GIÁO LÝ LƯỢT KHẢO
Tác gỉả
: Tiếp Pháp Trương Văn Tràng
Chương thứ nhất
Tiểu sử
Đại Đạo
Huấn luyện Đồng Tử
Ngày nay, ai cũng hiểu rằng nền Tôn-giáo Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độdo
huyền-diệu cơ-bút thành-lập, mà Đồng-Tử là vấn-đề quan-trọng trong
phép Thông-Thần-Lực (médiumnité). Ấy vậy nên trước khi
khai Đạo, Đức CHÍ-TÔN ủy-quyền cho chư Tiên Phật chọn lựa và
huấn-luyện Đồng-Tử.
Chúng tôi còn nhớ vào khoảng thượng tuần tháng 6, năm Ất-Sửu (1925) tại
Đô-Thành Sài-Gòn thình-lình phát-khởi một phong trào : Xây bàn, Phò
cơ, Chấp bút. Đầu nầy xây bàn tiếp chuyện với các Vong-linh, để họa
thi vịnh phú ; chỗ nó Phò-cơ, Chấp-bút cầu Tiên để xin Toa thuốc chữa
bịnh.
Tại trung-tâm Sài-gon có một nhóm công-chức cũng bắt chước xây-bàn cầu
các Đấng Thiêng-Liêng để học hỏi văn-chương thi-phú. Ban đầu, họ tính
dùng dịp tiêu-khiển mà thôi ; nhưng về sau vì ham mộ văn-chương
thi-phú, mà họ theo đuổi phép Thông-Thần-lực đến nơi
vi-diệu mà rồi chung cuộc họ trở nên những người Phò-Cơ đặc-sắc để Đức
CHÍ-TÔN dùng làm môi giới cho sự mở Đại-Đạo. Những vị sau này được
CHÍ-TÔN phong vào hàng Chức-Sắc đại Thiên-phong trong Đài Hiệp-Thiên.
Nhắc lại, nguyên chiếc bàn nhỏ có bốn chưn, kê hai chưn kia cao hơn
hai chưn nọ, chừng ba phân tây. Thế thì chiếc bàn trở nên gập-ghình,
có thể dở lên đặt xuống dễ dàng. Sự xây bàn phải có ít hơn hết là hai
người, ngồi đối diện nhau và để hai bàn tay lên trên mặt bàn. Trong
chừng 10 phút thì chiếc bàn bắt đầu chuyển động. Đó là triệu chứng đã
có một vị Thiêng-Liêng giáng-điển, chiếc bàn bắt đầu dở lên và gỏ
xuống.
Vậy chiếc bàn chuyển động cách nào mà viết ra chữ ?
Có một khẩu ước giữa Đấng Vô-hình và hai vị Đồng-Tử như vầy : nhịp một
lần là chữ A ; hai lần là chữ Ă ; ba lần là
chữ Â bốn lần là chữ B và cứ như thế tiếp diễn
đến đủ 24 chữ cái. Trong khi bàn nhịp, hễ ngừng chỗ nào thì người ngồi
ngoài phải biên chữ ấy ; chung cuộc thành ra một danh-từ ; nhiều
danh-từ hiệp thành một bài thi Bát-cú , hoặc một bài
Tản-văn .
Cách Xây bàn ban đầu thì khó khăn ; nhưng về sau, các vị
Đồng-Tử quen tay và thuần-điển thì cũng được dễ dàng. Nhờ vậy nên sự
tiếp chuyện càng ngày càng được mau lẹ và rõ ràng.
Chúng tôi còn nhớ, có lẽ hôm ấy nhằm ngày 10 tháng 6 năm Ất-Sửu (1925)
có một cô gái nhập bàn, tự xưng là Đoàn-ngọc-Quế và cho một bài thi
Bát-cú như vầy :
Nỗi niềm tâm sự tỏ cùng ai ;
Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài.
Những ng trau duyên vào Ngọc-các,
Nào ngờ phủi nợ xuống Tuyền-Đài.
Dưỡng sanh cam lỗi tình sông núi,
Tơ tóc thôi rồi nghĩa trúc mai.
Dồn dập tương tư hoằng một gánh,
Nỗi niềm tâm sự tỏ cùng ai.
Sau rõ lại thì cô Đoàn-Ngọc-Quế là biệt hiệu của bà Thất-nương Nữ
-Phật Diêu-Trì-Cung dùng lối giáng Thần, và cho thi như trên là có ý
cảm hóa mấy vị Đồng-Tử tương lai. Từ đó về sau Cửu-vị Nữ-Phật
Diêu-Trì-Cung thường hay giáng Đàn và dùng lối văn vừa vui, vừa hay,
để huấn luyện Đồng-Tử. Đến một hôm nọ, thình lình có một Đấng giáng
Đàn với một Thần-điển phi thường và tự xưng là A Ă Â. Về sau, biết ra
thì chính Ông A Ă Â là Đức Cao-Đài Thượng-Đế . Đức Ngài có nói
rằng: Ta phải hạ mình là một Chơn-Linh thường, để cảm hóa các con .
Thật quả vậy, nếu lúc đó Đức CHÍ-TÔN nói rõ : Ngài là Đức Thượng-Đế
thì chắc chúng ta chẳng hề dám lân la học hỏi.
Cách dạy của Ông A Ă Â cũng như các vị Nữ -Phật nói trên ; nghĩa là
Ông cho bài vừa vui, vừa hay, làm cho kẻ học không chán. Mãi đến ngày
30 tháng 10 năm Ất-Sửu nhằm ngày 15 tháng 12 năm 1925, Đức
CHÍ-TÔN dạy phải lập bàn Vọng-Thiên cầu Đạo và phải dùng lối Phò
Cơ để tiếp xúc với Đức Ngài. Cách Phò-Cơ bây giờ hãy còn dùng ;
có lẽ ai cũng hiểu, khỏi phải mô tả nữa.
Đến đêm 24 tháng 12 năm 1925, ngày Chúa giáng sanh bên Thái Tây, đức
CHÍ-TÔN giáng-cơ dạy rằng :
Ngọc-Hoàng Thượng-Đế viết Cao-Đài Tiên-Ông, Đại-Bồ-Tát
Ma-Ha-Tát giáo Đạo Nam-Phương .
Thi :
Muôn kiếp có ta nắm chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.
Đạo mầu rưới khắp nơi Trần-Thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn bền.
Đến đây chúng tôi mới rõ ra rằng cái phong trào Xây bàn, Phò-Cơ,
Chấp-Bút trước kia là Tiên-triệu (Signes précurseurs) cho nền Tôn-giáo
Đại-Đạo vừa xuất thế và cũng là phương-pháp huấn luyện Đồng-Tử của Đức
CHÍ-TÔN để dùng truyền giáo.
Lời Tiên-Tri.
Đức Ngọc-Hoàng Thượng-Đế giáng cơ lập một nền Tôn-giáo như thế nầy là một việc
thế-gian hi-hữu, làm cho chúng tôi, mặc dầu đã suy nghĩ nhiều, song
vẫn bán-tín, bán-nghi. Thế nên chúng tôi mới tìm hiểu thêm nữa thì
thấy trước kia đã có nhiều lời tiên tri
rằng sẽ có một nền Tân Tôn-giáo, xuất thế, mà chúng tôi lần lược kể như sau :
a) Sách Phật Tông-Nguyên-Lý chép rằng : Khi Đức Phật
Thích-Ca sắp tịch nhập, để tử Ngài là A-Nan-Đa rơi lụy mà hỏi rằng:
Khi Tôn-Sư viên tịch rồi, ai dạy bảo các con ? Ngài đáp : Ta
Chẳng phải là vị Phật đầu tiên, hay là cuối cùng giáng thế. Ngày giờ
đến, sẽ có vị Phật khác xuất hiện cứu đời, một vị Chí-Thánh, một vị
Đại-giác cực kỳ cao thượng, một vị dẫn Đạo vô song của Nhơn-loại, một
vị Chúa-tể cả Thánh Thần và loài người, Đấng ấy sẽ truyền lại cho các
con một mối Đạo vinh diệu buổi sơ khai. Vinh diệu buổi thạnh hành,
vinh diệu buổi kết cuộc. Đấng ấy sẽ xướng xuất một đời sống đạo-đức
hoàn toàn thuần khiết .
b) Đạo Minh-Sư sáng lập hồi đời nhà Thanh bên Trung-Hoa, có hai câu sấm, do
các vị Tổ-Sư lưu lại như vầy :
Cao như Bắc khuyết nhơn chiêm ngưỡng,
Đài tại Nam-Phương đạo thống truyền.
Nghĩa là : Đạo cao như Bắc-khuyết, người ta ngước mặt lên mà kính mến.
Nơi phát sanh ra Đạo là phương Nam (ám chỉ nước Việt-Nam) và liên tục
truyền bá không ngừng.
c) Kinh Giác-thế có câu :
Thánh Hiền Tiên Phật hi-hữu chi nhơn.
Tam-Kỳ Phổ-Độ hi-hữu chi sự.
Phi hi-hữu chi nhơn.
Yên năng hành hi-hữu chi sự ?
Nghĩa là : Thánh Hiền Tiên Phật là bậc có ít, cũng như Tam-Kỳ Phổ-Độ
là việc ít có. Không phải là bậc có ít, há làm được việc ít có hay sao
?
d) Còn một bằng chứng hiển nhiên nữa là lúc bấy giờ, Ngài Đốc-phủ
Ngô-văn-Chiêu đã có thờ Đức CHÍ-TÔN và theo học Đạo từ năm Giáp-Tý
(1924).
Nhờ những bằng chứng kể trên, chúng tôi lập được đức tin vững vàng để
theo học Đạo.
NỀN TÂN TÔN-GIÁO XUẤT HIỆN
Sự truyền bá Đạo-lý, từ đó, đã bắt đầu xúc tiến ; Thiện-Nam Tín-N
xin nhập môn càng ngày càng đông. Những người cầm giềng mối Đạo muốn
cho sự truyền giáo được dễ-dàng cho nên ngày 7 tháng 6 năm 1926, có 28
vị gởi một tờ Khai-Đạo lên quan Thống-Đốc Nam-Kỳ (thời kỳ
Pháp thuộc), trong đó có chữ ký tên của tất cả 247 Đạo-hữu. Về mặc
khác, Đức CHÍ-TÔN dạy phải thiết Đại-lễ Khai-Đạo ; thành
thử đến ngày 14 tháng 10 Bính-Dần, nhằm 18 tháng 11 1926, cuộc
Đại-lễ khai đạo cử hành tại Từ-Lâm-Tự, tỉnh Tây-Ninh. Nguyên lai ngôi
chùa nầy do một vị Hòa-Thượng bên nhà Thiền đứng ra tạo tác mới vừa
xong. Khi Hòa-Thượng nhập môn rồi, người bằng lòng cho tạm ngôi chùa
để làm lễ khai-đạo.
Tại Từ-Lâm-Tự, trong ba tháng hành lễ, người xin nhập môn hằng vạn.
Đồng thời, Đức CHÍ-TÔN lập Pháp-Chánh-Truyền, phong thưởng Chức-Sắc
Hiệp-Thiên-Đài, Cửu-Trùng-Đài tức lập Hội-Thánh và Đức Ngài dạy nhóm
Hội-Thánh lập luật Đạo. Ba tháng qua, Pháp-luật đã có thì nghiểm nhiên
Đạo thành một nền Tân Tôn-giáo chánh thức, danh gọi Đại-Đạo Tam-kỳ
Phổ-Độ. Sau ba tháng hành-lễ tại Từ-Lâm-Tự, Tòa-Thánh được dời về chỗ
bây giờ. Sự kiến thiết bắt đầu từ đó.
Vậy đủ rõ Đại-Đạo do Đức Ngọc-Hoàng Thượng-Đế, tá danh Cao-Đài
Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát dùng huyền cơ, diệu bút mà lập thành ;
nhưng, người đời dựa vào Thánh-danh ấy mà gọi tắt là Đạo Cao-Đài
. Sự thiệt, Thánh danh của Đức Giáo-Chủ Đại-Đạo có ý nghĩa là qui
Tam-Giáo (Thích, Đạo, Nho) thành một nền Đạo lớn, mục đích cứu rổi
Chúng-sanh, với một cách quảng đại. Còn Đại-diện Đạo-đức tại thế-gian,
để làm gương lành cho người đời soi sáng thì Đức CHÍ-TÔN lập ra một
Hội-Thánh gồm có ba Đài là : Bát-Quái-Đài, Hiệp-Thiên-Đài và
Cửu-Trùng-Đài. Mỗi Đài có phận sự đặc biệt, mà chúng tôi sẽ nói rõ
trong quyển sách nầy.
Có điều thần bí không thể nói rõ ra đượclà khi Đạo mới khai, Đức
CHÍ-TÔN ban huyền diệu cho người hành đạo nhiều lắm. Đại-để như những
bịnh điên, bịnh-tà, đến cầu thì người hành-đạo cầu-nguyện và thỉnh
Âm-dương thủy (nước cúng trên bàn thờ) cho uống rồi bịnh nhơn tỉnh
liền ; mãi đến ngày nay, những sự huyền diệu ấy còn truyền khẩu trong
Nhơn-gian.