Nữ Trung Tùng Phận
* * *
Tác gỉa Đoàn
thị Ðiểm
_____
Dụng văn-hóa
trau-tria nữ phách,
Lấy kinh-luân
thúc-thách quần hồng,
Gươm thư giúp sức
gươm hùng ,
Điễm tô nghiệp cả
con rồng cháu tiên .
Bởi rẻ-rúng
thuyền-quyên thiếu học,
Dầu chí thân tơ-tóc
cũng khi .
Thinh-thần cao-thấp
nhờ thi
Giục tài nữ-sĩ sánh
bì cùng nam .
Chinh-phụ trước
treo nên giá guí
Áng văn làm
nhuệ-khí cầu vinh
Thêm duyên chước
quí giao tình
Mỹ-ngôn nương ý
gia-đình an vui .
Nấu kinh-sử ra mùi son phấn
Cầm bút nghiên đặng thấm má
đào
Quần xoa đỡ ngọn binh-đao
Lấy hình thục-nữ dậm màu nước
non.
Cửa thánh-miếu hỡi còn thiếu
gái ,
Chốn quyền-môn nữ lại vẫn
không
Vật chơi ở chốn khuê-phòng
Đã cam phận vợ để chồng cầm
duyên .
Phần nội-trợ trăm phiền đeo
đẳng
Đạo phụ cơ đã nặng cho mình
Duyên may chồng đã nghĩ tình
Còn cha, còn mẹ có đành phận
đâu ?
Nỗi em chị bởi đâu chẳng
thuận
Nỗi nhi-tôn lẩn-bẩn bên lưng
Nỗi nhà, nỗi bếp, nỗi lân ,
Nỗi trong thân tộc, nỗi gần
nỗi xa .
Trên lo thảo, giữa hòa, dưới
thuận
Ngoài nên danh trong vững mối
giềng
Nỗi trông hương-hỏa giữ bền
Giúp nên chồng có phẩm quyền
cao sang .
Mảng lo-lắng chữ nhàn nào rõ
Huống để công đến ngõ
Khổng-trình
Rừng nho biển
thánh thinh-thinh
Nữ lưu nào thấu
muôn nghìn thi-thơ.
Kĩnh tổ-tiên,
nỗi thờ, nỗi phụng
Tế tông-đường,
lo cúng lo đơm
Kiến thân, viếng
sớm thăm hôm
Chua cay rõ
miếng, cơm ngon, cá bùi .
Lưỡi lừa miếng
nhai cơm lũ trẻ
Kiêng vật ăn
đặng để nuôi con.
Còn con nòi
giống chồng còn ,
Mảnh thân đành
chịu hao-mòn với ai ?
Còn gặp thủa
xanh mày lịch sắc
Dâng hình hoa
treo mắt bướm ong
Nào là hương
đượm lửa nồng
Nết khuôn giữ
vẹn chữ đồng lương nhân .
Muốn trau-chuốt
mặt ngần thân dịu .
Vẽ cho hay mày
liễu má đào
Thương gìn lúc
ốm khi đau ,
Sợ chê xấu phận,
cậy màu phấn-son .
Mình mỏng-mảnh,
sức non-nớt yếu
Đỡ-nâng chồng
vốn thiếu tay co
Không toan sớm
đói chiều no,
Lựa là tứ hải
ngũ hồ giúp nhau .
Cứ tựa cửa phòng
đào giấu dạng
Ngoài nước non
nào hẳn vơi chênh .
Mảng trong thấm
nghĩa nặm tình
Để công bẻ liễu
bắn bình trượng phu .
Dầu khôn mấy giả
ngu cho thuận
Phải bao nhiêu
cũng nhận lỗi lầm .
Phòng đào giữ
rủi rơi trâm ,
Sợ lơi hơi sắt,
tiếng cầm lạc cung .
Thử từ nết khi
chung lúc chạ ,
Gióng từ hơi,
hòa-nhã tơ loan,
Chì vui dưới
trướng ngoài màn.
Nhẫng lo ngại
nỗi phụ-phàn ái-ân .
Nghe từ lịnh,
cúi vâng từ mạng
Nhọc lòng chi
nào dám dỉ hơi!
Sợ cơn dông gió
tơi-bời.
Trà-mi xơ-xảy
hoa rời rã bông.
Che đậy kín,
tường đông ong bướm,
Giấu nhặt
nghiêm, nhụy tướng hương bình .
E khi vách có âm
thinh,
Để gương lỗi
đạo, lỗi tình phu-thê,
Giao thân cứ gần
kể kẻ thiết,
Ép nhớ thương
làm điếc làm đui.
Mặc người cha dể
mẹ duôi
Ngoại tông nương
phận, nếm mùi trân cam.
Hiểu thương ghét
giả cam phận dại .
Biết nên hư
chẳng cãi cho cùng
Nên thì an phận
kiếm cung,
Hư thì khổ vợ
tội chồng chung nhau .
Ngoài mặt phép,
chàng sao thiếp vậy,
Giữa cửa công
phải quấy đồng thân .
Vinh thì chàng
mão thiếp cân ,
Hèn thì chàng
váy thiếp quần đổi thay .
Lấy khổ-cực làm
bài thuốc mến,
Dụng đau thương
rù-quến thâm tình
Dầu chàng đổi dạ
én anh,
Tề-mi vẹn Đạo
giữ gìn phép khuôn ,
Nâng khăn-trắp
giải buồn quân-tử
Hầu tửu trà giấc
ngủ không an
Chàng vui thiếp
cũng vui càng
Chàng buồn thiếp
tựa bên màn khóc theo ,
Dòng tương chảy
thân bèo trôi-nổi
Chẳng ai thương
chửa lỗi binh lời
Chàng thì biển
cả vơi-vơi
Thiếp thân bóng
bọt giữa vời linh đinh .
Nếu gặp phước bố
kình đáng khách ,
Biết yêu hoa
dưới ngạch phòng thu
Rủi duyên, gặp
phải thường phu ,
Nhành xuân thì
trọng, gương thu dở cầm .
Khi lịch sắc,
trao trâm đáng giá
Cơn tàn hoa, keo
rã sơn rời .
Vẻ hồng mắt mỏ
bao mươi ,
Đưa cho quân-tử
trọn đời chủ-trương .
Nhụy đương nở
mùi thơm ngào-ngọt
Dâng hình hoa lo
lót con ong
Trăm năm kim cải
cũng chồng
Trái duyên cũng
vẹn đạo tùng mà thôi .
Thân lòn cúi, vợ
tôi chồng chúa,
Đạo phu thê như
đũa nên đôi .
Dầu cho lúc
đứng, khi ngồi ,
Chàng là chúa
cả, thiếp thời gia-nô .
May quan cả rủi
cho lê-thứ
Trong gia-tộc
cũng cứ phép nhà
Hèn người sang ấy của ta
Chê người, ta lại cho là đáng
khen .
Chồng sang đặng ta hèn chẳng
quản ,
Chồng đẹp hình ta mảng lo-âu
.
E ra nhiều thiếp nhiều hầu ,
Rồi tham bẻ lựu, bỏ đào
bơ-vơ.
Hễ xấu dạng, thì nhơ phận
thiếp
Còn đẹp hình nhác kiếp
phù-dung .
Mình thương người cũng thương
cùng
Còn như chê bỏ, lại dùng vào
đâu ?
Kiếm xứng mặt mày râu dưới
thế
E không mưu đủ kế gìn duyên .
Còn theo tham
ván bán thuyền.
Trông chi giữ
mảnh hương nguyền cùng nhau,
Lỡ lối cũ
động-đào lạc bước ,
Khó cầm duyên
đợi ngọc cầu lam
Thân tiên dầu lỡ
gót phàm ,
gương xưa lỗi
ráp ai cầm làm chi .
Nhẹ là bức, nặng
chì tình nghĩa
Để dụng riêng
cho phiá nữ-lưu.
Thung-dung
quân-tử hảo-cừu ,
Năm thê bảy
thiếp mặc dầu trăng hoa .
Nào có tưởng vợ
nhà đau-đớn ,
Ôm tình-si, muôn
lượng sầu than.
Máu ghen chăn
gối dẫy tràn,
Hình mai ủ-đột,
sắc càn héo-don .
Hễ càng ngắm hao
mòn giá ngọc
Càng riêng lo
tơ-tóc không bền .
Chàng vui cung
nguyệt trao duyên
Thiếp sầu sợ nén
hương huyền bớt thơm .
Lo rồi ngại ra
cơn mất nết
Vì ghen tương
hết biết thân mình
Dám toan tử-tiết
với tình
Còn chi kể đến
gia-đình hư nên.
Nếu ôm-ấp một
bên thương nhớ ,
Bịnh tương-tư
khó gỡ cho kham .
Nên toan đập nát
cung cầm ,
Vô duyên đành
phận, sống làm chi đây ?
Thương ra giận
khó khuây nỗi nhớ
Mối tơ duyên ai
gỡ cho đang
Hỡi người cỡi
phụng ngừa loan ,
Phải như vợ dám
phụ-phàng mới sao.
Tả nỗi thảm,
thêm đau mấy đoạn ,
Mượn bút hoa đắp
cạn thành sầu .
Tiếng tiêu dấu
lọt phụng-lầu ,
Hoặc may gỡ đặng
giây sầu nữ-nhi .
Cầm bút ngọc đề
thi tự thuật
Một kiếp sanh
của bậc văn-tài
Nêu gương tuyết
giá hậu lai,
Gỡ trong muôn
một những bài sanh ly .
Khi đầu ấp cùng
khi tay gối
Thân-thiết nhau
sớm tối quen hơi .
Chừ sao chong
ngọn đèn ngồi,
Cô-đăng giỡn
bóng, ghẹo người thương tâm
Nào là thuở
âm-thầm dan-díu,
vịnh bóng trăng
dặng níu hoa đào .
Chừ sao bỏ cảnh
úa xào,
Nhụy phai, hương
lợt khuôn rào tả-tơi?
Nào khi đứng lúc
ngồi đủ mặt .
Qua tường đông
lóng bậc tơ-đồng .
Chừ sao
chăn-chiếu lạnh-lùng
Phím loan nín
bặt, tranh tòng đứt dây .
Nào khi lén vẽ
mày thục-nữ
Nào khi lo
gìn-giữ hương thề .
Chừ sao bướm cũ
lìa huê,
Vườn thu vắng
khách, ủ-ê canh tàn .
Nào khi tựa bên
màn canh lụn
Nào khi ngồi ngó
bóng Hằng-Nga
Chừ sao để lụn
canh gà,
Vắng hoe gối
phụng, nguyệt tà, hoa thưa .
Nào khi đổ mây
mưa đảnh giáp
Nào khi lo ấm-áp
cung thiềm
Chừ sao vắng
dạng, tàn đêm
Gia cư rách cửa,
ven thềm cỏ chen .
Nào khi ước giữ
niềm son-sắt
Nào thề non nắm
chặt dải đồng
Chừ sao đổi dạ
thay lòng
Hẹn xưa bỏ chảy
theo dòng tương-giang .
Nào khi đứng
giữa đàng trông ngọc
Nào khi ngồi
dưới bọc trông dâu
Chừ sao phụ
nghĩa sơ-giao
Phòng toan ném
gánh tâm đầu sông Ngân .
Nào khi đến cầu
lam chưởng ngọc
Nào khi lo giả
thuốc trường sanh .
Chừ sao bỏ nghĩa
én anh,
Tham lê, bỏ lựu,
phụ tình trước mai.
Nào khi cửa then
gài mấy lớp
Cấm vườn xuân
nườm-nượp én anh
Chừ hoang cây cỏ
xủ mành,
Gần cây chim
lánh, đến cành gió day .
Nào khi sắc so
tài đẹp dạ ,
Nào khi nhen
hương-hỏa ba sinh
Chừ toan bứt
mảnh tơ-tình ,
Trà ngâu chê
nhớ, rượu quỳnh chối thương
Nào khi hỏi thăm
hang Từ-Thức
Nào khi dò mấy
bực cầu ô
Chừ sao kẻ Hớn,
người Hồ
Để cho phòng
hạnh ra mồ quạt duyên .
Nào là lúc
ngửa-nghiêng đêm quạnh
Nào là khi thức
tỉnh đêm khuya
Chừ sao
loan-phụng chia lìa
con trông, vợ
nhớ mắt kề ngó song .
Càng thấy con
khờ không đủ trí
Càng thêm lo
huyết-khí bên chồng
Nâng niu lúc ẵm
khi bồng ,
Phụ thân thế
phận cho chồng dạy khuyên .
Càng sợ hở
thung-huyên phiền-muộn.
Thảm bao nhiêu
gắng gượng làm vui
Tảo-tần sớm
dưỡng chiều nuôi ,
Thế chàng thiếp
lãnh vai người hiếu nam.
Thấy em dại
không ham đèm sách
Càng để lòng
hỏi-hạch kinh luân
Thay chàng thiếp
trả nghĩa thâm
Dạy em văn-hóa
thiếp làm trưởng-huynh.
Càng nghĩ đến
linh-đinh phận thiếp ,
Càng ngại lo
tội-nghiệp thân con.
Những ngờ nước
thấm đầu non
Nào hay trăng
khuyết hoa-mòn nhơn duyên
Càng đeo-đẳng
nỗi phiền nỗi thảm
Càng thương thân
chích bạn lìa đôi
Phận sao phận
bạc như vôi
Nước lưng đáy
gáo, hương trôi dòng là.
Càng ngắm đến cỏ
hoa vật loại
Càng thẹn vì
vắn-vỏi tơ tình
Chim kết cánh,
cây liền cành
Còn thân thiếp
chịu một mình đơn côi !
Kìa cá giỡn vẩn
vơ đáy nước,
Nọ kết đôi cưu
thước ven trời
Còn thân thiếp
chịu cút-côi
Đèn khuya nhắc
thảm, gió mơi ghẹo sầu .
Kìa oan-ương ấp
nhau chẳng hở
Nọ én-anh rỉ-rả
kêu thương
Còn ta luống
những đoạn-trường ,
Gối chăn tê-tái,
chiếu giường lạnh-tanh !
Kìa cầm điểu bẻ
cành kết ổ
Nọ thú trùng moi
lỗ làm hang
Này thân thiếp
chịu gian-nan,
Linh-đinh đất
chiếu, trời màn không nơi !
Kìa ong kiến tha
mồi dành để,
Cơn khốn cùng có
thể nuôi thân .
Còn thân thiếp
chịu khốn-nàn
Tả-tơi nỗi mẹ,
trần truồng nỗi con !
Thôi đành kiếp
nớt-non gượng sống
Sống vì con
chẳng sống vì thân
Đòi phen đỗi
thảm ra mầng
Nâng-niu trẻ dại
cho gần đặng cha !
Đưa giọt sữa ra
hoà giọt lụy
Trong tình chung
huyết-khí đúc hình .
Còn con may đặng
giữ tình
Khối chung tình
ở nơi mình ấu-nhi.
Nghe trẻ khóc
như chì dần dạ
Thấy con đau như
đá đập đầu
Còn con ô-thước
bắc cầu
Mất con là cửa
vô lầu lãnh-cung .
Thấy xuân đến vẻ
hồng khắp chốn
Nương con thơ
sống rốn cùng xuân .
Ru con giọng hát
ngập-ngừng ,
Xuân ôi! xuân
biết mấy lần đau thương ?
Ve kêu hạ dường
trêu thảm ,
Mưa sầu tuôn mấy
dặm biệt-ly
Dỗ con lệ ngọc
li-bì,
Hạ ôi, hạ có
biết nghì phu-thê?
Chiều thu nhắc,
ủ-ê cảnh hạn,
Nhấp-nhô xem
cánh nhạn về non
Trông thu rầu
ngó thân con ,
Thu ôi,thu biết
hao-mòn tấm duyên ?
Đông lạnh ngắt,
mảnh mền úm trẻ .
Ngồi đêm trường
quạnh-quẽ phòng không
Nhớ chồng thấy
trẻ não-nồng ,
Đông ôi, đông
biết tấm lòng kiên-trinh ?
Vắng mặt chồng
cân hình của trẻ
Ngó thấy con
đặng vẽ tượng chồng
Cân thương trẻ
ấy mà đong ,
Thì trong thương
ấy của chồng tám phân .
Kìa máu huyết,
cành xuân nhụy nở
Khối ái-ân đành
ở nơi con .
Dầu cho biển cạn non mòn
Tơ-duyên khắn-khít chỉ còn
bấy nhiêu .
Trẻ nhỏ-dại lắm điều học-hỏi
,
Thường kiếm cha mong mỏi thấy
nhau .
Dỗ con chỉ bóng giải sầu
Rằng: khuya đèn thắp cha hầu
về thăm .
Hơi mảnh áo còn cầm đặng ngữi
Gối loan gìn từ buổi kết
duyên
Ba sanh dầu toại thửa nguyền
Họa trong giấc mộng giải
phiền giao hoan .
Càng bạc phước
càng than con dại,
Lo tảo-tần
mãi-mại dưỡng nuôi.
Còn cha con tỷ như côi
Chít-chiu trẻ khó, bồi hồi mẹ
đơn .
Nhịn ăn mặc ngừa cơn thiếu
thốn,
Làm lụng nhiều nuôi dưỡng sắp
con .
Nại chi xác yếu thịt mòn
Gia tư miễn đặng vuông tròn
giữ duyên .
Lớn một tuổi mẹ thêm một khổ
,
Hiểu một điều mẹ hổ cho thân
Trí con lần mở nẻo gần
Hỏi cha sao phụ, tố-tần làm
răng .
Chẳng lẽ nói cho chàng đen
bạc
Chẳng lẽ cho cỡi hạc quên nha
Không đành nói thác ra ma .
Không đành nói ngụ nơi nhà
lầu xanh .
Không lẽ nói mến anh quên én
Không lẽ rằng trộm nén hương
thừa
Nói chi tìm vợ dâng dưa ,
Lẽ nào nói rượt theo vừa
Hằng-Nga .
Không lẽ nói đi qua Đông-Độ
Không lẽ rằng vô số chinh-phu
.
Lẽ nào nói bị tội tù
Lẽ nào nói trấn Tây-Âu làm
hoàng.
Còn nói thiệt rằng chàng phụ
thiếp
Cũng vì mê theo kiếp làng
chơi
E con đến lớn nên người .
Gương cha để thẹn những lời
bợm hoang.
Riêng chịu thảm không than
với trẻ
Đổ lụy rơi theo khóe miệng
cười
Vui là gắng-gượng làm vui
Cái vui cùng trẻ là hồi
ai-bi.
Ngàn dâu ngó ngày chầy, thăm
thẳm,
Bận lòng con lại vấn nô-y
Xem chừng coi mảnh anh-nhi
Co tay đếm tuổi,
bấy chầy không cha .
Hột cơm tẻ, nhai
ra như cát
Gan còn nguyên
như nát bao chừ
Nuôi con từ lúc
đào thư
Bao nhiêu máu
thịt công chờ bấy nhiêu .
Chàng đâu rõ
khúc-khiu cực nhọc
Lớn khôn-ngoan
biết học biết hành
Biết ơn nuôi
dưỡng sanh thành
Tìm cha lại bỏ
một mình thiếp côi .
Càng thấy lớn
mầng rồi lại sợ
Mầng nên hình
còn sợ theo cha
Dường như con
vịt mẹ gà ,
Trẻ thơ vội phản
mụ già kinh tâm .
Làm lụng té bao
lăm của-cải ,
Để cho con làm
ngãi cùng con .
Nỗi lo đôi lứa
vuông tròn,
Còn lo gia-thất
vĩnh-tồn hậu lai.
Định hương hỏa,
hằng ngày qui tế ,
Lập pháp-gia, tự
kế phụng thờ
Con chàng thiếp
trả khi thơ ,
Dòng chàng thiếp
dạy phụng thờ tổ-tông .
Lựa cho học các
công các nghệ
Tính cho hay mọi
vẻ văn tài .
Sĩ, nông ,công
,cổ sanh nhai
Ngư, tiều, canh,
mục làm bài bảo thân .
Hễ phải mặt
văn-nhân tài-tử,
Dạy con nên vẹn
giữ nhơn-luân ,
Văn là thượng-sĩ
danh thần
Võ thì bạt-tụy
siêu-quần quân trung .
Quan thì phải
tận trung vì chúa
Dân thì hay tập
búa Lỗ-Ban ,
Sang thì giữ
vững ngai vàng
Hèn thì trừ đảng
bạo-tàn hại dân .
Trọng thì lấy
đai-cân làm lịnh
Khinh thì lo trừ
nghịch làm duyên
Nước non để tuổi
cùng tên,
Quốc-gia
khinh-trọng bở-bền nơi dân.
Con thương mẹ
dầu vâng lịnh dạy,
Thương quê-hương
trọng ngãi quân thần
Ngọn rau tấc đất là ân
Một dòng một giống lo cần ích
chung .
Nếu đề đặng tinh-trung hai
chữ
Vạch lưng con viết chữ dể
dành
Rủi cơn loạn quốc khuynh
thành
Tấm gan liệt-sĩ cũng đành độ
dân .
Dầu rủi phận nợ thân chẳng
vẹn
Đạo cần-vương nêu tiếng thanh
cao
Trung-thành giữ cõi Nam-Trào
Hùng-anh trước đặng Ngụy-Tào
khiếp oai.
Trước quốc-chánh chia hai tộc
chủng
Núi Hoàng-Sơn định phỏng biên
cương
Bắc-Nam hiệp tổ Hùng-Vương ,
Xúm nhau nâng nổi miếu-đường
Việt-Nam
Giang-san bốn nghìn năm
tổ-nghiệp
Văn-hóa so cùng
kịp tha-bang
Xa-thơ nay gãy
giữa đàng
Con tua giữ dạ
cứu nàn giúp nguy .
Nào quốc-thể
người thi kẻ thị
Nào dân đem phép
quỉ hớp hồn
Nấu sôi cái máu
anh-phong .
An-bang tế-thế
một lòng lo âu .
Đấng quân-tử đâu
đâu cũng nợ
Khắp năm châu
khai mở qui-mô
Châu-lưu tứ-hải
ngũ-hồ
Thơ hương
đắc-vận cậy nhờ dân sanh .
Vùng Nam-hải,
uy-linh nhứt quốc ,
Cỏ rẽ hai, chia
đất lấp ranh ,
Trời còn roi
nước hùng-anh ,
Giang-sơn là
đấy, còn mình ở đâu ?
Con cũng đứng
mày râu dưới thế ,
Nếu kém phương,
thiếu thế vận-trù
Dầu khôn mẹ cũng
cho ngu ,
Tài chi trong
kiếp tội-tù dã-man .
Con phải nhớ da
vàng máu đỏ
Cõi Nam-Châu
rỡ-rỡ quốc triều
Con Hồng cháu
Lạc bao nhiêu ,
Thiếu tài kém
đức, định triều an bang.
Mẹ dầu phải suối
vàng nhắm mắt,
Vui thấy con
đáng mặt làm trai .
Nhục con, con chịu chớ nài
Nhục cho Quốc-thể ra tài
hi-sinh.
Thất xã-tắc dân mình nghịch
chủng
Quen nghề tham lại nhũng quan
gian
Sâu dân mọt nước bạo-tàn
Mua quan, bán chức nhộn-nhàng
cân đai.
Đem chơn chánh phô-bày trừ mị
Nâng-niu cho dân-khí lẫy-lừng
Dân thì biết phận làm dân ,
Chúa cho đáng chúa, đình-thần
đáng quan .
Trừ đảng dữ tham gian bạo
ngược
Diệt những phường mưu chước
cầu vinh .
Xem dường cuồng khấu
biên-đình
Cung dâu tên cỏ, nước mình
chấn-hưng.
Xem lịch-sử vĩ-nhân mấy mặt
Đại trượng-phu trước giặc
vong thân .
Nên danh khai quốc công-thần
Nêu tên hậu thế xa gần tặng
phong .
Muốn hiểu tổ vinh tông báo
hiếu
Học cho hay trọng yếu
Miếu-đường .
Tầng quen cỡi ngựa cầm cương
Trận trung quyết thắng, chiến
trường đoạt binh .
Lựa những mặt tài-tình thọ
giáo,
Học cho thông mối Đạo quân
thần
Trương-Lương dâng dép ba lần,
Chút công ấy định Hớn Tần nên
hư .
Trọng-Ni nhận vi sư Hang-Thác
Học tinh-thần khai thác
nho-tông
Gẩm coi tổn bấy nhiêu công
Làm cho thiên-hạ đại-đồng
tri-trí.
Tôn kỉnh thầy cũng bì cha trẻ
Mới đắc-truyền mọi lẽ cao
siêu .
Học hay kế nhiệm mưu mầu
Học nên tài đặng giải sầu
quốc-gia
Học đặng định chánh tà giả
thiệt
Học cho thông đặc-biệt hư nên
Học gan sắc đá cứng bền
Học cho đủ chước xây nền
Nam-Phong .
Học cho rộng giao-thông tứ xứ
Học cho cùng xử sự ngoại-lân
Học cho đúng bậc tài thần
Ưu quân ái quốc vua cần dân
nghinh .
Học cho thấu máy linh cơ tạo
Học cho toàn trí xảo văn-minh
.
Thâu tài hay, nhập nước mình
,
Làm cho dân hưởng thái-bình
giàu sang.
Công dạy dỗ muôn ngàn khó
nhọc
Ơn của thầy con học nên người
Tài hay tom góp
một đời ,
Cho con chẳng kể
vốn lời hơn thua .
Thầy lao-lực tùy
vừa trí trẻ
Dạy cho thông
mọi lẽ gần xa .
Tuổi xanh con
đặng trí già
Còn thơ con học
hóa ra lão thành .
Con nhờ thầy
công-danh mới toại.
Như nhờ cha mới
giỏi hình-dung
Hai ơn ấy gẫm so
đồng
Nghĩa kia như
hiếu, mặn-nồng cả hai .
Xưa ruộng Thuấn
voi cày chim cấy
Vì hiếu thân nỗi
dậy tuổi tên .
Đế-Nghiêu tìm
hiếu truyền hiền ,
Nương nơi gương
ấy vẫn bền đạo con .
Mẫn-Tử-Khiên
tích còn roi dấu,
Dẫy xe cha áo
xấu mặt dơ,
Sợ đàn em dạy u-ơ,
Khổ thà cam khổ
cũng thờ dưỡng-nghi .
Con ví biết trọng
nghì phu-tử
Hiển-tông-môn khá
giữ nơi lòng.
Đừng làm nhục tổ hổ
tông ,
Lập thân trả hiếu
nối dòng truyền hương .
Nhìn thung-đường
đền ơn cúc-dục ,
Nhớ công-sanh giữ
chút hình-hài.
Dưỡng-nuôi lao-khổ
đắng cay ,
Lửa hương chỉnh ước
có ngày nối xa .
Còn em-út trong nhà
thơ bé ,
Trai dạy khuyên gái
để khép khuôn .
Con đừng quen tánh
luông-tuồng,
Các em hư nết gièo
buồn song-thân .
Một cục máu chia
phân mấy mảnh
Hình-hài em tượng
ảnh thân con .
Chữ rằng huyết-mạch
đồng-môn ,
Riêng chưng thân
thể, tâm hồn cũng con .
Ngoài gia-tộc
nước-non vầy bạn
Lựa tài danh giao
cạn tâm-tình
Đời như trận giặc
đua tranh
Dầu tài một ngựa
một mình khó nên .
Coi gương trước
Thánh-Hiền ghi lại
Kết bạn nhau đạo
ngãi làm sao
Tuy là khác thửa
Đồng-bào ,
Mà trong sanh-tử
một màu sắt-son.
Lưu, Quan, Trương
giữ còn nghiệp Hớn ?
Gìn trọn thề chết
sống có nhau .
Dầu cơn độc-mã đơn
đao,
Tâm trung nghiã-khí
Ngô, Tào cũng kiêng.
Sài, Triệu, Trịnh
cũng quyền như thế
Mà nên mưu đủ kế đồ
vương
Tống thâu thiên-hạ
Đại-đường
Cũng do bởi học nơi
trường hữu-giao .
Trong vũ trụ hiệp
hòa là mạnh ,
Phận đồ-thơ phải
gánh non sông.
Anh em bạn tác vầy
đông .
Xô thành cũng ngã,
lấp sông cũng bằng .
Trai nam-tử kiếm cung là phận
Đạp nước-non đặng tấn khí
hùng .
Đi con đường thế gai chông ,
Lớn gan hiu-quanh thì lòng
cũng nao.
Tình phu-phụ biết bao nghĩa
trọng ,
Đạo nhơn-luân gầy sống của
đời
Dầu cho non-nước đổi dời
Còn niềm chồng vợ, còn người,
còn ta .
Bạn trăm tuổi thân hòa làm
một
Dầu sang hèn xấu tốt cũng
duyên
Cùng nhau giữ vẹn hương
nguyền
Cái duyên kình-bố là duyên
Châu-Trần .
Con đừng thấy phụ-nhân nan
hòa
Cầm hồn hoa vày-vã thân hoa
Vợ con thay phận
mẹ già
Nuôi con mẹ cậy
bóng ngà nữ-dung .
Khi tối sớm
lạnh-nồng có kẻ
Thân-mật con
đặng dễ giữ con
Mẹ lo trong lúc còn non
Vợ con lo lúc thân mòn gối
run.
Nếu khổ-cực
chung cùng chia sớt ,
Dầu sang vinh
đừng bớt tình nồng .
Hễ là vào đạo vợ
chồng ,
Hư nên đều có
của ông công bà .
Con chớ ỷ mình là nam-tử
Chiếm chủ-gia hẹp xử thê-nhi
.
Đừng xem ra phận tiện-tì ,
Quyền trong nội-trợ cũng bì
đồng nhau .
Ai nâng-đỡ khi đau lúc ốm
Ai vù tròn nắng sớm mưa mơi
Tình chung bền giữ một đới
Chia cơm cắn muối không dời
lòng thương.
Áo trâu đắp đông sương
lạnh-lẽo
Cửa hấp gà mở nẻo tiễn phu.
Lập thân đừng để danh lưu ,
Cũng như Bá-Lý-Hề âu lạc tình
.
Chém vợ để cầu vinh thuở
trước
Ngô-Khởi còn gian-ngược chi
danh .
Con đừng mượn nét khuynh
thành
Lợi thân mà hại đến mình
hồng-nhan .
Đừng sang-trọng phụ-phàng
nghèo khó .
Gặp hầu xinh vội bỏ thê hèn .
Cá kia chung chậu hơi quen ,
Ái-ân đầm-thấm bởi bền nghĩa
nhân .
Gương đẹp-đẽ Mãi-Thần thuở
trước
Trọng nhơn luân sau trước nên
quan .
Hiền-danh ghi
tạc giang-san ,
Nghĩa-trung đi
cặp con đàng trựơng-phu .
Tống-Hoằng chí
trượng-phu không đổi
Giữ nhơn-luân sợ
lỗi đạo hằng
Từ duyên
công-chuá giao thân ,
Đúc cơm vợ quáng
ân-cần dưỡng nuôi .
Biết tình nghiã
biết mùi ân-ái ,
Chia đau thương
cột dải đồng tâm
Kìa ai đã gọi ân
thâm
Hơn niềm chồng
vợ âm-thầm giúp nhau .
Đừng đến lúc ốm
đau chẳng ngó
Hương sắc xinh
lại bỏ hoa tàn
Những là anh én
nhộn nhàng
Buôn duyên bán
nợ như hàng chợ đông .
Có chi trọng đàn
ong cánh bướm
Nơi phồn-ba đậm
nhượm màu gian
Đừng quen kết lũ
vầy đòan
Cửa thanh lâu
những rộn-ràng gío trăng .
Giấc
phong-nguyệt xem bằng túy-mộng
Vợ cùng hầu
so-sóng đồng thương
Nhỏ thì
trọng,lớn thì nhường
Noi cân quân-tử
ra trường đánh ghen .
Coi thân vợ như
em nhỏ dại
Đem lòng yêu
phận gái đơn cô
Đặng chồng dường
thể đặng mồ
Chôn thây cửa lạ
cậy nhờ ở ai .
Phải tôn khí
cành mai đương nở,
Đừng xa-hoa làm
mớ hàng chơi .
Sánh mình
mỏng-mảnh thương người,
Rủi sanh phận
gaí khó cười với thân .
Gái mẹ dạy
ân-cần cho lắm
Đừng để mình lụy
đến sông tương
Bông dầu đẹp khá
gìn hương
Quí chi liễu ngõ
hoa tường trao duyên .
Đóng chặt cửa
giữ nguyên trinh tiết
Trọng thân danh
bền nét đào yêu .
Phụng lầu gác
uyển chờ tiêu
Giao cầu cho
đáng nhiễu điều giá gương .
Đừng đứng dựa
sông tương nhắn khách
Đừng trông trăng
hỏi ngạch cung thiềm
Đừng đề thi lá
thơ chim
Cầu hôn để phụng
đến tìm cung loan .
Con khá nhớ
hồng-nhan phận mỏng
Đừng làm cho
thẹn bóng trăng xuân .
Hồng-quần tài
sắc đa-truân ,
Vào vòng bạc
phận, chi mong trọn nguyền
Hoa phong nhụy
cung Tiên cũng mến ?
Gấm lót đường
trọng tiếng cũng nhơ
Nhà vàng phận
quí khi thơ
Gót sen dầu lịch
cũng nhờ vẻ xuân .
Đừng cho nhiễm
lấm thân thục-nữ
Chốn phòng the
cứ xủ rèm là
Vườn thu giấu
dạng Hằng-Nga
Hải-Đường nở
muộn mặn-mà ái-phong .
Phàm phận gaí
đứng hàng khuê-các ,
Phải trau-tria
tướng hạc hình mai .
Chín tầng cửa
đóng then gài ,
Ra ngoài
nghiêm-nghị trong bày đoan-trang .
Đối với khách
đồng bàn đồng tuổi ,
Nhớ cho hay lời
nói giọng cười .
Ngôn từ ngọt dịu
thanh tươi,
Tiếng tiêu khải
phụng phục người mới ngoan .
Gặp cơn rảnh nhà
lang vắng khách .
Công chỉ kim đèn
sách học hay .
Trăm nghề dầu
chẳng đủ tài ,
Dệt văn Tô-Huệ
gỡ dày chinh-phu .
Sửa từ nết ngày
thậu tập tánh ,
Trăm hạnh hay
bởi tránh đều thô.
Xấu-xa rách-rưới
lõa-lồ ,
Đoan-nghiêm
tánh-đức cũng cho gái lành .
Còn đương thuở
tuổi xanh thơ bé ,
Rán theo cha học
lễ học văn .
Phép xưa tùng
phụ đã rằng ,
Dựa thân cội-tử
đợi hàng trượng-phu .
Thánh xưa dạy từ
câu nói hiếu ,
Đạo thờ thân
chầm khíu nên kinh .
Tích xưa nhắc
đến Đề-Oanh,
Thương cha nên
phải bán mình kêu oan .
Bến nước gái
mơ-màng trong đục ,
Đếm mười hai hoạ
phúc khó lừa .
Xem cha cư-xử mà
ngưà ,
Phòng sau cho
khỏi đổ thừa lở duyên .
Cao niên biết
tuyển hiền đáng mặt ,
Khỏi lầm mưu kẻ
giặc phong tình .
Sự đời thấu rõ
dạng hình.
Trá ngôn lánh
chước gia-đình pháp nghiêm.
Đợi nơi cửa
khách tìm thức ngọc ,
Đừng đổ đường
rời bốc đóa hoa
Trong người so
sánh với ta .
Lường tài cân
sắc hiệp hòa mới nên .
Ai nam tử giữ
bền tơ-tóc ,
Nhiều người hay
lừa lọc câu thề .
Trước khen sau
ắt có chê ,
Ghi tâm tánh đức
kiếm bề phụ nhau .
Rủi để khách tóm
thâu tiết-hạnh ,
Tránh không qua
nhẹ tánh nghi ngờ .
So mình nắm dễ
tóc-tơ ,
Ngoài ra còn lắm
hẫng-hờ lứa đôi .
Nét xuân sắc mấy
hồi là trọng ,
Xuân lỡ rồi khó
mộng xuân nguyên .
Thà cho đáng mặt
thuyền-quyên ,
Đừng làm cầm sắt
ra duyên bẽ-bàng .
Khi gặp đặng
phải trang tài-mạo ,
Họăc trao trâm
đắp áo làm tin
Thì toan giữ vẹn
chung tình ,
Đưa thoi đừng để
lỗi mình nữ trung .
Đến lúc đã chung
phòng hòa-hiệp
Phải tùng phu là
phép xưa nay .
Mạnh-Quang tích
trước ghi tài .
Tề-Mi vẹn đạo chẳng nài khổ-thân
|