thành đặng đâu mà mong. Vậy muốn đắc quả thì chỉ có
một điều là phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm
đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất thì cái
công phu tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa
vị tối cao ". ( TNHT. 5-3-1927 )
Dầu đi con đường nào cũng vậy, thứ nhứt, thứ hai, thứ ba
cũng phải có công đức mới đặng đắc Đạo. Con đường thứ ba
Đại Đạo nếu thành công về với Đức Chí Tôn sớm hơn một
chút chẳng phải đợi đến khi chết như con đường thứ nhứt
và con đường thứ hai. Mối tương quan giữa ba con đường
là như thế chẳng nên hiểu lầm rằng nếu không tịnh
luyện thì không đắc Đạo.
1/- Thiếu tình mẫu tử. Xin đơn cử sau đây vài
trường hợp điển hình về kinh nghiệm trong đời sống tâm
linh của một tín đồ tu chơn ở Tòa Thánh Tây Ninh.
Là một thanh niên còn trẻ tuổi y đã sớm bước chân vào
sinh hoạt Thượng Thừa Đại Đạo, trong quãng đầu đời theo
tiếng gọi sâu thẳm của tâm linh mình thúc giục và may
duyên được Chân Sư dìu dẫn trực tiếp. Sau khi tu tập khổ
hạnh một thời gian, một ngày kia trong buổi công phu giờ
Tý, Chơn Thần y được đối diện trước quyền năng Thiêng
Liêng của Chân Sư và như thường lệ Chân Sư dạy y……
" Con hãy dùng phép hồi quang phản chiếu, xem xét lại
những gì con đã nghĩ và làm trong ngày hôm nay, có gì
lầm lỗi chăng ? "
Y ngồi yên một lúc và hồi tưởng……
Trong thời kỳ tu học nầy Chân Sư không dạy y điều gì
khác hơn là phép xét mình…
- Bạch Thầy con đã làm tròn bổn phận con trong những
công việc thường lệ ngày hôm nay, không có điều gì làm
mất lòng ai cả.
Chân Sư hỏi tiếp :
- Còn bữa cơm trưa nay ?
- Bạch Thầy mọi người đều vui vẻ.
- Con đã ăn món gì ?
Y đáp một cách thản nhiên vì cũng chẳng nhớ mình đã ăn
món gì.
- Bạch Thầy thì món gì vừa miệng con thì con ăn, có ai
phiền hà gì đâu, con thấy mọi người đều vui vẻ.
Chân Sư ôn tồn giảng dạy bằng một giọng trầm trầm đầy
quyền lực làm thức tỉnh chơn thần y.
" Trong bữa ăn bà mẹ nếu thấy món nào bà cho là ngon
miệng đối với bà, bà ăn ít hay là nhường lại cho con bà
ăn. Tình thương của một bà mẹ phàm tục đối với con là
như thế. Con chưa sống với tình mẫu tử ấy thì làm sao có
được tình thương yêu đại đồng đối với chúng sanh. Con
phải thương yêu chúng sanh như thương chính thân mình
vậy ".
Chân Sư dừng lại không nói thêm một lời nào nữa, có một
sức mạnh vô hình truyền qua từng lời nói của Chân Sư làm
cho tâm thức y bừng tỉnh dậy. Bao nhiêu ý nghĩ trước đây
tự thấy mình cũng thuộc loại khá về đạïo đức ở thế gian
đều tan biến hết. Y nhận thức được tính chất tầm thường
trong tinh thần mình cũng như của bao nhiêu người trần
tục khác dù y đang được Chân Sư dạy Đạo bằng huyền linh
mặc khải.
2/- Cứu đói trẻ mồ côi Và một lần khác vào khoảng
nửa đời tu học y cũng gặp một trường hợp tương tự. Có
một số trẻ mồ côi sống gần nơi y cư ngụ đang gặp cơn
đói, không phải vì xã hội bạc đãi chúng nó, mà vì lòng
tham lợi của người chăm sóc khiến xảy ra vụ đói mà bên
ngoài ít người biết được. Y biết rõ tình trạng thiếu
thốn của chúng, nhưng y vẫn lờ đi không giúp đỡ gì. Y an
tâm để việc đói khát ấy lại cho người khác lo liệu, tự
nhủ rằng mình làm quá nhiều công việc tinh thần rồi.
Trong một lần diện kiến Chân Sư bằng Chơn Thần sau phần
dạy bảo xong, Ngài liền quay sang hỏi thăm chuyện trần
tục.
"- Mấy đứa trẻ mồ côi ở gần con đó hiện giờ sống ra
sao ?
- Bạch Thầy chúng nó đang đói phải ăn cháo qua ngày.
Ngài dạy tiếp :
" Trong túi con đang có tiền, con có quyền chi dụng
số ấy. Mấy đứa trẻ mồ côi đang đói trước mắt con, mà con
vẫn làm ngơ, hạnh của một người tu không phải như thế.
Con hãy trở về cõi đời trần tục của con mà lập hạnh
lại".
Chơn Thần y đã bị Chân Sư đuổi về cõi đời trần tục vì
thiếu hạnh thương yêu đối với chúng sanh…
Thế là sau đó một chương trình cứu đói cho trẻ mồ côi
được thực hiện một cách âm thầm, khéo léo, khoảng vài ba
tháng thì hết nạn. Có ai biết rằng những bát cơm cứu trợ
vào những ngày giờ ấy là kết quả của một hình phạt mà vị
môn đồ tu chơn đã nhận từ vị Thầy của mình nơi cõi
Thiêng Liêng để cảnh cáo. Y nhớ mãi bài học nầy trong
đời.
3/- Tâm ô uế Một câu chuyện khó quên nữa là
chuyện hai con kiến vàng cắn lộn.
Hôm ấy khoảng 11 giờ trưa, vị môn đồ tu chơn đang ngồi
đi tiêu dưới gốc một bụi tre. Cầu tiêu nơi miền quê chỉ
là một cái hố sâu có hai miếng ván bắt ngang, bao chung
quanh vài thanh gỗ và mấy miếng lá dừa sơ sài. Gió hiu
hiu thổi, vài áng mây bay lãng đãng trên bầu trời xanh
thẳm. Y đang ngồi ngó mông lung bất giác nhìn xuống
thanh gỗ thấy một hàng kiến vàng bò lưa thưa… Có hai con
chẳng biết giận nhau chuyện gì, đang cắn nhau dữ dội,
bốn cái nanh bấu chặt không rời, chân chỏi vào nhau dựng
đứng cả người, con nầy đẩy qua con kia đẩy lại, khi
thắng khi bại, có lúc lăn nhào trông giống một màn đô
vật trên võ đài. Lấy làm vui mắt, y mãi mê xem trận kiến
vàng đấu võ. Bỗng một luồng thần lực tuôn tràn xuống
mạnh mẽ khắp cả người y. Y đã quen với cảm giác nầy mỗi
khi Chân Sư sắp xuất hiện, nên định thần lại để tâm thật
yên xem có chuyện gì xảy ra. Y nghe rõ tiếng nói Chân Sư
lồng lộng trong chơn thần với giọng nghiêm khắc.
"- Hai con kiến đang cắn nhau sắp chết mà con nỡ ngồi
nhìn như thế à ! Sao con không can nó ra ?"
Y có cảm giác sợ hãi vì thất lễ, cầu tiêu ô uế quá sao
Thầy lại đến nơi nầy.
Tiếng nói lại tiếp :
"- Con nhìn xuống hầm cầu kia xem "
Y ngó xuống hố tiêu thấy một đám dòi lúc nhúc.
"- Nơi đó đang có sự sống. Có sống là có Thầy trong
đó, không có gì là ô uế cả. Chính tâm con đang dơ đó ".
Tiếng nói im bặt…
Y lấy ngón tay định kéo mỗi con ra một bên …
Tiếng nói lại vang lên :
" Nhẹ nhẹ tay không khéo con làm chết nó bây giờ ".
Y xé một miếng giấy nhỏ xen vào giữa bốn cái càng của
chúng, rồi dùng miếng giấy khác ép nhẹ vào thân nó đẩy
ra xa, chúng vẫn còn giận dữ, phải một hồi lâu mới chịu
buông ra mà bò đi chỗ khác.
Y bàng hoàng như vừa qua một cơn mộng giữa ban ngày …
Bên ngoài đàn kiến vẫn bò lưa thưa, cơn gió nhẹ thoảng
qua và những đám mây trôi lững thững trên nền trời xanh
biếc, khung cảnh vẫn y như lúc nãy nhưng tâm hồn người
tu sĩ đã đổi thay rất nhiều. Những dòng tư tưởng của trí
não lại hiện ra ; thì ra bấy lâu nayThầy bắt mình học
thuộc lòng Tân Luật, Pháp Chánh Truyền mình đọc thuộc
như con két mà không nhập tâm chút nào.
" Đừng thấy đồng Đạo tranh đua ngồi mà xem không để
lời hòa giải ".
Thầy muốn dạy mình một bài học về hai chữ " Đạo Tâm"
thật mắc mỏ và quí giá vô cùng. Sau nầy khi tuổi đời đã
về chiều, vị môn đồ tu chơn trẻ tuổi của mấy mươi năm
trước mỗi khi nhắc lại kinh nghiệm tu học của mình để
hướng dẫn đàn em, vẫn khẳng định rằng :
" Cả cuộc đời của Qua, Qua đã sống tràn ngập trong ân
huệ thiêng liêng của Đại Từ Phụ và các Đấng trọn lành do
duyên may từ tiền kiếp mà được vậy ngay từ buổi đầu tu
học. Qua có thể làm chứng chắc với mấy em rằng, phải có
công nghiệp phụng sự vạn linh, phải tu sửa đức hạnh của
mình từ trong tâm ý sâu kín cho đến những biểu lộ bên
ngoài trong cử chỉ, lời nói, hành động cho đến chỗ chí
Thánh mới đoạt Đạo đặng. Kiến thức về đạo lý không thôi
chưa đủ mà phải thực hành đạo lý ấy mới trọn vẹn tri
hành hợp nhứt tạo nên thiện duyên, thiện nghiệp đọng lại
trong Chơn Thần một sức sông tâm linh cảm hóa được lòng
người gọi là cái đức của kẻ tu hành.
Cái phép tu luyện chỉ giúp mình gần đặng Chân Sư để nghe
lời chỉ giáo, còn Thánh chất trong con người mình, mình
phải tự tạo cả tâm ý lẫn hành động đều mang tính chất
thánh thiện mới được. Chân Sư không bồng ẵm đặng, luật
Trời không cho phép như thế.
Hay nói một cách khác thì phương pháp tu luyện cũng như
áo mão, quyền hành, chức tước của giáo quyền giúp mình
đến chỗ tạo được nhiều công nghiệp phụng sự vạn linh và
đức hạnh thánh thiện là hai yếu tố quyết định cho người
tu sĩ đắc Đạo hay không ".
Phạm Môn là đường lối tu chơn trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ
Độ do Đức Hộ Pháp lập ra để thực hiện sinh hoạt Tịnh
Luyện ghi trong Bộ Tân Luật vâng theo Thánh ý Đức Chí
Tôn trong bài thi :
Đường lối tu hành nầy chủ trương vượt qua hình thức áo
mão, quyền hành của Hội Thánh chuyên chú về phương diện
Tam Lập là lập công, lập ngôn, lập đức cho đầy đủ để
được thọ truyền bí pháp tịnh luyện tự giải thoát lấy
mình.
Về phương diện tổ chức là một nếp sống cộng đồng dưới
hình thức những cơ sở kinh tế nhỏ qui tụ một số người
đồng chí hướng làm ăn chung với nhau. Trước nhứt để tự
nuôi thân mình và sau dùng lợi nhuận hiến công quả cho
Hội Thánh hoặc tế khó trợ nghèo bất luận người trong Đạo
hay ngoài đời.
Những người tình nguyện vào Phạm Môn phải qua một thủ
tục kết nghĩa với nhau gọi là " Đào viên Pháp ".
Về nội qui họ phải tuân theo Thập điều giới răn kể ra
như sau :
1- Phải tuân y luật pháp chơn truyền của Chí Tôn.
2- Phải trọn hiếu với tông đường phụ mẫu, trọn nghĩa
vợ chồng vẹn phận làm cha.
3- Phải trọn giữ trai giới.
4- Phải xa lánh các đảng phái
. 5- Phải thật hành phước thiện, nuôi người già, dưỡng
trẻ nhỏ.
6- Không đặng thâu của chúng sanh.
7- Coi anh em đồng đạo như ruột thịt.
8- Không được bội sư phản bạn.
9- Phải ăn ở như các Thánh hiền, đừng phạm tội vong
công bội đức.
10- Phải thương yêu loài người và loài vật, kỉnh trọng
mạng sanh vừa theo tính chất của Chí Tôn là chúa sự
sống.
Tại Tây Ninh từ năm 1929 đến năm 1933 đã tổ chức được 9
nhà sở theo kiểu nầy.
Khởi đầu là cơ sở Phạm Nghiệp nằm bên quốc lộ 22 tại xóm
Trường Đua gần ngã ba Mít Một, làm ruộng và đồ mộc. Kế
đến là các nhà sở :
· Khách Đình ( nội ô Tòa Thánh )
· Sở Tâm Lạch xã Trường Hòa.
· Sở Giang Tân xã Trường Hòa.
· Sở Nam Công Nghệ gần ngã ba Suối Đá.
· Sở Nữ Công Nghệ gần ngã tư Ao Hồ.
· Sở Dưỡng Lão Đường.
· Sở làm ruộng ở Núi Sập.
· Trạm Y Tế Phạm Môn phía sau Hộ Pháp Đường ( nội ô
Tòa Thánh ).
Nguyên từ buổi ban sơ, các nhóm phò loan học Đạo bằng cơ
bút, giáo lý của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ truyền dạy qua cơ
bút cũng có đôi phần khác hơn với cựu luật của Tam Giáo
đang lưu truyền buổi ấy. Đặc biệt vấn đề tịnh luyện,
thiền định, Đức Chí Tôn giáng cơ xác định những điều căn
bản sau đây đối với các tín đồ gốc ở Đạo Phật và Đạo Lão
chuyển sang. Tóm tắt như sau :
" Luật lệ tuy cũ nhưng Đạo vẫn như nhiên. Do công
đức mà đặng đắc Đạo cùng chẳng đặng ".
" Tu thành công hay không là do người hành Đạo".
" Phép luyện Đạo không đổi".
" Tam Kỳ Phổ Độ là một trường thi công quả".
" Duy Thầy cho Thần hiệp cùng Tinh Khí đặng hiệp Tam
Bửu là cơ siêu phàm nhập Thánh ".
" Thầy đến đặng huờn nguyên cho Chơn Thần các con đắc
Đạo".
Yếu tố công đức được quan tâm trước tiên thay vì phương
pháp công phu, tịnh luyện, thiền định. Do đó, khi tổ
chức đời sống tu hành của tín đồ nhằm mục đích giải
thoát sau cùng, đường lối Phạm Môn chủ trương phải dấn
thân nhiệt thành làm công quả một thời gian song song
với việc học hỏi để mở mang trí tuệ, tu chỉnh đức hạnh
của mình cùng với cúng kiến, công phu để rèn luyện Tinh
Khí Thần theo chiều hướng hiệp nhứt Tam Bửu. Nếp sống
nầy hiện ra thành những sinh hoạt cộng đồng của nhà sở
có tính chất giống như phước thiện, thu hút được một số
đồng đạo ngày càng đông dần theo thời gian và có một sắc
thái đặc biệt hiện rõ lên giữa một khối tín đồ Cao Đài
buổi đầu còn đa dạng. Từ đó dấy sinh lên trong lòng
người cái nhìn và phê phán có tính cách trường phái là
nguyên nhân đưa đến những khảo dượt làm biến tướng Phạm
Môn.
Trước tiên là danh xưng Phạm Môn nguyên văn lấy từ bài
thi của Đức Chí Tôn giáng cơ cho.
Phạm Môn có nghĩa là cửa Phật, chữ Phạm còn đọc là Phạn
có nghĩa là Phật (Hán Việt Tự Điển của Nguyền Văn Khôn.
Khai Trí. Xuất bản năm 1969, nơi trang 692 ghi rõ như
sau : Phạm ( Phật ) thanh tịnh, trong sạch. Một âm nữa
là Phạn).
Vì Đức Hộ Pháp mang họ Phạm nên Phạm Môn bị hiểu lầm
xuyên tạc là của dòng họ Phạm. Phạm Nghiệp là tên của cơ
sở kinh tế đầu tiên của đường lối tu chơn tại Tây Ninh.
Nguồn vốn đầu tiên của cá nhân và gia đình Ngài, có sự
hùn công của một số đồng đạo cùng chung sống với nhau,
tổ chức như một đơn vị kinh tế tự lập, không phải là tài
sản của Hội Thánh.
Lời giải thích xác định ấy được diễn dịch ra dưới cái
nhìn phe phái cho rằng Đức Hộ Pháp lập riêng sự nghiệp
của những người họ Phạm.
Xin trích nguyên một đoạn trong tờ lời giảng ngày 15-10
- Nhâm Thân do Ngài Thượng Chánh Phối Sư Thượng Tương
Thanh viết :
" Đức Hộ Pháp ban đầu có lập một cảnh nhà bên đường
lộ Tây Ninh Sài Gòn, gần ngã ba Mít Một, đặt tên là
Phạm Môn để cho gia quyến của Ngài ở và thờ ông bà
kiến họ Phạm là họ của Ngài. Ngài khai rằng : là của
riêng của Ngài sắm không ăn nhập với Hội Thánh. Hai
năm nay Ngài có lập riêng ra nhiều chỗ nữa, người ta
cũng kêu là Phạm Môn, song Ngài nói để chữ Phạm là
Phật như :
1/- Phạm Môn gần Ao Hồ.
2/- Khách Đình.
3/- Phạm Nghiệp Nam.
4/- Nữ Công Nghệ ở gần Tòa Thánh.
5/- Phạm Từ ở Cẩm Giang. Đức Hộ Pháp coi là của
riêng của người họ Phạm, hay là người vào Phạm Môn,
không ăn nhập với Đạo.
6/- Giang Tân ở Bến Kéo.
7/- Sở làm ruộng ở Núi Sập (Long Xuyên).
Ngài nói là sở làm ăn của người kiến họ Phạm của Ngài
chớ không phải của Đạo, Ngài nói Ngài dùng tiền bạc
riêng của Ngài mà lập ra các sở nầy nên Ngài không cho
Hội Thánh hay trước. Ngài nói như Hội Thánh muốn lãnh
các sở ấy mà làm theo sở hành Phước Thiện của Ngài sắp
đặt cho đạo hữu thuở nay thì Ngài giao cho, song cũng
phải thối hồi những tiền sở tổn về việc ấy thuở giờ
cũng là nhiều…"
Còn về phía chính quyền tại Tây Ninh, người Pháp luôn
luôn tình nghi Đạo Cao Đài là một tổ chức chính trị
chống Pháp trá hình, nên những hình thức tập hợp tín đồ
thành từng nhà sở kinh tế kiểu nầy càng làm tăng thêm
mối nghi ngờ sẵn có, dĩ nhiên người Pháp phải tìm cách
ngăn chận và dập tắt. Sau cuộc khám xét, lục soát tại Hộ
Pháp Đường vào cuối năm Quí Dậu ( 1933 ) chính quyền
Pháp ra lịnh đóng cửa các cơ sở Phạm Môn với lý do lập
hội không giấy phép. Nội vụ đưa ra tòa, Hội Thánh chống
án, và cuối cùng được tòa tối cao bên Pháp xử trắng án.
Mặc dầu được trắng án, mối căng thẳng giữa Đạo và chính
quyền Pháp vẫn không có gì giảm bớt.
Sau cuộc đại náo Đạo quyền tại Toà Thánh Tây Ninh ngày
20-1- Giáp Tuất ( 5-3-1934 ) về việc chia chi phái,
những người tu ở Phạm Môn tỏ ra rất trung thành với lập
trường của Hội Thánh, nên Đức Quyền Giáo Tông yêu cầu
Đức Hộ Pháp mượn người Phạm Môn bổ đi các địa phương để
giữ vững tinh thần của các tín đồ.
Đứng trước tình thế nan giải ; trong thì nội bộ bất hòa,
chia rẽ, chi nầy, phái nọ nghịch lẫn nhau. Ngoài thì
Pháp đàn áp, bắt bớ, giam cầm, tra tấn số đông anh em
Phạm Môn ở khám đường Tây Ninh cả ba tháng trời, Đức Hộ
Pháp đồng ý đưa anh em Phạm Môn ra cầu phong, nhận lãnh
áo mão, phẩm tước của Hội Thánh hành Đạo để giải tỏa
những sự hiểu lầm trong và ngoài Hội Thánh.
Đàn cơ tại Cung Đạo Đền Thánh đêm 15-2- Ất Hợi (
19-3-1935 ). Đức Lý Giáo Tông phong :
Hầu hết những vị nầy đều được bổ nhiệm làm đầu họ Đạo
Phước Thiện tại các tỉnh có nhiệm vụ lập các sở Lương
Điền, Công Nghệ, Thương Mãi y như Phạm Môn nhưng đổi tên
lại thành Phước Thiện và các cơ sở nầy thuộc quyền Hội
Thánh.
Cơ quan Phước Thiện mới thành hình đặt dưới quyền chưởng
quản của Ngài Khai Pháp Hiệp Thiên Đài Trần Duy Nghĩa.
Như vậy đường lối tu chơn Phạm Môn không áo mão, phẩm
tước trong buổi đầu đã bị biến tướng thành cơ quan Phước
Thiện mở rộng ở nhiều tỉnh từ năm 1935 với Thập Nhị đẳng
cấp thiêng liêng là 12 phẩm tước do Hội Thánh mới đặt ra
gồm :
Tám phẩm dưới do Hội Thánh phong có nhiệm vụ giúp Hội
Thánh Cửu Trùng Đài. Bốn phẩm sau cùng là Hiền Nhơn,
Thánh Nhơn, Tiên Tử, Phật Tử phải do cơ bút định, giúp
Hội Thánh Hiệp Thiên Đài giữ gìn chơn pháp tức là bảo
thủ bí pháp tâm truyền.
Trong Đại Đạïo Tam Kỳ Phổ Độ người chịu trách nhiệm tối
cao truyền bí pháp là Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc - người
đứng đầu cơ quan Hiệp Thiên Đài. Trong Pháp Chánh Truyền
Đức Chí Tôn dạy :
Cầm quyền thiêng liêng mối Đạo có nghĩa là dùng quyền
lực vô hình của Bát Quái Đài tác động trên đời sống hữu
hình của Hội Thánh và chúng sanh. Bí Pháp là quyền năng
của điển lực để giải thoát Chơn Thần con người khỏi
những ràng buộc của thất tình lục dục, bí pháp thuộc
phần trách nhiệm của Hiệp Thiên Đài truyền lại cho chức
sắc gồm có hai phần :
- Cái thể tức nhiên là hình thức, phương pháp phải làm
như thế nào để diêu động được điển quang trong nội thân
con người và trong Trời Đất. Phần nầy người đi trước học
được truyền lại cho người đi sau được.
- Phần thứ hai là hiệu ứng của nó tức nhiên là kết quả
của sự vận dụng phương pháp đó đã đạt được những gì.
Phần nầy thuộc quyền năng của Bát Quái Đài vô tư và
khách quan.
1/- Nguồn gốc Bí Pháp Đạo Cao Đài do đâu ?
Chúng ta hãy nghe một đoạn trong lời giảng của Đức Hộ
Pháp đêm 13-8-Mậu Tý ( 16-9-1948 ) tại Đền Thánh.
" Nhớ lại từ khi Đức Chí Tôn chọn Bần Đạo làm Hộ
Pháp, dạy Bần Đạo phò loan và chấp bút. Đặc biệt hơn
hết là chấp bút vì nhờ chấp bút mà Bần Đạo được Đức
Chí Tôn dạy cách tham thiền. Khi biết tham thiền rồi
mới nhập tịnh nhưng nhập tịnh không phải dễ, chỉ sai
một tí, sót một chút là có thể hỏng cả cuộc đời. Nhập
tịnh mà không tới thì bị hôn trầm tức là ngủ gục, còn
nhập tịnh mà quá mức thì phải điên đi mà chớ. Nhập
tịnh mà đúng rồi còn phải nhờ các Đấng Thiêng Liêng mở
Huệ Quang Khiếu nữa mới xuất hồn ra được. Con đường mà
Chơn Thần xuất ra rồi về với Đức Chí Tôn là con đường
Thiêng Liêng hằng sống đó vậy.
Chính Bần Đạo được Đức Chí Tôn mở Huệ Quang Khiếu, nên
mới về được hội kiến cùng Đức Chí Tôn và đã học hỏi
được nơi Đức Chí Tôn nhiều điều bí yếu, bí trọng"
Và một đoạn khác trong lời Thánh giáo của Đức Chí Tôn
ngày 24-4-1926 :
" Chiêu là môn đệ yêu dấu của Thầy, nó có công tu
luyện, Thầy lại dùng huyền diệu mà rỗi nó trước các
con ". (Trích Đạo Sử Hương Hiếu )
Một đoạn khác trong lời giảng của Đức Hộ Pháp thuật lại
lần gặp gỡ đầu tiên giữa Ngài và Đức Ngài Lê Văn Trung.
"…… Khi chúng tôi ôm cái cơ đến nhà Ngài đặng Đức
Chí Tôn độ, mục đích chúng tôi là Đức Chí Tôn bảo đâu
làm đó vậy thôi. Khi tới nhà thú thật với Ngài rằng :
Chúng tôi được lệnh Đức Chí Tôn đến nhà anh phò loan
cho Đức Chí Tôn dạy Đạo, ông biết Đấng đó hơn chúng
tôi, lo sắp đặt bàn ghế sửa soạn buổi phò loan rồi bắt
ông nhập môn. Trong nhà có một người con nuôi tên
Thạnh còn nhỏ độ 12 tuổi, hai cha con kiếm được cơ đâu
không biết, vái rồi cầu cơ, khi phò loan thằng nhỏ
ngủ, ông thì thức. Cơ chạy hoài, ông hỏi thì Đức Chí
Tôn mới trả lời, chỉ có hai người biết với nhau mà
thôi. Từ đó ông mới tin Đức Chí Tôn ". ( Trích lời
thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp, 13-10- Giáp Ngọ- 1954 )
Từ khi Đức Chí Tôn giao trọng trách một Đại Thiên Phong
bên Cửu Trùng Đài, Ngài Thượng Trung Nhựt luôn luôn bận
rộn với việc Đạo của Hội Thánh trong những năm đầu mới
thành lập đầy những khó khăn đối nội và đối ngoại. Ngài
từ chối hình thức tu luyện nhập tịnh thất, sống cách ly
với những sinh hoạt bên ngoài với lý do "Đạo thì
nghèo, em thì đông an nơi đâu mà tịnh…"
Nhưng trên thực tế Ngài là một đồng tử thông công được
với Đức Chí Tôn và được Đức Chí Tôn giáng tâm chỉ dạy
Ngài phương pháp " tĩnh tâm " Ngài áp dụng phương
pháp tu tập nầy hằng ngày trong khi vẫn ngồi làm việc
tại Giáo Tông Đường. Điều nầy chỉ một số ít người sống
thân cận với Ngài mới biết được.
Và Ngài đã đắc Đạo linh hiển.
Như vậy trong buổi đầu của lịch sử Đạo Cao Đài, theo thứ
tự thời gian cả ba Ngài Ngô Văn Chiêu, Phạm Công Tắc, Lê
Văn Trung đều là những đồng tử thông công được với Đức
Chí Tôn và chính Đức Chí Tôn dùng huyền diệu độ rỗi cả
ba vị nầy.
Về sau Đức Chí Tôn giao trách nhiệm cho Ngài Phạm Công
Tắc ở Hiệp Thiên Đài, còn hai vị kia ở Cửu Trùng Đài,
một người nhận một người từ chối.
Vấn đề nguồn gốc bí pháp Đạo Cao Đài thọ truyền từ đâu
đã rõ. Đức Hộ Pháp học bí pháp trực tiếp từ Đức Chí Tôn.
Đức Hộ Pháp có tiếp xúc với Ngài Ngô Văn Chiêu trong
buổi đầu nhưng về một vấn đề khác, không phải vấn đề bí
pháp.
2/- Cân thần là gì ? Cân thần là từ ngữ bình dân
mà các bậc tiền bối trong đạo hay dùng để chỉ công việc
tuyển chọn người có đủ điều kiện được truyền bí pháp.
Cân thần là đo lường, xem xét, cân nhắc mức độ trược khí
trong Chơn Thần của một người nhiều ít thế nào có đủ sức
chịu đựng nổi điển lực của các Đấng trọn lành ban cho
hay chưa mà không bị biến tướng thành Tả Đạo. Đức Hộ
Pháp dùng thần của Ngài, tức là sự minh triết thiêng
liêng nơi con người của Ngài quyết định vấn đề nầy, các
vị Thời Quân Chi Pháp cũng có truyền bí pháp cho chức
sắc nhưng khả năng cân thần cho từng cá nhân người thọ
nhận không thấy các Ngài thi thố.
Đối với các vị tu ở Phạm Môn đã chuyển qua hình thức
Phước Thiện từ năm 1935 và có nhận lãnh trách nhiệm Đầu
Họ Đạo Phước Thiện tại các tỉnh vào dịp lễ vía Đức Chí
Tôn ngày 9-1- Bính Tý ( 1936 ) Đức Hộ Pháp có truyền các
phép bí tích, giải oan, tắm thánh, phép xác, hôn phối
cho các vị nầy tại Hộ Pháp Đường. Đức Hộ Pháp hành pháp
trục thần, khai khiếu và truyền dạy cách thực hành cho
từng vị, ngoài ra còn được đặc ân nhận lãnh phép " Bạch
Đăng " ( cây đèn trắng ) để trong khi hành Đạo gặp
chuyện khó khăn thắp lên vào giờ Tý và thành tâm cầu
nguyện Đức Ngài sẽ đến giúp cho. Một số chức sắc Cửu
Trùng Đài cũng được ban phép " Bạch Đăng " và nhiều giai
thoại lý thú được ghi nhận chung quanh lối làm việc
huyền linh nầy của Đức Hộ Pháp, xác thân ngồi tại Hộ
Pháp Đường mà Chơn Thần ứng biến xuất hiện được nhiều
nơi khác nhau để yểm trợ cho chức sắc hành đạo.
Xin đơn cử vài trường hợp điển hình sau đây :
(Kiểm duyệt bỏ một đoạn)
Riêng về phần công phu nội thân để hàm dưỡng Tinh Khí
Thần, việc truyền bí pháp không đồng đều, có người được
Đức Hộ Pháp chỉ trọn một vòng luân chuyển khí lực, có
người chỉ là mới hình thức khởi đầu. Điều ấy cũng dễ
hiểu vì trình độ tu tiến và nghiệp lực của mỗi cá nhân
không giống nhau. Cụ thể Đức Hộ Pháp đã chỉ cho những vị
ấy cách thức công phu như thế nào, điều nầy không thể
phổ biến rộng rãi trên giấy được, vì nó cũng giống như
những liều thuốc thần kinh cực mạnh, phải đúng với bệnh
trạng của từng cơ thể bệnh nhân và phải có sự giám sát
kỹ lưỡng của bác sĩ, bằng không sẽ có hại nhiều hơn lợi,
lý do bí truyền là ở chỗ tai hại nầy. Nếu như thuật điều
khí, dưỡng thần, truyền thần, xuất thần…v..v.. là một
công thức cố định mà bất cứ cơ thể người nào cũng có thể
áp dụng có kết quả tốt thành Tiên hoá Phật được thì bậc
chơn tu là kẻ có lòng từ tâm biết thương đời, muốn cứu
vớt chúng sanh khỏi vòng trầm luân khổ hải đâu có lý do
gì để giữ kín.
Đối với bậc hạ thừa Đức Hộ Pháp có cho phổ biến rộng rãi
một phương pháp tập thể dục, gọi là phương pháp dẫn
huyết gồm động tác vận động cơ bắp, gân cốt, kích thích
thần kinh. Đặc biệt đáng chú ý là cách thở dài hơi,
chậm,sâu xuống bụng gọi là dẫn khí xuống đan điền. Cách
hấp cặp nhãn bằng cách xoa lòng bàn tay rồi vuốt mắt cho
mở bùng ra, tinh thần phải mạnh dạng và thấy hình Thiên
Nhãn, và phần chót thuộc tư tưởng buộc phải tập suy nghĩ
cho chơn chánh hằng ngày. Thể dục xong cúng thời sáng
mỗi ngày một lần. Trên thực tế áp dụng lối dưỡng thần
nầy không phải dễ dàng thành công. Trong cuộc đời bon
chen cơm áo nầy con người luôn bị tác động để suy nghĩ
những chuyện gian dối tham lam, giành nhau từng chút lợi
quyền nhỏ nhặt , hằng ngày buộc phải sống với hạnh đức
của bậc chân tu, suy nghĩ cho chơn chánh, lòng phải
thanh tịnh để tưởng tượng được ra hình Thiên Nhãn.
Dầu đó chỉ là bước đầu luyện tập, người tín đồ từ đó vẫn
phải trải qua những cuộc tranh đấu nội tâm dữ dội lắm
mới đi được trên con đường chánh đạo.
Ngay như hình thức cúng tứ thời hàng ngày tại tư gia
người tín đồ, xét trên phương diện tâm pháp khả năng trụ
thần được trong thời cúng ít bị phóng tâm cũng có ít
người thành công, vẫn biết rằng :
Nhưng chỗ rốt ráo vẫn là :
Con đường tu chơn phải ngó đến chỗ rốt ráo ấy. Miệng đọc
kinh lâm râm mà lòng tưởng nhớ lung tung chuyện đời, tâm
ấy đâu còn chỗ trống để làm " Toà sen cho Lão ngồi ".Cúng
mà Thần Thánh không ngự được nơi tâm thì lạy ai đây ?
Lạy khói nhang hay lạy bàn thờ bằng gỗ, hay lạy tiền tài
danh vọng, tình duyên đang nhớ tới bên trong. Khía cạnh
phàm tục của con người là như thế, chiếc áo không làm
nên thầy tu.
Đi vào tu chơn là đối diện với sự thật tâm linh một cách
rõ ràng Thánh, phàm không lẫn lộn, bí pháp trong nghi lễ
cúng lạy là ở chỗ mở ra tâm mình giao cảm được với các
Đấng để nắm bắt được bóng dáng của Chân Sư làm một quyền
năng vô hình dìu dẫn mình từng chuyện lớn nhỏ trong suốt
cuộc đời tu học về sau cho đến chỗ :
Bước khởi đầu mượn hữu hình tìm đến vô vi còn chưa thực
hiện được, lại đòi bí pháp tịnh luyện để siêu phàm nhập
Thánh chỉ là mơ vọng xa xôi.
Quan niệm tu chơn của Toà Thánh Tây Ninh rất nghiêm
khắc, vì vậy việc truyền bí pháp của Hiệp Thiên Đài vẫn
trong vòng im ẩn, ít người biết rõ.
Sau ngày Phạm Môn biến tướng thành Phước Thiện, cơ quan
nầy phát triển nhanh chóng nhớ vào những yếu tố hữu
hình, âm thanh, sắc tướng đáp ứng sát với trình độ tâm
lý của đa số nhơn sanh. Người ta dễ dàng cảm thấy hài
lòng với những bộ đạo phục có màu sắc phân biệt đẳng cấp
khác nhau, chỗ ngồi trước sau trong nội tâm Thánh Điện
theo nghi lễ Triều Thiên.
Quyền hành phẩm tước, áo mão, lễ nghi tế tự theo thứ bậc
tác động như những hình thức Thần Thánh hóa công đức của
người tu, phô bày trước mắt nhơn sanh có một sức kích
thích dây chuyền trong lòng người hơn là những chứng ngộ
nội tâm im ẩn của hàng chơn tu.
Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng của cơ quan Phước Thiện
chính thức thành hình do Đạo Nghị Định số 48/ ĐNĐ ngày
19-10- Mậu Dần ( 10-12-1938 ) Đức Hộ Pháp và Đức Lý Giáo
Tông đồng ký ban hành.
Quyền vạn linh công nhận qua Đạo Luật Mậu Dần 1938,
Phước Thiện là một trong bốn cơ quan của tổ chức trong
Đạo Cao Đài. Song song với sự phát triển hình tướng, tổ
chức vấn đề tâm pháp trong lòng người chức sắc diễn tiến
ra sao ? Bất luận hành đạo ở cơ quan nào Hành Chánh, Phổ
Tế, Tòa Đạo, Phước Thiện……, khi chơn thần người chức sắc
đã đạt đến tình trạng thu hút sự chú ý của Đức Hộ Pháp
về phương diện huyền linh, họ sẽ được Đức Ngài quan tâm
đặc biệt hơn và có dịp gặp gỡ chỉ dạy riêng về tâm pháp
một cách kín đáo. Đức Ngài có năng khiếu tâm linh đặc
biệt do Đức Chí Tôn khai mở ngay từ buổi đầu trong cuộc
sống tu hành nên vấn đề nhận diện được những chơn thần
tinh tấn còn trong thân xác con người là việc bình
thường đối với Đức Ngài. Đối với người thường, hiểu được
vấn đề nầy trên lý thuyết đã khó rồi nói chi đến việc
thực hành, vận dụng con mắt siêu phàm ấy để tìm người mà
độ. Năng khiếu tâm linh ấy mỗi người đều có trong trạng
thái tiềm ẩn. Muốn vận dụng nó duy chỉ có cách tu hành
thật nghiêm chỉnh và cao độ.
Kinh nghiệm của một vài vị chức sắc Hiệp Thiên Đài cho
biết đi cúng trong tình trạng mỏi mệt vì thức khuya, có
lần sau giờ cúng thời Tý bị Đức Ngài gọi đến nhắc nhở
phải chuẩn bị nghỉ ngơi, ngủ sớm đừng để mệt mỏi như
vậy. Vì khi nãy Ngài thấy chơn thần xấu quá ! Tốt cũng
được thấy để nâng đỡ mà xấu cũng bị thấy để nghe quở
rầy. Vấn đề tâm pháp bí truyền ai có sống gần gũi Đức Hộ
Pháp mới hiểu được chuyện ấy không có gì là lạ.
Tuy nhiên cách thức khởi đầu công phu do Ngài chỉ dạy
cho người nầy có thể không giống người kia vì tâm đức
của họ chẳng đồng, nghiệp lực cá nhân khác nhau nhưng
nguyên lý thăng hoa Tinh Khí Thần vẫn đồng nhất lý.
Những phương pháp khai mở năng khiếu tâm linh cũng được
truyền dạy theo nguyên tắc riêng từng người. Chẳng hạn
trường hợp một chức sắc Hiệp Thiên Đài được Đức Ngài tập
luyện khiếu thần giao cách cảm bằng cách Ngài ở trên lầu
Hộ Pháp Đường còn vị chức sắc kia ở tầng dưới. Ngài nói
điều chi đó với vị chức sắc nầy và ông phải tập lắng
nghe như trong trạng thái thông công với các Đấng bằng
cách giáng tâm, xong rồi trình lại với Đức Ngài, kết quả
ghi nhận được để xem mức độ chính xác đến đâu. Không
khoe khoang, không tự ý chỉ lại những người khác những
gì Đức Hộ Pháp đã mật truyền được coi là những đức tính
cần thiết của loại sinh hoạt nầy.
Vì vậy vấn đề tu chơn truyền bí pháp tuy vẫn âm thầm
tiếp diễn, nhưng nếu nhìn ở bề ngoài và nghe trong dư
luận quần chúng dường như chìm trong quên lãng bên cạnh
những ồn ào của sinh hoạt truyền giáo và kinh tế phước
thiện.
Về phần lý thuyết tu chơn, năm 1947 Đức Hộ Pháp cho phổ
biến " Phương Luyện Kỷ đặng vào con đường thứ ba Đại
Đạo " gồm 273 chữ. Đó là những chỉ dẫn có tính cách
nguyên tắc cụ thể theo một lối sống mẫu mực của các bậc
Thánh Tiên xưa truyền lại, được diễn tả một cách tân
thời hợp với những từ ngữ quen dùng trong Đạo Cao Đài.
Các sách báo Đạo đều có phổ biến rộng rãi phương pháp
nầy, thậm chí còn có một bản in thủ bút của Đức Hộ Pháp
về phương luyện kỷ cùng với ảnh của Đức Ngài đang đứng
ban phép lành để lộng vào khuôn kính treo nơi vách nhà
nhiều tín đồ như là một hình thức nhắc nhở phải tập sống
theo mẫu mực ấy.
Sau ngày Đức Hộ Pháp qui thiên các vị Thời Quân Chi Pháp
và Chi Đạo còn lại tiếp tục chịu trách nhiệm về sinh
hoạt tu chơn trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nhưng trên
thực tế hoạt động của các vị nầy rất yếu ớt. Song song
với sự suy thoái quyền lực hữu hình của Hiệp Thiên Đài
về nhiều phương diện, trong đó có vấn đề truyền bí pháp
huyền linh của Bát Quái Đài lại vượng lên dưới nhiều
hình thức khác nhau, giống như tính chất linh thiêng
trong những năm đầu của lịch sử Đạo Cao Đài. Con đường
tu chơn của tín đồ tiếp diễn với một sắc thái khác có
tính cách tự phát, kinh nghiệm của người đi trước giúp
đỡ phần nào cho người đi sau, cộng với những chỉ dẫn do
mặc khải nội tâm của cá nhân được ghi nhận đó đây trong
hàng ngũ chức sắc vá tín đồ hữu công hữu đức.
Nếu như ngày xưa Đức Hộ Pháp còn tại thế, tâm lý của
nhơn sanh trong lãnh vực tu chơn nầy đã trông cậy vào
Ngài như một ngọn đèn sáng bảo đảm bườc đi không lạc
lối, thì trong thời kỳ uy linh của Hiệp Thiên Đài mờ
nhạt dần, đức tin của tín đồ về mặt huyền linh có tính
chất tản mát theo từng nhóm do luật đồng thanh tương ứng
đồng khí tương cầu, tùy duyên hóa độ và đe dọa trong
tương lai có nhiều trường phái khác nhau mà mỗi phái hay
mỗi xu hướng chỉ có khả năng làm sáng tỏ được một góc độ
nào đó của triết lý Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Mười tám năm sau ngày khai mở Phạm Môn với nội luật sơ
đẳng gồm 10 điều giới răn. Năm 1947 Đức Hộ Pháp đưa ra "
Phương Luyện Kỷ đặng vào con đường thứ ba Đại Đạo " gồm
18 điều giáo huấn nằm gọn trong 273 chữ được coi là
những nguyên tắc cụ thể, chi tiết hơn 10 điều giới răn,
buộc người tín đồ phải áp dụng nếu muốn bước vào con
đường tu chơn.
Nội dung phương luyện kỷ là sự thánh hóa tánh đức con
người để làm nền tảng cho những hành vi đạo đức phô diễn
một cách chơn thật ra bên ngoài trong cách đối nhân xử
thế, có sức cảm hóa lòng người hướng về nẻo thiện và để
làm một tòa ngự thiên lương cho vận hà thần lực từ cõi
thượng giới tuôn chảy qua hồn phách của bậc chân tu đắc
pháp, tác động trên sự tấn hóa của các sanh linh khác
trên một vùng rộng lớn ít nhiều tương ứng với đức độ của
vị ấy có được.
Phần kết của phương pháp nầy ghi " Ấy là chìa khóa mở
cửa Bát Quái Đài tại thế nầy " đã nói lên ý nghĩa
vừa nêu trên, đồng nghĩa với đắc đạo tại thế, chơn thần
của bậc chân tu sẽ có đủ quyền năng tương liên cùng các
Đấng trọn lành, thường xuyên sống trong trạng thái Trời
người hiệp nhứt. Tuyệt nhiên không có chỉ dẫn nào về
cách thực hành công phu nội thân, để kích thích các phản
ứng sinh hóa làm biến đổi khối vật chất của thức ăn
thành nhiệt năng, cơ năng hay là tác động để thúc giục
sự khai mở các năng khiếu tâm linh như Thần Nhãn chẳng
hạn.
Phương luyện kỷ hướng dẫn người tín đồ phải sống như thế
nào mới đắc đạo tại thế. Còn phương pháp công phu nội
thân hay là thuật làm gia tốc hiện tượng Tinh hóa Khí,
Khí hóa Thần, Thần huờn Hư là việc bí truyền cho từng cá
nhân, người tu thường hay nhầm lẫn hai lĩnh vực nầy
những tưởng rằng nếu họ có được bí quyết tịnh luyện là
đắc đạo.
Sự thật nếu không sống được theo những nguyên tắc thánh
thiện thì không bao giờ thành Thánh cả dù có học thuộc
lòng hằng pho kinh điển dạy tham thiền nhập định. Thần
Thánh Tiên Phật là những linh hồn đã thoát xác mà trước
kia đã sống theo kiểu người Thần, người Thánh, người
Tiên, người Phật, tên gọi ấy do con người đặt ra tùy sở
hành của họ trong một kiếp sanh mà có, chớ chơn linh vốn
không tên tuổi, không hình ảnh chỉ là một sức sống tâm
linh, sáng suốt thánh thiện.
Bí quyết tịnh luyện thực hành có kết quả tốt được là khi
nào đời sống thân xác và tâm linh của con người có đầy
đủ Thánh chất, trong trường hợp trái lại Thiên Đình sẽ
đánh tản Thần không cho hiệp cùng Tinh Khí.
Tại sao vậy ?
Vì một khi Tinh Khí Thần hiệp nhứt thì đương nhiên Chơn
Thần có quyền năng pháp thuật mà trong quyền năng pháp
thuật ấy còn chứa đầy tính phàm tục, nên khi vận dụng
quyền năng tâm linh ấy có động cơ phàm tục tác động sâu
kín bên trong, tức nhiên đã lạc lối vào con đường tà
Đạo, bậc chân tu không nên đào tạo Chơn Thần mình theo
kiểu ấy và quyền năng tâm linh tích tụ được do công phu
tịnh luyện theo kiểu ấy cũng cần được giải tán.
Thiên Đình đánh tản Thần không cho hiệp cùng Tinh Khí là
để tránh chỗ tai hại nầy. Phương luyện kỷ là hình thức
giáo hóa nhơn sanh hiểu con đường tu chơn phải như thế
nào mới đúng, được phổ biến rộng rãi để tín đồ có ý thức
rõ rệt khi bước vào sinh hoạt tịnh luyện không mơ hồ,
nghi hoặc hay mơ mộng điều huyễn ảo dị đoan. Ấy là phần
dọn mình cho trong sạch để Thánh linh có thể giáng ngự
được khi người tín đồ bước sanh giai đoạn thượng thừa
nghiêm khắc được truyền pháp, trục thần, khai khiếu.
Có nhiều nguy hiểm có thể làm hư hoại cả cuộc đời con
người ở khúc quanh nầy, nên việc truyền bí pháp xưa nay
các bậc Thánh hiền vẫn phải giữ gìn nghiêm nhặt. Lý do
chính chỉ có thế thôi, hay nói cách khác là do trình độ
tu tiến nghiệp lực của người thọ nhận xứng đáng hay chưa
mà vị chân sư quyết định truyền pháp hay còn chờ đợi sự
dọn mình tiếp tục.
Nguyên văn lời chỉ dạy của Đức Hộ Pháp như sau :
Phương Luyện Kỷ
đặng vào con đường thứ ba Đại Đạo
· Phải thân thích cùng cả nhơn vật tức là tìm nguyên
do của vạn linh cùng chí linh.
· Phải ân hậu và khoan hồng.
· Phải thanh nhàn đừng vị kỷ.
· Phải bình tĩnh nghĩa là đừng chịu ảnh hưởng của họa
phước buồn vui ( tập tánh không không đừng nhiễm. Vui
cũng vui buồn cũng buồn nhưng đừng để nọc buồn vui
thấm vào chơn tánh ).
· Phải độ lượng khoan dung tha thứ.
· Phải vui vẻ, điều hòa tự chủ và quyết đoán.
· Giữ linh tâm làm căn bản.
· Hiếu hạnh với Chí Tôn và Phật Mẫu.
Phương Pháp trị tâm
vì tâm là hình ảnh của thiên lương
· Đức tin và khôn ngoan là kho chí bửu, ngoài ra là
của bỏ là đồ vô giá.
· Ai cố oán kẻ thù của mình thì khó giữ thanh tâm công
chánh cho đặng.
· Ai chẳng oán hận mới thắng đặng kẻ thù nghịch cùng
mình.
· Sự cừu hận là khối thảm khổ đệ nhứt của nhơn sanh,
nên người hiền thì không biết đến hay là từ bỏ cừu hận
oán ghét.
· Thắng đặng khí nộ mình thì không chọc ai giận dữ.
· Lấy thiện mà trừ ác.
· Lấy nhơn nghĩa trừ bạo tàn.
· Lấy lòng quảng đại đặng mở tâm lý hẹp hòi.
· Lấy chánh trừ tà.
· Ấy là đường thương huệ kiếm.
Phương pháp luyện thân - luyện trí
· Ẩm thực tinh khiết.
· Tư tưởng tinh khiết.
· Tín ngưỡng mạnh mẽ nơi Chí Tôn và Phật Mẫu.
· Thương yêu vô tận.
· Ấy là chìa khóa mở cửa Bát Quái Đài tại thế nầy.
Một vấn đề được đặt ra là Đức Hộ Pháp cũng như các vị
giáo chủ khác, sau khi hoàn thành sứ mạng thiêng liêng
của mình sáng lập ra một nền Đạo truyền bá giáo lý,
truyền bí pháp, các Ngài phải bỏ xác phàm. Những vị thừa
kế sự nghiệp tinh thần ấy lại không đủ sáng chói như các
vị giáo chủ nên quyền năng bí pháp đương nhiên phải giảm
sút đi ít nhiều. Càng qua nhiều thế hệ thừa kế, nét qui
phàm càng hiện ra trong hàng ngũ những tu sĩ cao cấp của
giáo hội.
Cho đến một thời kỳ lịch sử nào hành động của khối lớn
tu sĩ đã biến chất rất nhiều và những mục đích cao
thượng ban đầu bị lệch lạc gần hết thì nền Đạo bị thất
chơn truyền. Trên dòng lịch sử các Đạo giáo thỉnh thoảng
cũng có những hình thức phục hưng chơn pháp do các Chơn
Linh cao trọng giáng trần, chỉnh lại những sai lệch đang
diễn ra nhưng rồi sau đó một thời gian hiện tượng qui
phàm với những nguyên nhân không thể tránh được, là khối
phàm tâm của tín đồ lớn hơn Thánh chất đã tác động và
làm nên lịch sử Đạo theo chiều hướng ấy.
Kinh nghiệm lịch sử loài người đã đúc kết lại như thế,
liệu rằng sau khi các vị Thời Quân Hiệp Thiên Đài đều
qui vị hết, sinh hoạt tu chơn truyền pháp có giữ được
nguyên tắc tuyển chọn kỹ lưỡng như trước không ?
Đức Chí Tôn khẳng định trong Pháp Chánh Truyền, hễ Đạo
còn thì Hiệp Thiên Đài vẫn còn và khối tín đồ Cao Đài
tin tưởng như thế, nhưng trong khi chờ đợi một Hiệp
Thiên Đài thứ hai với đầy đủ huyền linh đáng tin cậy thì
vấn đề truyền pháp trong khoảng trống Hiệp Thiên Đài ấy
sẽ diễn ra dưới hình thức nào ? Phân tích vấn đề tu chơn
đến đây chúng ta thấy có hai phần rõ rệt :
*Phần thứ nhứt là sống với tánh đức và hành động như thế
nào mới gọi là tu chơn ?
Câu trả lời đã có. Đó là :
* Phần thứ hai là những bí quyết trong khoa tịnh luyện,
thiền định được truyền lại từ Đức Hộ Pháp hay vài vị
Thời Quân có tính cách bí truyền mà nay các Ngài đều qui
vị hết phải tìm nơi đâu mới có ?
Câu trả lời :
Đương nhiên phải do những người hữu hình khác thực hiện.
Trong trường hợp nầy kinh nghiệm của người đi trước sẽ
chỉ lại cho người đi sau cùng với sự ám trợ tư tưởng của
quyền Thiêng Liêng. Vấn đề nầy đòi hỏi người tu phải có
một đức tin mạnh mẽ và biết lừa lọc những kiến thức tiếp
thu được cho phù hợp với trạng thái Tinh Khí Thần của
mình, bởi lý do thiếu quyền năng cân thần của Đức Hộ
Pháp như khi Ngài còn tại thế.
Luôn luôn trong cửa Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nầy vẫn có những
bậc tu chơn ẩn dạng, có đủ sự sáng suốt tâm linh để giúp
đỡ cho người đi sau những chỉ dẫn cần thiết và đúng lúc
khi người tín đồ có đủ công đức và xứng đáng được truyền
bí pháp. Họ không phải là Hộ Pháp hay Thời Quân chi cả,
họ là những tín đồ tu chơn có đức độ thể hiện được Thánh
ý của Bát Quái Đài để trợ thần cho người tu luyện. Nhưng
cái khó không phải ở chỗ tìm đâu ra bí quyết tu luyện,
tìm đâu ra người có thể chỉ dẫn lại cho mình, mà khó ở
chỗ có sống được với tâm đức và hành động chí Thánh hay
chưa. Một khi đã sống được một đời sống thánh thiện thật
sự, dầu chưa vội tìm thì bí pháp cũng sẽ đến dưới hình
thức nầy hay hình thức khác do sự điều động tự nhiên của
quyền Thiêng Liêng khiến cho những việc hữu hình xảy ra
đúng lúc.
Thật vậy, nếu công đức chưa đầy đủ dù có đến trước mặt
Đức Hộ Pháp khi Ngài còn tại thế và yêu cầu Ngài truyền
bí pháp, Ngài vẫn không thể làm việc ấy bởi những lý do
đã phân tích ở những đoạn trước, và ngược lại khi tinh
thần của người tu xứng đáng được truyền bí pháp dù Đức
Hộ Pháp không còn tại thế, quyền năng thiêng liêng của
Đức Ngài cũng sẽ tác động trợ thần cho người tu luyện có
ấn chứng và khiến cho ở cõi hữu hình nầy có những dịp
may gặp người có khả năng chỉ dẫn thêm cho mình được.
Đức Chí Tôn dạy :
Lời hứa của Đại Từ Phụ chẳng khi nào sai sót và Thầy thì
huyền diệu vô cùng thiên biến vạn hóa. Đạo pháp lại vô
biên nên trong " Phương luyện kỷ đặng vào con đường thứ
ba Đại Đạo " Đức Hộ Pháp dặn :
Phải có đức tin mạnh mẽ nơi Đức Chí Tôn và Phật Mẫu
mới có thể đến chỗ mà Ngài gọi là " Mở cửa Bát Quái
Đài tại thế nầy "
Để kết luận vấn đề nầy có thể tóm tắt như sau :
Tùy theo công đức của người tu có được tới đâu bí
pháp huyền linh Đức Chí Tôn sẽ cho ứng hiện đến đó bằng
nhiều hình thức linh diệu và đó là nguyên tắc thăng tiến
trên con đường tu học, từ xưa đến nay vẫn vậy.
1/- Hỏi :
Điều thứ 13 chương II Bộ Tân Luật Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
do Tòa Thánh Tây Ninh ban hành từ năm 1927 qui định rằng
:
Trong hàng hạ thừa ai giữ trai kỳ từ 10 ngày sắp lên
được thọ truyền Bửu Pháp vào tịnh thất có người chỉ
luyện Đạo. Nay Đức Hộ Pháp chủ trương phải có đủ tam lập
mới được nhập tịnh tại Trí Huệ Cung, điều ấy có quá khắt
khe chăng ?
Đáp :
Về khoảng trong hàng hạ thừa ai giữ trai kỳ từ 10 ngày
trở lên được thọ truyền Bửu Pháp vào tịnh thất có người
chỉ luyện Đạo. Hội Thánh đã cho phổ biến một phương pháp
tập dưỡng sinh cho cơ thể tinh tấn dần, chuẩn bị bước
lên bậc thượng thừa đòi hỏi nhiều công phu nghiêm khắc
hơn.
Phương pháp nầy gồm :
* Một số động tác thể dục bắp thịt và gân cốt, cách thở
dài hơi sâu, chậm và cúng thời Mẹo mỗi ngày để điều hòa
khí huyết và dưỡng thần một cách nhẹ nhàng, áp dụng cho
bậc hạ thừa ở nhà cũng luyện tập được không đòi hỏi điều
kiện phải vào tịnh thất.
* Phương pháp nầy đã thấy phổ biến từ khi Đức Hộ Pháp
còn sanh tiền, nhưng tiếc thay chỉ có một số ít người
chịu khó luyện tập thành thử lâu ngày ít nghe nhắc tới,
đến thế hệ sau gần như thất truyền nên có một số người
hiểu lầm là Hội Thánh không thi hành điều khoản nầy của
Tân Luật. Đó là lúc sống, còn khi chết Hội Thánh cũng đã
thực hiện lời hứa của Đức Chí Tôn, ai giữ trai kỳ từ 10
ngày trở lên được thọ truyền Bửu Pháp, bằng cách cho làm
phép xác, cắt dây oan nghiệt, độ thăng, tức là thực hiện
phần bí pháp độ hồn cho những ai có đủ điều kiện giữ
trọn 10 ngày chay mỗi tháng.
2/- Hỏi :
Cũng trong Bộ Tân Luật nầy chương nói về Tịnh Thất, điều
thứ nhứt qui định trong hàng tín đồ, ai đã xử tròn nhơn
đạo và giữ trai giới từ 6 tháng trở lên thì được xin vào
tịnh thất nhập định.
Luật đạo chỉ đưa ra về điều kiện trai giới và gia đạo,
không đòi hỏi phần công quả, phải chăng vì quá chú trọng
đến việc truyền giáo. Đức Hộ Pháp đã đưa ra tiêu chuẩn
tam lập đẩy lùi sinh hoạt tịnh luyện vào giao đoạn chót
của tiến trình tu tập. Như vậy có thiệt thòi gì cho
người tín đồ hay không về phương diện tinh luyện thân
xác.
Đáp :
Chẳng những không thiệt thòi mà còn có lợi vì đỡ mất
nhiều thời gian luyện tập mà không đem lại kết quả mong
muốn. Nói theo lối hạ thừa tiệm tiến cho dễ hiểu, ai
cũng biết nguyên lý căn bản của việc tu luyện là Giới
Định Huệ, phải đi bước thứ nhứt trước rồi mới đến bước
thứ hai, thứ ba tuần tự diễn tiến. Vả chăng trong phép
cúng tứ thời cũng đã rèn luyện cho người tín đồ quen gom
thần định trí, đến khi có đủ tam lập bước qua sinh hoạt
tịnh luyện, thiền định kết quả dễ dàng nhanh chóng bảo
đảm hơn. Đời người có giới hạn, sự phân phối thời gian
tu tập như vậy có lợi và hợp lý hơn, vả chăng đâu phải
người chức sắc đi làm công việc truyền giáo hay là tín
đồ tu thân tại gia không có bổn phận tinh luyện xác thân
mình, đâu phải không vào nhà tịnh là không tinh luyện
thân xác, có nhiều hình thức tùy hoàn cảnh mà thích
nghi.
Đây chỉ nói về phương pháp tu học còn riêng về cá nhân
con người thì bất cứ trong lãnh vực sinh hoạt nào, tổ
chức nào cũng có kẻ siêng người lười, lẫn lộn xưa nay
vẫn vậy.
3/- Hỏi :
Nếu công đức là yếu tố quyết định cho người tu dắc đạo,
vậy trong trường hợp một người có nhiều công nghiệp
phụng sự vạn linh, nhưng các hạ thể chưa tinh luyện,
chẳng hạn đời sống còn se sua, lãng phí, hoặc còn uống
rượu, hút thuốc trong các ngày hội họp tiệc tùng chi đó.
Hỏi những người nầy có được truyền bí pháp không ?
Đáp :
Khí thể con người luôn có điển quang, những người chưa
tinh luyện các hạ thể một cách nghiêm khắc, lằn điển
quang ấy còn nhiều trược khí thì từng ngày từng tháng họ
đang tự phá hủy dần cái đức của mình đã có được do công
của họ mang lại.
Đức Chí Tôn đã phán dạy :
" Các con đã rõ Đạo thì phải biết đức cần kiệm là
đức hạnh đầu trong lúc các con còn ở thế gian nầy. Như
sự lãng phí se sua ở đời nầy Thầy cũng cho là một việc
tổn đức vậy ". ( TNHT.Q1. Tr 48 )
Và Đức Lý đã phán dạy :
" Tửu nhập tâm di, hại tổn bình sanh chi đức, tánh
Thiên Đạo diệt, giục tranh thế sự chi oan ".
Nghĩa là : Rượu vào lòng đổi hại hao đức bình sanh, tánh
dời Đạo hủy, giục tranh oan nghiệt thế tình. ( Trích Đạo
Sử. Tác giả Hương Hiếu ). Và điều thứ sáu Chương Tịnh
Thất Bộ Tân Luật, buộc người vào Tịnh Thất rồi phải
tuyệt trầu thuốc và không ăn chi ngoài bữa cơm.
Do đó xét về mặt hữu hình, về phương diện tam lập chưa
hội đủ điều kiện, xét về mặt bán hữu hình thì khí thể
trong chơn thần còn ô trược. Lằn trược khí ấy khi tiếp
nhận điển quang của các Đấng thiêng liêâng dễ làm biến
tướng xảy ra các hiện tượng Tả Đạo Bàn Môn. Vì vậy dù
đứng trước Chân sư cũng khó mong được các Ngài chấp
thuận truyền bí pháp.
Khi giảng về tam lập Đức Hộ Pháp có nói vấn đề nầy rất
khó vì nó thuộc về nửa thể pháp, nửa bí pháp. Bí pháp là
phần điển quang trong sáng của khí thể chơn thần. Thể
pháp là phần công nghiệp và đức hạnh biểu lộ ra trước
mắt nhơn sanh nhì thấy được. Tiêu chuẩn Tam Lập đầy đủ
gồm cả hai phương diện nầy.
4/- Hỏi :
Có trường hợp nào một người tín đồ mới bắt đầu tu tập
theo giáo pháp Tam Kỳ Phổ Độ chỉ một thời gian thật ngắn
mà có đủ tam lập nghĩa là trong nhà tịnh có tuổi thanh
niên tham dự không ?
Đáp :
Hội Thánh có nhiệm vụ tạo điều kiện cho tín đồ tu tiến,
sự giác ngộ tâm linh không phân biệt tuổi tác. Cơ duyên
để thành công sáng chói trên đường đạo của một người còn
tùy thuộc vào khối nghiệp lực tiền khiên của kẻ ấy. Nếu
họ đến thế nầy với một khối thiện nghiệp sẵn có của tiền
kiếp thì dù còn trong tuổi thanh niên, một khi chơn thần
đã hội đủ điều kiện tinh tấn cần thiết để nhập vào tịnh
thất không ai ngăn cản bước đi của họ được.
Cũng như về phương diện hữu hình, chức sắc hành đạo đủ
thâm niên công nghiệp có tài năng và đức độ, được thăng
phẩm theo luật công cử từ Lễ Sanh lên Giáo Hữu rồi Giáo
Sư, Phối Sư, Đầu Sư, Chưởng Pháp, Giáo Tông, bên cạnh
những bậc thăng phẩm trật tuần tự ấy vẫn có trường hợp
Đức Chí Tôn giáng cơ phong thưởng không theo luật công
cử, nghĩa là từ một người tín đồ có thể được phong làm
chức sắc cao cấp.
Tuy nhiên dù có mang phẩm tước hay tu chơn, mục đích sau
cùng của việc tu hành vẫn là sự giác ngộ tâm linh nghĩa
là giải thoát. Những trường hợp đặt biệt rút ngắn hay là
vượt bực qua khỏi tiến trình tu tập được ấn định chung,
chẳng qua chỉ là sự tiếp nối cuộc sống tu hành từ tiền
kiếp của những linh hồn tấn hóa đến mức ấy rồi, người ta
thường gọi đó là những kẻ có căn cơ thì chung qui cũng
phải do nơi công đức của họ đã tạo được từ trước.
5/- Hỏi :
Điều khoản bổ túc của Đạo Luật Mậu Dần ban hành từ năm
1938 đã thủ tiêu hai chữ tuyệt dục trong Bộ Tân Luật
ĐĐTKPĐ đã có từ năm 1927. Trong khi Tòa Thánh Tây Ninh
vẫn chủ trương, người tu thượng thừa khi có đủ tam lập
sẽ bước vào nhà tịnh mà luyện đạo, tham thiền để siêu
phàm nhập Thánh. Điều nầy có mâu thuẫn hay không với
nguyên lý thăng hoa của Tinh Khí Thần đòi hỏi phải có
một thân phàm tinh khiết mới xuất chơn thần tinh khiết ?
Đáp :
Vấn đề tuyệt dục trong Đạo Cao Đài được áp dụng một cách
nhẹ nhàng trên căn bản tự giác cho mỗi cá nhân. Nói
chung các giới luật được áp dụng từ dễ đến khó, khởi đầu
lỏng lẻo sau nghiêm khắc dần tùy theo mức độ thăng tiến
của mình, lẽ dĩ nhiên khi bước vào sinh hoạt tịnh luyện,
thiền định người tu phải ý thức được vấn đề nầy, tự mình
phải biết tuyệt dục đâu đợi ai cấm đoán. Còn nếu như
chưa ý thức được thì con đường hãy còn xa lắm.
Cũng như vấn đề trai giới luật Đạo đòi hỏi khởi đầu giữ
được mức 6 ngày một tháng, rồi đến 10 ngày đến trường
trai cho cơ thể quen dần. Còn nếu như mình tự nguyện giữ
trường trai ngay từ bước đầu khi nhập môn thì đó là
quyền của mình, đi nhanh hay chậm tự mình định đoạt. Thế
nhưng kinh nghiệm của tiền nhân thường thấy tình trạng
giục tốc bất đạt, nên mới đặt ra các điều luật hướng dẫn
sinh hoạt tu tập của tín đồ tuần tự chậm rãi, dễ thành
công hơn là chạy nhanh rồi vấp ngã.
6/- Hỏi :
Một số các chi phái Cao Đài chủ trương cho tín đồ luyện
đạo, thiền định ngay từ lúc mới khởi đầu cuộc sống tu
hành. Như vậy có phải tín đồ ở các chi phái nầy có đời
sống tâm linh cao hơn các tín đồ tu ở Tòa Thánh Tây
Ninh, nơi mà Hội Thánh đòi hỏi phải có một thời gian lập
công bồi đức cho đến khi thấy đủ tam lập mới đi vào sinh
hoạt tịnh luyện, thiền định ?
Đáp :
Giáo pháp ĐĐTKPĐ chủ trương đưa linh hồn con người trở
về cựu vị là chỗ nguyên thủy của nó, tức là hòa nhập
được vào bản thể của vũ trụ. Đến tình trạng nầy người ta
gọi là đoạt vị, huờn nguyên hay siêu phàm nhập Thánh,
mỗi từ ngữ đều có ít nhiều khía cạnh khác nhau trong ý
nghĩa của nó là do ở nhân sinh quan của mỗi cá nhân nhìn
cuộc đời như thế nào. Mỗi linh hồn đến thế nầy với vai
tuồng gì lâu mau đều định trước, làm cho tròn thiên
trách của mình trở về cựu vị được là thành công trong
kiếp sống tu hành.
Khi đưa ra chương trình tu tập cụ thể, các bậc tiền bối
cầm quyền Hội Thánh tại Tòa Thánh Tây Ninh đã cân nhắc
về hiệu quả của chương trình phổ độ, làm thế nào giúp đỡ
thiết thực các linh hồn đến thế nầy ngay từ khi còn
trong xác phàm và sau khi thoát xác nữa, thúc giục, trợ
duyên cho họ đi trên con đường tấn hóa, ấy là cơ tận độ
của Đức Chí Tôn.
Ý niệm cao thấp, hơn thua trong tinh thần khinh trọng
không có trong triết lý Đại Đạo nhưng trong lòng người
thấy vẫn còn hay vướng mắc ở điểm nầy.
7/- Hỏi :
Nếu Ngài Ngô Văn Chiêu chấp nhận làm Giáo Tông Đạo Cao
Đài theo Thánh giáo Tòa Thánh Tây Ninh do Đức Hộ Pháp và
Đức Thượng Phẩm cầu thì vấn đề truyền bí pháp tịnh luyện
của Ngài sẽ như thế nào. Vì theo Pháp Chánh Truyền vấn
đề truyền bí pháp do Hiệp Thiên Đài chịu trách nhiệm
trong khi Giáo Tông chỉ chịu trách nhiệm về phần xác của
tín đồ ?
Đáp :
Trách nhiệm Giáo Tông là phải dạy dỗ tín đồ hiểu biết ý
nghĩa và diễn tiến trên con đường tấn hóa cả về thể pháp
lẫn bí pháp. Và khi người tín đồ cần được truyền bí pháp
thì Hiệp Thiên Đài phải thi hành phận sự của mình làm
một nơi trung gian cho quyền năng của Đức Chí Tôn diêu
động khối điển quang trên chơn thần của họ.
Vì vậy Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài không thể xa rời
nhau được. Thánh ý Đức Chí Tôn muốn vậy./