Ðại - đạo  Tam -  Kỳ  phổ - độ

Tòa - Thánh  Tây - Ninh

 

Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống

Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp

Tài liệu do Ban Tốc Ký Tòa Thánh Tây Ninh Sưu Khảo

 

Lời Tựa

Sau khi ấn hành xong bộ " Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp " đã thuyết trong mười năm, bắt đầu từ năm Bính Tuất đến năm Bính Thân. Chúng tôi tiếp tục xuất bản quyển " Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống " để cống hiến quí vị một tài liệu quí giá trong vấn đề nghiên cứu nền giáo lý của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.

Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống là một quyển tài liệu đầu tiên nêu rõ vấn đề siêu hình mà từ xưa đến nay chưa có một bộ sách nào diễn tả được tận cùng chơn lý.

Quyển tài liệu nầy không những là một ánh đuốc soi đường cho người học Đạo mà còn là một tài liệu ghi chép lại đầy đủ những cuộc đối thoại giữa các chơn linh cao siêu nhưng thiếu đạo đức với các Đấng Trọn Lành nơi cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống. Ngoài ra, tài liệu nầy có thể được xem là một biểu đồ ghi rõ sự biến thiên về cá tính cùng trình độ tiến hóa của con người qua không gian và thời gian.

Trong những ngày khởi đầu ghi chép tốc ký quyển Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống chúng tôi bị thiếu sót một đoạn rất quan trọng là đoạn mở đầu. Nhưng may thay lúc chuẩn bị tài liệu để thực hiện lời Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp thì được Chức Sắc, Chức Việc và Đạo Hữu quen thân gởi về chúng tôi nhiều tài liệu để đóng góp. Đến khi soạn ra để in thì chúng tôi tìm thấy bài đầu của Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống thật là may mắn thay cũng là vinh hạnh thay cho chúng ta. Vì nếu Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống mà thiếu bài đầu, cũng như chúng ta đi đêm mà không có ánh đuốc vậy.

Thật ra khi chép lời Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp, có nhiều Tốc Ký Viên ghi chép, nhưng chúng tôi thì hoàn toàn thiếu mất một đoạn đầu, đến nay lại tìm thấy trong số tài liệu mà quý vị có nhã ý đóng góp với chúng tôi. Chúng tôi muốn biết quý danh để ghi vào danh sách những ân nhân của chúng tôi, nhưng không cách nào biết được. Vậy chúng tôi thành kính ghi lại những vòng chữ nầy để tri ân vị Tốc Ký Viên nào đã giúp cho chúng tôi hoàn thành quyển Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống được hoàn toàn đầy đủ.

Dầu sao, để cho quyển Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống có một giá trị tuyệt đối về tinh thần, chúng tôi thỉnh cầu Hội Thánh thiết lập một đàn cơ tại Cung Đạo cầu Đức Hộ Pháp giáng đàn hiệu đính lại lần chót. Đó là ý nguyện duy nhất của chúng tôi.

Thành Kính

 

Đức Hộ Pháp

Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
Đêm 13 tháng 8 năm Mậu Tý (16-9-1948)

Đêm nay Bần Đạo thuyết có hơi dài một chút, rán ngồi nghe.

Kể từ đêm nay Bần Đạo bắt đầu thuyết một đề tài trọng yếu, đề tài nầy phải thuyết nhiều đêm mới hết; bởi thế cho nên cứ mỗi bốn đêm thì thuyết một lần, Bần Đạo rán thúc nhặt cho con cái Đức Chí Tôn có một bửu bối nơi tay để ngày kia tìm đường đoạt Đạo.

Đề tài đêm nay là:"Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống"

Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống là gì? Nếu hiểu theo Chơn Pháp của Đức Chí Tôn, thì con đường Thiêng Liêng Hằng Sống là: Con đường dành cho các chơn hồn khi thoát xác, rồi quay về với Đức Chí Tôn để được định vị thăng hay đọa. Nhưng nếu hiểu theo triết lý nhà Phật, thì con đường Thiêng Liêng Hằng Sống là con đường của Luân Hồi.

Như vậy con đường Thiêng Liêng Hằng Sống là một đề tài thuyết pháp khó khăn; muốn cho toàn thể con cái của Đức Chí Tôn thấu đáo, lãnh hội đầy đủ nghĩa lý sâu xa của đề tài đó; ít ra phải viết thành sách, mà sách ấy tới mấy ngàn trang là ít.

Ấy vậy con cái của Đức Chí Tôn rán nghe và ráng đi cúng đặng nghe, để nữa sau khỏi hối tiếc và oán trách; nói sao Bần Đạo không cho hay trước, không cho biết trước, để được nghe những điều bí yếu trong nền Đạo Cao Đài, những triết lý cao siêu mà chỉ có Đạo Cao Đài mới có. Tuy nhiên, âu cũng là một đặc ân của Đức Chí Tôn dành cho Đạo Cao Đài ngày nay, nên mới có mấy đứa nhỏ cố gắng học được tốc ký để ghi chép những lời thuyết Đạo của Bần Đạo. Vì những lời thuyết Đạo nầy không phải của Phạm Công Tắc mà là của Hộ Pháp; Hộ Pháp thay lời Đức Chí Tôn nói Đạo cho toàn thể con cái của Ngài nghe, quý hay chăng là ở chỗ đó.

Bần Đạo may duyên được Đức Chí Tôn chọn làm Ngự Mã Quân của Ngài để thay Ngài lập nền Chánh Giáo, tức là nền Đạo Cao Đài nầy để thay thế tất cả Tôn Giáo đã có từ trước. Vì lẽ các Tôn Giáo ấy ngày nay không còn phù hợp với lương tri lương năng của loài người nữa, hay nói một cách khác là các nền Tôn Giáo ấy ngày nay đã bị bế.

Nhớ lại từ khi Đức Chí Tôn chọn Bần Đạo làm Hộ Pháp, dạy Bần Đạo phò loan và chấp bút, đặc biệt hơn hết là chấp bút; vì nhờ chấp bút, mà Bần Đạo được Đức Chí Tôn dạy cách tham thiền, khi biết tham thiền rồi mới nhập tịnh; nhưng nhập tịnh không phải dễ, chỉ sai một tí, sót một chút là có thể hỏng cả cuộc đời. Nhập tịnh mà không tới thì bị hôn trầm tức là ngủ gục, còn nhập tịnh mà quá mức thì phải điên đi mà chớ. Nhập tịnh mà đúng rồi, còn phải nhờ các Đấng Thiêng Liêng mở huệ quang khiếu nữa mới xuất hồn ra được. Con đường mà chơn thần xuất ra rồi về với Đức Chí Tôn là con đường Thiêng Liêng Hằng Sống đó vậy. Chính Bần Đạo được Đức Chí Tôn mở huệ quang khiếu nên mới về được hội kiến cùng Đức Chí Tôn và đã học hỏi được nơi Đức Chí Tôn nhiều điều bí yếu bí trọng.

Ngày nay giảng con đường Thiêng Liêng hằng Sống là Bần Đạo muốn dìu dắt chơn thần của toàn thể con cái Đức Chí Tôn về với Đức Chí Tôn qua một hình thức thuyết đạo.
Con đường về với Đức Chí Tôn không phải dễ, mà cũng không phải về là tới liền. Muốn về với Đức Chí Tôn ta phải qua nhiều Cung nhiều Điện; mỗi cung chúng ta gặp một sự lạ, mỗi Điện chúng ta gặp một huyền vi khác nhau; phải đi từ Cung nầy đến Điện nọ, nên gọi là: "Dục tấn trên con đường Thiêng Liêng Hằng Sống". Về được với Đức Chí Tôn thì không còn hạnh phúc nào bằng!

Một kiếp tu chưa chắc đã về được với Đức Chí Tôn, muôn năm ngàn kiếp mà nếu thiếu tu, cũng không khi nào về được với Đức Chí Tôn, mấy anh mấy chị rán nhớ điều đó. Mà tu thì sao? Trong cửa Đạo Cao Đài nầy đã dạy tu rồi; nhứt là Bần Đạo đã giảng nhiều rồi, ấy là ta phải: Lập Đức, Lập Công, và Lập Ngôn đó vậy.

Bây giờ trở lại đề tài dục tấn trên con đường Thiêng Liêng Hằng Sống.

Như hồi nãy Bần Đạo có nói, nhờ hồng ân đặc biệt của Đức Chí Tôn, Bần Đạo được diễm phúc hội hiệp cùng Ngài; và trước khi hội hiệp cùng Ngài, Bần Đạo cũng đã được hội kiến cùng các Đấng Thiêng Liêng nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Kể từ đêm nay Bần Đạo không thuyết đạo; mà Bần Đạo chỉ nói lại, thuật lại những gì Bần Đạo đã thấy, đã nghe, đã biết khi gặp các Đấng nơi cảnh Thiêng Liêng kia; âu cũng là phương pháp giúp cho toàn thể con cái Đức Chí Tôn biết trước cảnh đó như thế nào, để nữa có về thì không bỡ ngỡ.

Bần Đạo nói, con cái Đức Chí Tôn nghe, rồi tưởng tượng như mình có một người hướng dẫn, và đi đâu thì người hướng dẫn giải thích đến đó; tỷ dụ như người ngoại quốc đến nước Việt Nam được một người hướng dẫn và giới thiệu các thắng cảnh Việt Nam đó vậy.

Mỗi chơn hồn nơi thế gian nầy, khi thoát xác đều phải qui tựu tại Đền Thánh nầy, và đi từ trong Đền Thánh nầy đến các cảnh giới khác. Tại sao phải vào Đền Thánh nầy mà không vào các Đền Thánh khác? tại vì Đền Thánh nầy tỷ như một trường thi: mỗi năm Chính Phủ mở một kỳ thi như thi tú tài chẳng hạn; địa điểm đã ấn định rồi, chỉ có thi nơi đó mới có giá trị. Tòa Thánh nầy cũng vậy, Đức Chí Tôn lập ra để con cái của Ngài: Lập Công, Lập Đức, Lập Ngôn mà về với Ngài.

Vào Đền Thánh tức là vào Hiệp Thiên Đài, đi từ Hiệp Thiên Đài đến Cung Đạo, nhưng muốn vào Cung Đạo phải qua Cửu Trùng Đài; mỗi nấc Cửu Trùng Đài là mỗi lần khảo dượt của các Đấng Thiêng Liêng, là mỗi lần cứu rỗi của Cửu Vị Nữ Phật, là mỗi lần cầu xin của các đẳng linh hồn. Toàn thể con cái của Đức Chí Tôn, đọc lại mấy bài kinh từ đệ Nhứt Cửu đến đệ Cửu Cửu, và Tiểu Tường đến Đại Tường thì biết.

Trong cửa Đạo Cao Đài có ba cách về với Đức Chí Tôn, hay là có ba cách lập vị mình:

* Cách Thứ Nhứt: Các chơn hồn mượn xác phàm phải đi theo phẩm trật Cửu Thiên Khai Hóa, tức là theo Hội Thánh Cửu Trùng Đài, dùng tài sức của mình lập công để đoạt Đạo; nghĩa là phải đi từ bậc Đạo Hữu lên Lễ Sanh, Giáo Hữu, Giáo Sư v.v.. Phải lập công từ Tiểu Thừa lên Trung Thừa rồi đến Đại Thừa; phải ăn chay từ sáu ngày mỗi tháng đến mười ngày, rồi ăn chay trường luôn. Phải "Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Các chơn hồn đi theo phẩm trật Cửu Thiên Khai Hóa còn phải có tự tín rồi tha tín tức là giác nhi giác tha đó vậy. Có tự tín rồi tha tín tức là tự độ mình rồi độ chúng sanh. Đạo Cao Đài khác với các nền Tôn Giáo khác là ở chỗ đó. Trước hết phải độ mình, độ gia đình mình rồi mới độ người ngoài thân tộc, tức là độ cả nhơn loại vậy. Mình phải học để mình hiểu Đạo, hiểu Đạo rồi nói sao cho thân tộc mình hiểu Đạo; chẳng những nói Đạo cho thân tộc mình biết mà thôi, mà phải nói Đạo cho toàn nhơn loại nữa. Mình học để biết Đạo là lập Đức, nói Đạo cho thân tộc mình biết Đạo là lập Công, độ toàn nhơn loại là lập Ngôn; có làm đủ ba điểm đó mới về được với Đức Chí Tôn bằng con đường Cửu Thiên Khai Hóa.

* Cách Thứ Hai: Lập vị mình theo Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng tức là theo Hội Thánh Phước Thiện, nơi đây ngoài việc ăn chay giữ gìn luật Đạo tùng theo Chơn Pháp của Đức Chí Tôn còn phải dùng Đức để lập vị mình. Muốn lập đức phải đi từ Minh Đức, Tân Dân, Thính Thiện, Hành Thiện, Giáo Thiện, Chí Thiện v.v..

Lập đức là gì? Là dùng sự thương yêu để cứu độ chúng sanh mà Đức Chí Tôn đã có nói: "Sự yêu thương là chìa khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh" là vậy đó.
Các đẳng chơn hồn tái kiếp đang chơi vơi trong "Tứ Diệu Đề Khổ"; muốn thoát khổ họ phả thọ khổ, có thọ khổ mới thắng khổ. Người đi theo Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng là dạy người ta thọ khổ để thắng khổ, muốn dạy người ta thọ khổ trước hết mình phải thọ khổ đã; muốn thọ khổ thì không gì hay bằng dùng Đức Thương Yêu: Cho nên bậc thứ nhứt của Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng là Minh Đức đó vậy.

Có thương yêu mới thọ khổ được, ta thương Cha Mẹ ta, ta mới chịu khổ mà bảo dưỡng Cha Mẹ lúc tuổi già; ta thương con ta, ta mới lo tảo lo tần nuôi nó khôn lớn; ta thương những người cô thế tật nguyền ta mới tầm phương giúp đỡ họ, mà tầm phương giúp họ là thọ khổ đó vậy.

Thọ khổ rồi mới thắng khổ; thọ khổ không phải một ngày, một bữa; mà phải thọ cho đến nơi đến chốn, nghĩa là nuôi Cha Mẹ cho đến tuổi già, lo cho con từ khi còn bé cho đến lúc nó tự lo cho nó được. Hai điều đó còn dễ, đến lo cho thiên hạ hết khổ mới khó. Vì khi lo cho người nầy, hết người nầy đến người khác và cứ như vậy trọn kiếp sanh mới gọi là thắng khổ, có thắng khổ mới về được với Đức Chí Tôn bằng con đường Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng.

*Cách Thứ Ba: là cách tu chơn hay là cách tịnh luyện cũng thế.
Những người đi trong Cửu Phẩm Thần Tiên hay đi trong Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng; khi mình đã nhận thấy là đã Lập Đức, Lập Công, Lập Ngôn rồi; hay là đã thọ khổ và thắng khổ rồi mà còn sức nữa, thì vào nhà Tịnh để được Tu Chơn. Nơi đây các vị đó sẽ được học phương pháp luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần tức là Tinh Khí Thần hiệp nhứt là Hườn Hư đó vậy.

Bây giờ trở lại Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống. Khi chúng ta qua khỏi Cửu Trùng Đài bước vào Cung Đạo, trực ngó lên trên, không thấy Bát Quái Đài nữa, mà thấy đại hải minh mông, thấy mờ mờ mịt mịt; Càn Khôn Vũ Trụ bao la không thể gì tưởng tượng được, bắt đầu từ lúc nầy chúng ta bước vào con đường Thiêng Liêng Hằng Sống rồi đó.

Nếu đi theo con đường Cửu Thiên Khai Hóa và con đường Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng thì khác. Vì đi hai con đường đó là khi ta mãn kiếp về với Đức Chí Tôn ta đi với cả Linh Hồn và Thể Phách. Còn hôm nay chúng ta về với Đức Chí Tôn bằng Chơn Thần vì Bần Đạo may duyên được đặc ân của Đức Chí Tôn cho phép nên mới đi riêng cũng như đi tắt vậy.

Chúng ta ngó lên thấy như đại hải minh mông, nhưng thật ra không phải đại hải mà là vòm trời của Càn Khôn Vũ Trụ, nơi xa xa khi ẩn khi hiện trong mây; một tòa nhà nguy nga đồ sộ, thoạt ẩn thoạt hiện mập mờ, vừa ngó thấy thì ta muốn đến ngay. Không biết làm sao đến, vừa lúc đó pháp thân ta như có một sức mạnh hút đi, không đi mà đến, đến mau như đi bằng máy bay vậy.

Đến rồi ngó thấy quần sanh nhơn loại muôn trùng, lớp đến lớp đi không biết bao nhiêu mà nói; nhiều như vậy, mà dường như không có tiếng động nào, thứ tự lớp lang có trật tự lắm. Nơi đó gọi là Cung Thánh, tức là Cung để cho các chơn hồn ra khỏi cảnh Thiêng Liêng đi tái kiếp mà cũng là nơi tiếp rước các đẳng linh hồn sau khi tái kiếp trở về.

Nơi đó giống như một trạm hàng không hay là trạm xe lửa vậy; kẻ đi người đến muôn trùng, đi thì buồn về thì vui, nhưng tất cả đều hiển hiện lên khuôn mặt của mọi người một sự lo lắng chung; đi cũng lo mà về cũng lo. Đi mà lo là lo không biết xuống thế gian có làm tròn bổn phận khi giao ước với Đức Chí Tôn không?! Về cũng lo là lo không biết phẩm vị mình ra sao, có còn hay mất; lo lắm, mọi người đều lo lắm.

Kỳ sau Bần Đạo giảng tiếp về Cung Thánh và Cung Thế Thiên Hành Hóa.

 

Đức Hộ Pháp

Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
Đêm 18 tháng 8 năm Mậu-Tý ( 21-9-1948 )

Như lời hứa hẹn của Bần-Đạo hôm qua, chúng ta rủ nhau dục tấn trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống.

Hôm qua chúng ta đã đến Cung Thánh, chúng ta đã hiểu sơ lược quần sanh nhơn-loại trên mặt địa-cầu nầy. Hôm nay Bần-Đạo dắt chư Hiền-Hữu vào nơi Cung Thừa-Thiên Hành Hóa, nơi đó Chư Thánh đang ngồi cân lường từ việc tương lai, từ trái địa-cầu nầy qua trái địa-cầu khác; nơi đó, không có buổi nào họ không tưởng đến tinh thần nhơn-loại trong Càn-Khôn Vũ-Trụ, từ nước nầy qua nước khác. Họ ngồi họ lập chương-trình định quyết, ai đến ai về để cứu vãn tình thế, không có buổi nào họ quên được, hạng nhứt hơn hết là Cung Thừa-Thiên Hành-Hóa. Chúng ta hiểu rằng Chư Thánh không có buổi nào họ quên lo cho số mạng của chúng ta. Ta phải dục tấn tới nữa, tới Cung Hành-Hóa. Ta giong ruỗi trên con đường xa xăm, vòi vọi, bởi trên đường đi đến Cung Hành-Hóa thiên hạ vắng vẻ, ít ai. Từ thử tới giờ muốn qui Tiên, muốn vị Phật, chẳng phải dễ gì đoạt đặng.

Từ loài người biết người, ta so sánh coi luật-pháp giúp nhơn-loại thành Tiên thành Phật như thế nào? Tức nhiên muốn thành Tiên thành Phật phải tu bao nhiêu năm? Chúng ta coi Đạo-Giáo tại sao không tăng tiến, chúng ta tính xem Đạo-Giáo đã giúp thiên hạ đoạt vị gì? Phong-Thần Trung-Hoa hay của Phù-Tang không giúp họ gì hết, chỉ làm họ tạo thêm bất mãn, luân-luân chuyển-chuyển, không giúp họ tạo được phẩm-vị gì hết. Phần đông họ nhờ quả kiếp họ định-vị cho họ mà thôi. Vì cớ chúng ta thấy trên mặt địa-cầu nầy nhiều vị oán Đạo-Giáo lắm.

Bần-Đạo nói điều ấy để quan-sát vì chúng ta phải dục tấn trên con đường vô cùng vô tận, kiếp sanh của chúng ta mặc cho thiên-hạ nói dễ mà khó gìn chơn-lý. Chúng ta đi đến nơi khác hơn cảnh náo nhiệt đã trải qua.

Trái lại, con đường chúng ta đi hôm nay thật là huyền-diệu đẹp-đẽ, an-nhàn làm sao. Ta vừa bước tấn tới thì thấy trong mình ta thơ-thới nhẹ-nhàng, dọc theo hai bên con đường ta đi ấy, cảnh nào cũng hữu tình; khi nhắc đến thế-gian làm ta buồn rầu, nhưng nơi đây không có cảnh nào làm cho các bạn thơ-thới bằng. Hễ nói Tiên thì có Tiên, mấy bạn biết sao không? Mơ mộng chẳng phải là chuyện không có. Ta đi tới mãi, càng đi sâu chúng ta thấy hưởng vui khoái-lạc vô cùng. Chúng ta sẽ đi tới cảnh đó, để tạo ra các Pháp Giới. Muốn đặng thì đặng vô biên huyền bí, chúng ta thấy các việc ta chưa đoạt đến mà dòm thấy mặt thiên-hạ đặng. Họ không phải lãnh-đạm với ta đâu, chờ ta đặng đón rước ta. Ta thấy trên khuôn mặt họ hiện ra đủ khôn ngoan, hiền từ, đức tánh Thiêng- Liêng lộng-lẫy không còn một mảy may phàm cách. Cái Phong-Thần vẫn còn huyền-bí vô biên, họ muốn thế nào thì đẹp cả đôi như vậy. Trái lại có một điều vẫn giữ Thể Pháp của họ cho dễ nhìn : Như chúng ta gặp Bát Tiên y như trong tượng vẽ không thay đổi mấy đặng thiên-hạ nhìn đặng. Bỡi trong thâm-tâm cao-siêu ấy cho chúng ta tìm phương đoạt tánh.

Chúng ta thấy địa giới không thua gì Càn-Khôn Vũ-Trụ, từ Thượng-Cổ đủ hết. Tôi xin nói không phải địa-cầu nầy, làm bạn với địa-cầu nầy mà thôi, mà nơi địa-cầu khác họ cũng đến làm bạn. Những Đấng đến đó họ ở địa-cầu khác, họ qua không phải ở địa-cầu nầy, họ ở địa-cầu về đoạt phẩm-vị cao siêu, chớ địa cầu 68 nầy Bần-Đạo nói: Ở địa cầu 68 nầy có loạn nhiều chớ không phải có con cái nhiều.

Bần-Đạo nói, họ đương nói chuyện mà trên đầu họ muôn ánh hào quang xẹt tứ tung ở không trung, họ đương nói chuyện ở đây mà họ điều đình tới địa-giới khác, cả Càn-Khôn Vũ-Trụ huyền bí vô biên không tả đặng, ấy là một phẩm-vị Thế-Thiên Hành-Hóa cầm quyền Tạo-Đoan, không có điều gì họ không làm đặng.

Cái quyền ấy như đàng cựu chúng ta nói: " Tiền trảm, hậu tấu ". Họ nịnh có, trung có; nhưng chúng ta muốn tìm bạn mực thước tinh-thần nghị lực trí não huyền bí, nơi Cung Thế-Thiên Hành-Hóa có cảnh nào mà không có. Ta thấy hoàn cảnh phủ phê Pháp-Giới, không sở năng nào thiếu thốn. Địa-cầu nầy muốn đủ thì họ bảo bọc cho tồn tại không thể thiếu Pháp-Giới nào.

Đức Hộ Pháp

Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
Đêm 8 tháng 9 năm Mậu-Tý ( 10-10-1948 )

Đêm nay Bần-Đạo giảng tiếp con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống, chúng ta đã đình bộ tại Cung Thế-Thiên Hành-Hóa, ngày nay giảng về Cung ấy.

Chúng ta đi tới nữa sẽ gặp cảnh ly kỳ nhứt là buổi giảng Đạo hôm nay, cốt yếu giảng cho cả Chức-Sắc Thiên-Phong là các phần-tử trong Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn đó vậy.

Chúng ta tiến tới mãi đi trên con đường đó xa vô cùng tận, không thể gì định thời gian. Chúng ta tới nữa, thử nghĩ chúng ta ngồi trên chiếc máy bay như thế nào thì đi theo cơ huyền-diệu-pháp như thế ấy. Ngồi trên cơ huyền-diệu-pháp tức nhiên là ngồi trên xe bí- mật của Đức Chí-Tôn để đến một đài sáng suốt chiếu diệu. Đài ấy có tám góc kêu là Bát- Quái-Đài không thể gì chúng ta tả ra với lời nói đặng, bỡi đài ấy huyền-bí biến hóa vô cùng. Nó có tám cửa, trong tám cửa chúng ta ngó thấy cả Vạn-Linh và Vật-Loại. Các hình thể Vạn-Linh đều xuất hiện, hình ảnh sáng suốt hiện ra hào quang chiếu diệu. Trong tám góc có tám cái cầu. Lạ thay cầu ấy không phải bằng cây ván, mà nó là tám đạo hào- quang. Cầu ấy bắt ngang bờ, dưới cầu ấy chúng ta ngó thấy dường như một Bích-Hải nước xao, sóng dợn như biển sôi nổi đó vậy. Trong tám góc chúng ta thấy đó, chắc cả thảy đều để ý nơi góc ta đến, thấy nhơn-loại đi tới đi lui nhiều hơn hết.

Lạ thay cầu ấy rất huyền-diệu, ai đứng đó được mới biết mình nhập vô Bát-Quái-Đài. Lúc để bước lên cầu, cầu ấy chuyển đi, làm cho chúng ta phải yếu, đi không đặng, chúng ta muốn thối bộ. Khi chân vừa bước tới chính mình ta ngó thấy dường như mình yếu đi, nhưng người nào bước tới cũng đặng.

Đi được nữa chừng nếu không đủ thiên-vị, hay vì tội tình oan gia nghiệt chướng chi mà chúng ta đã đào tạo nơi mặt thế nầy, chúng ta đi tới nữa cầu sẽ lọt xuống Bích-Hải. Lọt xuống đó rồi ta thấy hồi lúc còn ở trên cầu, chúng ta thấy hình ảnh còn đẹp-đẽ tốt tươi, hễ lọt xuống Bích-Hải rồi chúng ta thấy hình thù đen thui dị hợm lắm, ta không thể tưởng-tượng còn hơn loài mọi kia tối đen như vậy.

Tội nghiệp thay, khi ta thấy nơi ấy có nhiều bạn đồng tu với ta, những bạn ấy chung sống với ta ở trong lòng Đức Chí-Tôn đó vậy. Chúng ta may duyên được ngó thấy mình ngồi trên chỗ cao trọng để làm người khán giả, dòm thấy người bạn của chúng ta lâm vào cảnh ấy, dầu ai vững tâm thế nào tôi tưởng khó cầm giọt lụy đặng. Ngộ-nghĩnh có một điều là không khi nào sai chạy, Bần-Đạo dám quả quyết rằng, không có điều nào qua Pháp-Luật vô biên ấy. Chúng ta ngó thấy mỗi việc nơi thế gian nầy ta nên lấy làm bài học, đặng định tâm chúng ta, đặng tu tỉnh tinh-thần ta cho nên chí thiện, chí Thánh hầu xứng đáng làm phần-tử Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn.

Đừng mộng tưởng một hành tàng nào trong kiếp sống thế-gian nầy của ta có thể khuất lấp qua khỏi quyền Thiêng-Liêng của Đức Chí-Tôn được.

Ta minh-mẫn, sáng suốt, biết phân biệt tội phước đặng định số phận Thiêng-Liêng, quyết hẳn rằng không có điều nào khuất lấp Luật-Pháp Thiêng-Liêng của Đức Chí-Tôn đã định cả.

Bần-Đạo may duyên đặng thấy hình trạng ấy, chúng ta không thế gì định hành-tàng người nầy hay, người kia dở, người nầy nên, người kia hư. Nhiều điều ta ngó thấy trong cảnh nầy khác hẳn với khuôn luật vô hình, chúng ta chẳng thế nào đoán trước được. Bần-Đạo thấy người bạn nhờ ơn Thiêng-Liêng của Đức Chí-Tôn, ơn riêng ban cho người bạn ấy. Người ấy có Người chí thân là một Đấng cầm quyền trọng hệ trên Hư-Linh tức là Diêu-Trì-Cung Thất-Nương, Bần-Đạo nói rõ Người ấy là Vương-Quang-Kỳ chú ruột của Thất-Nương vậy. Người mở Đạo mà chẳng biết Đạo là gì hết, đi theo một tư-tưởng của nền chánh-giáo do Đức Chí-Tôn định quyết tư-tưởng của Người ấy, và cả hành-tàng nếu chúng ta thấy, ta sẽ lên án là Tả-Đạo Bàn-Môn chắc hẳn vậy.

Lạ thay ! Khi Bần-Đạo quay lại dòm thấy nhiều bạn rơi xuống Bích-Hải khóc lóc, còn người đó bận Thiên-Phục, giống hình đội mão Giáo-Sư, lại áo tốt dắt vai, mão cầm nơi tay bận quần cụt ở trần đi ngật-ngờ, ngật-ngưỡng cười một mình không biết cười cái gì, đi ngang qua Bát-Quái-Đài như không vậy.

Ấy các bạn đủ biết, dầu hành tàng của người bề hữu-vi thấy trái hẳn nền chơn-giáo Đức Chí-Tôn mà trọn tâm tín-ngưỡng Ngài ta đoán không đặng, người thọThiên-Phục áo mão dầu không thế gì mặc vô được, duy cầm nơi tay đi ngang vô Bát-Quái-Đài không quyền-lực nào ngăn cản được. Chúng ta đến lấy bài học ấy, đặng để trong tâm, đừng phê- bình công kích. Thoảng ta có phận sự dạy-dỗ để dìu-dắt cả các phần-tử Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn và chúng ta có được quyền lấy oai-nghiêm của mình tìm phương thế nào dạy-dỗ đặng hiểu biết về phần hình-thể và phần hồn của toàn con cái Đức Chí-Tôn; ngoài ra không có quyền gì công kích tự kiêu, mình bất quá là một phần-tử trong Thánh-Thể của Ngài mà thôi, không đặng quá tự-tôn tự-trọng.

Cửa Thiêng-Liêng chúng ta có những linh hồn, thoảng may duyên tạo nhiều linh hồn nữa, tức nhiên ta có quyền năng dìu dắt con cái của Đức Chí-Tôn trở về trong đường lối khai phá của Người, ấy là phận sự của chúng ta đó.

Phận sự, khi nào gọi đến phận sự thì không có quyền sở hữu chi riêng của mình nơi đó; chẳng phải quyền hành riêng tư của mình, thì không có lý do đượợcó lý do đượi riêng của mình nơi đó; chẳng phải quyền hành riêng tư của mình, thì không có lý do được tự-kiêu. Tự làm phận sự, nếu nói chánh đáng nữa thì bất quá là cái máy Thiêng-Liêng của Đức Chí-Tôn, mạnh yếu tại nơi người điều khiển, không phải tại chúng ta có quyền tự-chủ tự-kiêu gì mà đọat được. Chúng ta có quyền thay thế làm Thầy, làm Cha của con cái Đức Chí-Tôn, chúng ta không có quyền làm chủ sự đày đọa, bắt họ làm nô lệ. Chẳng phải vì công- nghiệp vĩ-đại hay là công-nghiệp tối cao của mình mà trở lại khi rẻ các chơn-linh xuống thế-gian nầy, nếu các bạn không giữ cho nó công-bình ấy cũng không phương thoát khỏi tội đó. Bỡi nó là phương-pháp trị loạn vậy.

Có điều thảm trạng hơn hết là có nhiều kẽ đi đến nơi, biết mình đi không được đến bờ, khóc lóc rồi trở lại. Cả thảy tưởng-tượng coi, họ cốt yếu tái kiếp làm người để trả oan- nghiệt của họ là vì lẽ đó.

 

Đức Hộ Pháp

Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
Đêm 12 tháng 9 năm Mậu-Tý ( 14-10-1948 )

Bần-Đạo giảng tiếp con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống. Kỳ rước Bần-Đạo đã đi đến Bát-Quái-Đài, tưởng cả thảy đều nhớ. Hôm trước Bần-Đạo chỉ giảng về bài học của chúng ta khi vượt qua khổ hải để đến Bát-Quái-Đài.

Hôm nay, Bần-Đạo giảng tiếp tại sao chúng ta lên Bát-Quái-Đài bằng con đường khác hơn con đường những kẻ đã đến. Vì những kẻ khác bị một cây cầu ngăn cách giữa khổ hải và Bát-Quái-Đài, cầu ấy buộc họ không thế gì đến Bát-Quái-Đài phải thoái bước, sự thảm trạng không thể gì tả được. Sự thối bước đó diễn tiến trước mắt, chúng ta không có người nào cầm giọt lụy của mình đặng, ngó thì đau khổ vô ngần.

Vậy kiếm hiểu coi Bát-Quái-Đài ấy là gì? Phải chăng là Tòa-Tam-Giáo của Đức Chí-Tôn do Thánh-Ngôn để lại. Chúng ta quan-sát coi trạng thái. Muốn đến Bát-Quái-Đài chúng ta phải qua ao Ô-Trì, chúng ta thấy Bát-Quái-Đài ở dưới trồi lên trước mặt chúng ta; chúng g ta; chúng có cửa Phật mà thôi. Cả bảy cửa kia Quỷ giữ không cho ai qua lại, không có lực quyền nào đi ngang qua đặng. Ca dòm phía dưới thấy Đại-Hải mênh mông, nước cuồn-cuộn xanh như biếc, sóng dợn ba đào, mỗi làn sóng có đề chữ " Khổ ". Chúng ta chia ra đi trên ấy, chúng ta thấy dợn hào-quang nổi lên dữ tợn lắm! Mấy chữ lớn là: Sanh, Lão, Bệnh, Tử. Làn sóng dợn lên rồi hạ xuống, mỗi làn đều có một chữ " Khổ ".

Chúng ta thấy đau khổ trong buổi sanh, thấy làn sóng rồi chúng ta thấy khổ nhục, khổ dữ lắm! Mỗi làn sóng đều thấy khổ. Thử nghĩ Đại-Hải như thế nào thì khổ hải là cả nước của chúng ta như thế ấy.

Nếu chúng ta xin phép Đức Chí-Tôn vô đài ấy, chúng ta biết trước rằng đó là Tòa Tam- Giáo Ngọc-Hư Cung, chúng ta được hiểu trước hết, nếu Đức Chí-Tôn cho vô thì chúng ta chẳng phải đi ngang qua cầu như những người kia vậy, con đường ta đi khác hơn.

Chúng ta tưởng-tượng rằng đường Bần-Đạo dắt cứ đi, đi trên con đường Hằng-Sống. Con đường nầy khác hẳn với con đường kia, chúng ta giong ruổi trên con đường Thánh, cho nên chúng ta muốn đến tức nhiên chúng ta sẽ đến.

Chí-Tôn có Bát-Quái-Đài, chúng ta ở ngoài thấy mênh-mông hào quang chiếu diệu, một nhà tám cửa. Khi chúng ta vô rồi, đài ấy biến mất, chỉ còn Càn-Khôn Vũ-Trụ chung quanh chúng ta. Đài ấy vẫn xoay, xoay mãi; mà ta biết rằng đài ấy là Tòa-Tam-Giáo. Chúng ta không thấy trạng thái cái hình thể nó ra sao, khi chúng ta đến hào quang chiếu diệu xông lên làm như ngọn lửa vậy.

Lửa ấy chẳng phải là lửa thật, nó là hào quang cho ta thấy trước rồi nó biến mất đi. Kế thấy một cây cân Công-Bình hiện ra trước mắt chúng ta , rồi cũng từ từ biến mất. Chúng ta thấy mình chẳng khác nào như khán giả đứng trước đài kia coi cả kiếp sanh chúng ta từ trước, nó sẽ hiện lại trước mắt chúng ta, không điều gì sót, phải chăng kinh Phật gọi nơi ấy là Minh-Cảnh-Đài, chớ không phải kiếng. Trước mặt chúng ta, chúng ta thấy khi trước chúng ta làm những việc gì nay nó sẽ chiếu lại cho xem chẳng khác gì như mình xem tuồng hát bóng vậy.

Mỗi khi mình hành động gì trong kiếp sanh khi xưa, hôm nay đều ngó thấy trước mặt; và cân ấy tùy theo nên, hư, tội phước mà hiện tượng ra hết thảy; quyết đoán một cách công-bình không sai chút nào hết. Phải chăng đó là huyền-bí của Tòa Thiêng-Liêng ấy?

Vậy hành tàng đã có trước mắt, luật Tam-Giáo chẳng hề sai chạy. Kiếp sanh đã làm gì, Đời hay Đạo, mặt Luật Thiêng-Liêng không sót một điều. Chúng ta muốn coi cái Bí-Pháp sửa trị ra sao, đi vô đó thì biết. Những người khác họ đi đường nào chúng ta không ngó thấy, khi vô trong Đài rồi, họ cũng như mình, đồng thể như mình; nếu họ vô rồi không phân biệt họ được nữa. Ngó thấy quyền-pháp trong Đài ấy tình trạng rất ngộ-nghĩnh, hào quang chiếu diệu. Khi bước lên cây cầu đứng rồi, thấy chung lộn với nhau, vạn-vật người đi ngang qua đấy. Có một điều ngộ-nghĩnh là chúng ta thấy Nam hóa Nữ, Nữ hóa Nam không còn hình ảnh nữa. Đến bây giờ trong đài ấy hiện ra hai ánh lửa: Nếu người nào thiếu lòng thương yêu không biết thương mình, không biết thương người - nếu phạm vào luật thương yêu ấy thì dầu Nam cũng phải hóa Nữ; Nữ đã trọn kiếp tu, thật hành nghiêm luật thương yêu đó thì đặng hóa Nam. Có một điều ta nên để ý là không biết lúc nào họ ra cửa; khi họ ra không biết họ ra cửa nào, chúng ta ra ra chỉ biết mình thôi, không thể gì đoán được mấy người kia. Nếu có đoạt phẩm-vị họ chỉ biết lấy họ mà thôi. Họ thành Tiên, thành Phật cũng tại đó. Khi họ ra Nam hóa Nữ, nếu họ có tội tình gì thì bắt họ phải trở lại đầu kiếp.

Dầu cho hình luật định họ phải đầu kiếp, nhưng họ còn quyền duy chủ của họ nữa, không có quyền luật nào buộc họ phải đầu kiếp liền được. Họ đặng vô Đài ấy 1200, 2400 tới 3000 năm ở đó an nghĩ vui hứng. Ngày giờ nào biết ta có thể đầu kiếp trở lại đặng chuyển Pháp đến giáo Đạo, hành Đạo - chừng ấy chúng ta ra khỏi Niết-Bàn đặng đầu kiếp. Ngày ấy chúng ta định cho chúng ta chớ không phải Ngọc-Hư-Cung định cho chúng ta, ta có quyền tự chủ khi đã định nơi cõi Hư-Linh, còn khi mang xác phàm nầy rồi, thì mình không định được nữa!

Có nhiều Đấng Thiêng-Liêng đến trọn một kiếp sanh mà không làm gì được lại phải đầu kiếp. Ấy vậy chúng ta nên kể trong sử của chúng ta từ thử đến giờ, nhứt là Đạo-Giáo họ để tâm-thần tìm cho nhơn-sanh một thuyết, thuyết ấy không đúng với chơn-lý Thiêng - Liêng chút nào. Họ lập thuyết là phân chúng sanh ra Nam Nữ, làm ra khuôn-khổ " Nam Nữ thọ thọ bất thân ", cả nền Tôn-Giáo tạo ra Pháp-Giới bất công là Nữ bao giờ cũng chịu thiệt thòi hơn Nam.

Đạo vợ chồng ở trên thế gian nầy chúng ta nên cẩn thận để ngày kia về đến Bát-Quái- Đài khỏi thất lỗi với vợ. Nếu người vợ đối tròn bổn-phận với mình thì họ được hóa Nam, chừng ấy là người bạn mật thiết với chúng ta. Thoảng như chúng ta làm sai với bạn chúng ta, thì ngày kia bạn ta trách ta rằng: Tôi xuống trần chung sống với bạn, những cảnh khổ bạn không dìu dắt tôi, bạn còn hất-hủi tôi nữa. Câu trách ấy ta phải chịu không thể gì trả lời được.

Vì cớ cho nên Phật-Giáo cho Nữ đồng quyền Nam, tôi nói quả quyết rằng: Chừng nào chúng ta thấy nơi mặt thế nầy đoàn em Nữ phái mình biết sợ, kiêng nễ Pháp-Luật thì nó cũng như Nam vậy. Nếu bạc đãi nó, hủy bỏ nó, không đồng sống dìu-dắt nhau, ngày giờ đến Bát-Quái-Đài nó hóa Nam, dòm lại nó là người bạn quí nhứt của mình - cũng chịu đau khổ trọn kiếp sanh - chúng ta tưởng lấy làm đau đớn không giúp được , trái lại còn khi rẻ gớm ghiếc, chúng ta đến sẽ thấy chỗ đó không còn Nam Nữ nữa.

Hư-Linh kia quả quyết rằng: Có nhiều bạn Nam ta quen biết, đầu kiếp Nữ tại thế-gian nầy, không biết là bao nhiêu, nhiều lắm! Có các Đấng cao siêu đến Ngươn Tứ-Chuyển nầy đặng tạo hình các chơn-hồn. Họ đến tại thế đặng chuyển thế. Dầu Nam Nữ ở các Cung cũng đến tại thế gian nầy, làm đàn bà đặng thay các sắc dân ấy để chuyển thế.

Chơn thật nơi cõi Hư-Linh kia không phân biệt Nam Nữ. Đức Chí-Tôn nói, Nam không được lấn quyền hành hơn Nữ, Nam Nữ đều con của Đức Chí-Tôn hết. Nói như thế ta biết không có gì lạ.

Đức Hộ Pháp

Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
Đêm 19 tháng 9 năm Mậu-Tý ( 21-10-1948 )

Đêm nay chúng ta rủ nhau dục-tấn trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống. Trước Bần-Đạo đã đắt chư Hiền-Hữu, chư Hiền-Muội vào Bát-Quái-Đài chung chịu với các bậc Quỉ-Nhân hay Nguyên-Nhân. Tưởng khi chúng ta vào đó, mỗi đứa chắc hẳn rằng sẽ được gặp nhiều người bạn quen có thâm tình yêu mến chúng ta. Trước khi chúng ta ra khỏi Bát-Quái-Đài rồi không còn hình-thể nhơ-nhớp như trước nữa, bỏ bảy khí chất tạo thành hình-thể chúng ta.

Nhờ đi ngang qua Bát-Quái-Đài, bước Thiêng-Liêng ấy, Bần-Đạo tả cho chúng ta rõ con đường đi ấy không phân biệt Nam-Nữ; còn cả thảy hình-hài thể-chất của chúng ta, nhờ huyền-diệu ấy mà tiêu hủy, nó biến thành đạo hào-quang. Chúng ta dòm lại, Bần-Đạo quả quyết rằng chúng ta tưởng như thể xác nầy là gió bụi. Chúng ta không còn mặc một mảnh áo hay mảnh vải gì khác nữa, chúng ta sẽ trầm lộn với đạo hào-quang vinh diệu kia che phủ. Khi chúng ta ra khỏi Bát-Quái-Đài rồi thấy vui sướng không tả được. Phải chăng nơi ấy là nơi chúng ta đã đoạt đặng Thánh-Thể ta; nhà Phật gọi Tiên-Phong Đạo-Cốt. Khi ra khỏi Bát-Quái-Đài, các bạn chúng ta ở trong Bát-Quái-Đài không có người nào là không bạn với chúng ta, chẳng bao lâu nữa các vị ấy là thân nhân của chúng ta. Đây rồi chư Hiền-Hữu, chư Hiền-Muội còn ba điều vui hơn nữa; ba hạnh phúc mà chúng ta không bao giờ hưởng được nơi mặt thế nầy.

Chúng ta đi, chúng ta dục tấn tới con đường Thiêng-Liêng ấy, con đường nầy là con đường chúng ta phải đi. Duy có một điều đi trên con đường chúng ta đã đi, con đường quen nầy chưa gặp trong Bát-Quái-Đài có người nào ác hết - dầu biết hay không biết chẳng hạn - khi về cảnh ấy, không Đấng nào xa lạ với chúng ta, không phải một loài với chúng ta; mà lại trong Bát-Quái-Đài có cả thân nhân chúng ta đó vậy.

Một điều chúng ta sẽ ngạc nhiên hơn hết là : Chúng ta đi trên con đường Thánh nầy thấy những hạng lãnh-đạm ấy cũng mừng rỡ, cũng vui thấy nhau vậy; nhưng không bằng những người đi qua cầu Bát-Quái-Đài rồi. Khi chúng ta tưởng-tượng đến các Đấng ấy thì họ sẽ nghinh tiếp mừng rỡ chúng ta, mừng rở một cách nồng-nàn như người thân của họ vậy, và họ còn ứa lụy nữa. Trong Đài tiếp rước mừng rỡ tôn trọng ấy, chúng ta chưa thấy vị Đế-Vương nào tại thế-gian nầy mà hưởng được đặc ân ấy !

Chúng ta tự hiểu rằng: Cõi Thiêng-Liêng Hằng-Sống kia không phải để rước những vị Chí-Thánh mà thôi, mà cảnh Thiêng-Liêng vinh diệu kia thoảng chúng ta biết tự tu thân giải oan nghiệt, tội chướng thì đoạt đặng chơn huệ tinh-thần của chúng ta vậy. Một điều chúng ta đừng tưởng họ ganh-ghét chúng ta, sự vinh-hiển của họ có bao nhiêu, thì mình cũng được vui hưởng bấy nhiêu như họ vậy. Tới cửa đó hết sự ganh-ghét, giành-giựt hiềm thù với nhau. Cảnh đó là cảnh vui hưởng hạnh-phúc chung với nhau. Chúng ta thấy vật loại cũng có tình đời với chúng ta; có một cảm-tình không thể gì tả đặng, như loài chim chóc, thú cầm cây cối đều có thể trong tinh-thần của chúng ta một thâm tình quen biết nồng-nàn đặc-biệt với nhau. Con người ở thế gian nầy gọi Nam-Thanh Nữ-Tú; nhưng Bần-Đạo quả quyết rằng: Thế gian nầy không có; nếu có, thì cũng chẳng đẹp bằng. Ở trên đó, không người nào không xinh. Nơi cảnh ấy không cần gì ăn mặc, họ muốn thì hiện tượng có. Tỷ như mình muốn cái gì đẹp thì có cái nấy, nhứt là mấy cô nhỏ muốn chi đặng nấy. Cái kiếp chúng ta nơi cảnh nầy là cảnh giả. Chúng ta đoạt ý muốn một điều vui hơn nữa là những người thiếu-thốn nơi mặt thế nầy, nếu họ đoạt vị được, thì ngày đó họ vui hưởng biết bao nhiêu !

Chúng ta đến nữa, xa xa dòm tới một phương trời xanh thấy một Vân-Động đẹp vô- biên vô-giới; không thể tả bằng mực hay bút nghiên được. Vân-Động ấy hữu tình nồng- nàn với chúng ta làm sao đâu!

Chúng ta thấy xa xa kia phất-phới một cây phướn theo chiều gió phất-phơ, màu chiếu diệu đầy hào-quang, mà cây phướn ấy lại quen; phướn ấy là tình cố hữu với chúng ta nữa.

Bần-Đạo dám nói chắc rằng những kẽ nào gốc-gác ở Tây-Ninh nầy đã lìa khỏi xứ sở lâu rồi, đến khi về tới Trảng-Bàng trực ngó lên thấy hình dạng Núi Bà xanh ngắt kia, bắt nhớ lại mọi cảnh đáo để. Bần-Đạo nói cái tình của mình đối với cây phướn trước mặt kia, có muôn triệu sự mến yêu. Bỡi vậy nên chúng ta ngó thấy, thấy rồi dường như kẻ ấy muốn chạy sao cho mau đến Tây-Ninh, đến đặng thấy Tòa-Lầu nguy-nga chớn chở đẹp đẽ vô cùng. Tại đó cũng biến hóa vô biên nào nhà nghề, nào nhà kiến-trúc, làm cho cả tinh-thần phải gẫm nghĩ xem mê man, không có họa đồ nào vẽ được hết. Chúng ta thấy bước qua nền bên kia, chúng ta đi đó chẳng phải cát đất, nó là hào-quang chiếu diệu. Chúng ta vô Tòa-Lầu-Các ấy đủ các hạng người chúng ta quen thuộc hồi trước.

Bần-Đạo chẳng cần nói cả thảy cũng đều biết, nội bao nhiêu đó chúng ta sẽ biết cảnh đó thế nào, chúng ta được gặp bạn thân yêu không còn e lệ Nam Nữ nữa. Kìa bạn ôi! Bạn thân mến, không có gì ngần-ngại nữa. Tình thương chúng ta sống lại , ân-ái chập chồng, anh em xác thịt. Đối với cảnh ấy, nó không nghĩa lý gì hết!

Bần-Đạo nói rằng cái luật thương yêu ấy, nó hiện tượng ra không phải vô nhơn-đạo, nó là hiện tượng tình hạnh-phúc lớn lao, làm cả mấy người dòm thấy hiểu hạnh-phúc, vui hưởng cái tình ấy, họ để cái thâm tình nơi cảnh ấy. Có một điều quyền-năng vô tận mà chúng ta không hưởng được - chúng ta không thể hưởng được cảnh ấy nơi thế-gian nầy. Ngộ-nghĩnh thay, tỷ như chúng ta đã lưu-lạc cõi xa, khi Bần-Đạo về đến thấy cảnh ấy, thấy nó nồng-nàn thâm-thúy biết bao nhiêu. Họ mừng rỡ tiếp rước, Bần-Đạo nói: Nơi cảnh ấy chúng ta muốn gì đều có trước mắt, nên giờ khắc nầy chúng ta vừa tưởng muốn người bạn nào thì sẽ có người bạn ấy ngay. Bần-Đạo căn dặn một điều đặng ngày sau về cõi Thiêng-Liêng khỏi ân-hận là Vợ-Chồng với nhau, Bần-Đạo nói đồng ý-kiến hay không là về tâm-lý, để về đến cõi ấy rồi ân-hận.

Bần-Đạo khó tả được vì sự thương yêu của họ còn mặn nồng yêu ái hơn nữa. Những hạnh-phúc đã qua, họ rớt giọt nước mắt đau thương. Trong thế-gian làm người một trăm năm, còn cảnh kia, đời đời kiếp kiếp. Chúng ta đi tới vô cửa, họ sẽ dắt chúng ta đi tới nữa thấy vui hớn hở vào thân ta. Không biết vui hưởng thế nào, có phải chăng là nhờ nơi cửa Đạo.

Gọi là Cực-Lạc Thế-Giới, ngoài cảnh đó ra Bần-Đạo chưa tìm được cảnh nào hơn cảnh ấy, chỉ có nơi đó mà thôi. Phật gọi là Cực-Lạc Thế-Giới.

Chúng ta vào trong cũng thấy một cái Ngai, đến trước Ngai vinh diệu ấy, chúng ta vừa dòm lên dường như có một Đấng, Đấng ấy chúng ta có thể gọi là Bà Già. Nếu chúng ta tưởng một vị Tiên-Nữ, thì có một vị Tiên-Nữ. Muốn thấy già thì già, muốn thấy trẻ thì trẻ rất huyền-diệu, chúng ta được vào, vô thấy bà Mẹ mình.

Ông Nội dòm lên cũng thấy Mẹ; cháu nội dòm lên cũng thấy mặt Mẹ. Bỡi vậy cho nên cả tình ái của mình đều thấy cả nghiệp năng yêu-ái của mình. Ở thế-gian nầy, Mẹ hay chửi mắng rầy la, khi chúng ta về cảnh ấy thấy người Mẹ có nhơn tình làm sao đâu, chứ không phải như các bà Mẹ ở thế-gian nầy vậy.

Hễ khi thấy Bà rồi, cả tình ái xưa không thể gì tả ra hình-trạng được, rồi tình ấy buộc chúng ta dầu đứa nào cứng đầu bao nhiêu mà khi thấy cái thâm-tình cao trọng của bà Mẹ cũng phải đổ lệ rơi châu. Bần-Đạo dám chắc có nhiều người tin Đạo, hiểu Đạo mà chưa biết. Thử hỏi Đức Di-Lặc Vương-Phật, dầu Ngài đến bực cao trọng bao nhiêu cũng là con, nghe ra dường như Chưởng-Quản các nơi do quyền của Đức Di-Lặc; còn Phật-Mẫu nơi Cung Tạo-Hóa-Thiên là Mẹ của chúng ta. Có một điều Bần-Đạo chẳng dám nói. Muốn biết cái tình Mẹ yêu con như thế nào? Chúng ta thấy tượng của Phật-Mẫu, Đức Di-Lạc quì đàng sau lưng chấp hai tay đưa lên đó, dầu Bần-Đạo không tả hai nghĩa lý ấy, cả thảy cũng đều hiểu quyền-năng bực nào, nghĩa là Mẹ cũng vẫn là quyền Mẹ.

Trái ngược lại, cầm quyền vi chủ mà Bần-Đạo làm con phải hiếu hậu vi tiên, quyền năng ấy cũng để là Mẹ.

 

Đức Hộ Pháp

Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
Đêm 26 tháng 9 năm Mậu-Tý ( 28-10-1948 )

Hôm nay Bần-Đạo giảng tiếp dục tấn trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống.
Trước khi tiếp, Bần-Đạo nói rõ cái chí hướng của Bần-Đạo thế nào mà từ trước đến nay Bần-Đạo giữ căn bản đặng rủ các bạn đi cùng Bần-Đạo trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống.

Cả thảy các bạn Nam cũng vậy, Nữ cũng vậy . Có một điều làm cho Bần-Đạo ái ngại lo-lắng hơn hết: Trước khi mở nền Đạo, đã có định phận đặng đi độ những chơn-hồn Thánh-Thể của Đức Chí-Tôn, nhứt là mấy anh mấy chị niên cao kỷ trưởng. Bần-Đạo lo- lắng với nhiều điều hơn hết; vì cớ cho nên Bần-Đạo giảng dục tấn trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống, cốt yếu là để cho có địa vị trước mặt cả Thánh-Thể Đức Chí-Tôn, nhứt là mấy anh mấy chị lớn biết con đường đi, hiểu rõ thấy trước mặt dường như mình đã biết rồi. Định tinh thần, đừng mờ mệt, áy náy, sợ sệt, ngập ngừng. Đường mình đi quen, đặng tức nhiên mình sẽ đi mạnh bước trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống.

Bần-Đạo cùng các bạn kỳ trước đã ghé nơi Cung Tạo-Hóa-Thiên tức Tòa Thiên-Cung Phật-Mẫu là Diêu Trì Cung. Bần Đạo có nói một điều làm cho chúng ta nên suy nghĩ nhiều là: " Huyền-bí vô biên của Phật-Mẫu ".

Bần-Đạo nói sơ lược quyền năng thế nào, mà khi chúng ta vào kiến diện Ngài, ta ngó trên mặt Ngài, ta thấy mặt Bà Mẹ ta, sanh ta, đương như buổi sống, đương lo buổi trở về. Bần-Đạo tưởng ngó thấy Bà Mẹ sanh Bần-Đạo, tưởng cả thảy cũng đều ngó thấy Người Mẹ của họ vậy.

Nếu lấy theo cái trí học tưởng-tượng, không biết con mắt Thiêng-Liêng có chiếu hình Mẹ ta chiếu diệu ra không? Hay là huyền-điệu vô biên của Phật-Mẫu cho chúng ta thấy như vậy.

Bà Mẹ hình hài chúng ta đây, là nhơn-viên của Đức Phật-Mẫu bên phái Nữ đó. Phái Nữ ráng để tâm nghe điều ấy, là nhơn-viên mật thiết của Đức Phật-Mẫu, trước khi để tại thế-gian nầy một hình-hài vào lòng mình sản-xuất, tức nhiên là Phật-Mẫu đã giao quyền năng Tạo-Đoan trong tay mình đó vậy.

Chẳng cần nói cái vinh-diệu của người đàn bà khi người con ấy nên người, biết dục tấn trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống.
Mình về tại Cung Diêu-Trì, dòm lên thấy tượng ảnh của mình không vinh-diệu nào bằng cái vinh-diệu ấy. Có điều trọng hệ là dầu Nam, Nữ cũng vậy ráng giữ một điều nầy: Coi chừng đừng thất hiếu với Cha-Mẹ. Ngày mình ngó thấy hình ảnh của Đức Phật-Mẫu thì thấy người Mẹ nhơn từ, hiền-hậu vô cùng, hạnh-phúc mình được hưởng đó. Còn trái ngược lại, nếu ta thất hiếu, thì dòm vào hình ảnh của Phật-Mẫu, ta thấy nét mặt nghiêm- nghị và lãnh đạm, chúng ta sẽ hết sức đau khổ đó!

Bây giờ chúng ta đi vô đến cảnh ấy, muốn cái gì đặng cái nấy, vì cớ cho nên Đức Phật Kim-Cang, khi đoạt Đạo, có đi vào cảnh ấy có để một câu: " Thơ tượng hành khúc " là Chơn-Thần ấy vậy. Bỡi nơi cảnh ấy, hễ mình tưởng cái gì, muốn cái gì thì được cái nấy. Nếu mình chưa thỏa mãn trong mấy ngàn kiếp sanh thuở trước, mà khi mình được hữu hạnh hữu phước về đến Phật-Mẫu được, thì chừng ấy chúng ta muốn cái gì, nó sẽ hiện ra để làm cho chúng ta thỏa mãn cái tinh thần, cũng như cái hạnh phúc ở thế gian nầy vậy.

Loài người tìm mãi hạnh-phúc của kiếp sanh, mà trong kiếp sanh không bao giờ đoạt được. Chúng ta ngó thấy khi trước trong Đạo-Sử để lại, nếu chúng ta muốn biết Đạo Minh- Châu chúng ta đều ngó thấy trước mắt, có một điều chúng ta có đi thì mới biết. Còn tánh tọc mạch nghe nói nơi Diêu-Trì-Cung có Vườn Ngạn-Uyển, mà Vườn Ngạn-Uyển ấy ra sao? Trong kinh luật có nói: " Mỗi mạng sanh con người đều có một bông nở trong Vườn Ngạn-Uyển, mỗi khi bông ấy héo rụng tức nhiên là có một người chết ". Tại thế nầy gọi là chết chớ không phải chết, loài người không bao giờ chết cả. Chết ấy là chúng ta thay một cái áo để ngoài, vào nhà tắm, tắm rồi ta mặc lại nữa! Sự sống chết như thay đổi cái áo kia vậy thôi. Trước mắt chúng ta, hiện-tượng hào quang chiếu diệu một vườn hoa đẹp-đẽ đủ màu, vườn hoa ở cảnh Thiêng-Liêng ấy không phải như vườn hoa ở thế-gian nầy đâu. Bông hoa Thiêng-Liêng ấy sẽ sống một triệu lần do nơi quyền-năng biến hóa của nó, và nó sẽ hiện-tượng biến hóa trước mặt ta vô cùng tận vậy. Bỡi vì, nó thay đổi màu sắc rực- rỡ vô biên, cho nên mỗi phen kiếp sanh tại thế nầy, đường tấn hóa trên con đường trí- thức tinh thần, mỗi khi nhơn-loại tấn triển lên thì Vườn Ngạn-Uyển nó sẽ đổi hình đổi tướng một cách đẹp-đẽ vô ngần.

Nghe trong kinh luật nói: Nơi ấy là nơi Vạn-Linh hay nơi Ngọc-Hư-Cung hoặc là nơi Cực-Lạc Thế-Giới, nếu chúng ta tưởng-tượng thì nó sẽ hiện-tượng ra trước mặt chúng ta, có một điều là kẽ tọc mạch muốn đi tới đặng biết cái hướng của mình thế nào.

Khi dòm lại thế-gian phía sau lưng hiện-tượng trước mặt chúng ta dường như con sông đại-hải và thấy bờ sông bên kia người ta đứng muôn trùng thiên số không thể nào đếm được. Còn phía xa mù tịt bên bờ sông đông đảo vô cùng, mắt ta không thế nào trông thấy và đếm được. Chúng ta thấy xa xa thiên hạ vô số bên kia bờ họ đương khóc than đau khổ vô cùng. Có một điều làm người tọc mạch ngạc nhiên hơn hết là không biết họ sao mà đông đảo. Bên bờ sông bên nây Nam cũng có, Nữ cũng có; bên bờ sông bên kia Nam cũng có Nữ cũng có, nhưng họ cứ dòm chừng nhau ở bên mé Thiên-Cung. Họ buồn rầu như lo lắng, như đợi chờ ngày tái kiếp, muốn đi nữa đặng mà sống. Thương thay người mé bên kia sông dòm qua mé bên nây sông, thấy họ thảm đạm khóc lóc, buồn rầu không biết bao nhiêu mà kể.

Nam cũng vậy, Nữ cũng vậy, ráng để tâm mà nghe một điều nầy là một điều bí-mật trọng yếu cho kiếp sanh nên hiểu kìa. Ở mé bên nây thiên hạ hào-quang chiếu diệu đẹp- đẽ vô cùng, còn ở mé bờ bên kia sông thấy hình thể họ khô khan, đau thảm, tiều-tụy và buồn rầu.

Hỏi vậy bên nầy làm gì dòm bên kia lại khóc, bên kia dòm qua bên nây lại đau khổ? Đó là luật thiên-nhiên vẫn có một. Vì luật thương yêu mà những người đứng bờ sông bên kia dòm qua, bên nây dòm lại - là những người trước kia đã có tình thương yêu với nhau mà những khi có sự trắc trở nhơn tình nên họ bị quả kiếp mà họ phải tự sát lấy họ. Người đàn bà nào tự vận hay người đàn ông nào tự sát, rồi người nào có thiệt lòng thương yêu chơn thật ấy, trước đã xuống Uổng-Tử-Thành để đầu kiếp mà trở lại căn quả, vì không trọn căn số của mình, còn niên kỷ bao nhiêu cũng phải trở lại đầu kiếp. Vừa đến tuổi cập kê Nam Nữ đôi bên vừa có tình-dục đã phát động ra thì là chết, làm cho chết. Dầu hai đàng đứng trước mặt nhau cũng không khi nào làm chồng vợ với nhau đặng. Chừng ấy người trọn lòng thương yêu chơn thật thì Đức Phật-Mẫu siêu độ cầu rỗi với Đức Chí-Tôn, đem vào cảnh Thiêng-Liêng Hằng-Sống. Còn người nào không biết tình thương, thương bằng tình thương giả dối xảo trá phải đầu kiếp trao lại từ người.

Kiếp người hữu-hình, đời người vô-hình, xây nhau cả năm mười kiếp thiên trùng đau đớn đáo để. Nếu biết con đường Thánh vào ở nơi đó, thì trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống là con đường Đạo hay là con đường giác-ngộ mà thôi.

Chúng ta dòm bên kia thấy họ đau khổ, họ chỉ mong cái ước vọng của họ đoạt thành, nhưng tuyệt vọng! Họ cũng phải đành chịu vậy thôi. Chúng ta ngó thấy tình-trạng nầy làm cho kẽ ấy ngày đêm mơ-mộng, họ mong ước sao qua khỏi con sông ấy, Bần-Đạo tưởng là sông Ngân-Hà đó vậy. Chúng ta dòm xuống mặt bờ sông bên nây giữa con đường, khi chúng ta phải đi ngang qua đó, dòm lại thấy Bát-Quái-Đài đứng giữa không trung.

Con sông ấy có tám đạo hào-quang mù-mịt chiếu ra tám cửa, chúng ta dòm tiếp trong các đạo hào-quang đều có tượng hình ảnh vạn-vật cả thảy.
Bên bờ sông kia có một chiếc thuyền, thuyền ấy của Đức Phật-Quan-Âm Bồ-Tát, đã vâng lịnh Đức Di-Lạc-Vương-Phật đi độ sanh, thuyền ấy thường qua qua lại lại; vì cớ cho nên bờ bên nây ngó bờ bên kia như mơ-mộng để trông chờ. Tôi tưởng bài học nầy ai biết được quyền-năng vô biên ấy, ngó lại kiếp sống của mình, ngó thấy cả trạng thái đương nhiên nó không phải là cảnh phàm nầy vậy. Mà mãi từ thử đến giờ, làm người ai có biết kiếm chỗ thật của mình không?

Hại thay, họ không biết họ sống, họ không biết kiếp sanh của con người khổ não là thế nào.

 

Đức Hộ Pháp

Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
Đêm 29 tháng 9 năm Mậu-Tý ( 31-10-1948 )

Đêm nay chúng ta lại tiếp tục tiến bước trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống.
Kỳ rồi, Bần-Đạo rủ cả thảy các bạn đi Cung Diêu-Trì. Chúng ta lại còn rủ nhau ra trước Cung Diêu-Trì dòm trở lộn lại xem cảnh tục của chúng ta vừa thoát qua coi thế nào? Bần-Đạo chỉ nói nơi xa-xăm của chúng ta đi qua, chúng ta thấy hình-trạng Bát-Quái-Đài, dưới chân có Thất-Đầu-Xà và dưới mình của Thất-Đầu-Xà là khổ hải tức là cảnh trần của chúng ta vậy. Bên kia có liên tiếp mật thiết vô một nẽo sông Ngân-Hà, rồi Bần-Đạo chỉ cho hiểu rằng: Từ khổ hải ấy về cảnh Thiêng-Liêng Hằng-Sống phải đi ngang qua sông Ngân-Hà, có một chiếc thuyền Bát-Nhã của Đức Quan-Âm Bồ-Tát, vâng lịnh Đức Di-Lạc Vương-Phật chèo qua lại Ngân-Hà và khổ hải đặng độ sanh thiên-hạ.

Có một điều chúng ta để ý ngó lại tấm cửa Bát-Quái-Đài, xuất hiện ra tám hào-quang chiếu diệu rực-rỡ và xoay tròn trong tám vạn sanh linh, đều có đủ tám cửa, có Bát-Hồn hiện ra đủ hết: Vật-Chất, Thảo-Mộc, Thú-Cầm, Nhơn-Loại, Thần, Thánh, Tiên, Phật. Chúng ta thấy các đẳng chơn-hồn ấy rải khắp trong Càn-Khôn Vũ-Trụ. Có điều đặc-sắc chúng ta để ý dòm coi người ta thế nào? Chúng ta ngó thấy các vật loại, nhứt là hạng bất động-vật cũng vẫn bình-tịnh trong Đạo Hào-Quang ấy, xuất hiện ra mà không xao-xuyến dữ tợn. Ra khỏi một phần ba đường, bề xa xuôi của nó chúng ta không thế gì đoán đặng. Tỷ như ra khỏi cửa ấy ba bực, chơn-hồn ấy vẫn còn có thứ-tự, ra ngoài nữa thì lộn-xộn. Phải chăng nơi ấy Đạo-Giáo cho là Kim-Bàn đó vậy, tức nhiên là nơi các chơn-hồn hiện ra. Còn các chơn-hồn nữa chúng ta ngó thấy trên đầu mỗi người có một Đạo Hào-Quang, đặc sắc hơn nữa là trong ấy hiện ra một điểm linh-quang hiển hiện chơn-tánh kiếp sanh họ tức nhiên là vị Phật.

Chúng ta quan-sát tìm hiểu ngó thấy trong mỗi người chúng ta có ba món đặc-sắc mà Đức Chí-Tôn đã để vào hình ảnh con người là: Tinh, Khí, Thần. Thật ra thì ba vật là: Thú, Người và Phật. Thỉnh-thoảng có dịp Bần-Đạo sẽ giảng-giải điều ấy cho biết nguyên-căn của người xuất-hiện nơi nào, đến đây để làm gì, và chết rồi đi đâu?

Phải chăng cái cảnh của Đức Phật Kim-Cang đã đoạt vị ( Vô thọ thường thức Diêu-Trì ) chúng ta đến đó ngó thấy tinh-thần tư-tưởng, hiện-tượng, chúng ta thấy bất quá là tin- tưởng Đạo-Giáo. Bần-Đạo dám chắc người nào đi tìm Đạo mà có tâm định tưởng là thấy ngay. Chớ nếu đi theo Đạo do Đức Chí-Tôn dìu-dắt tới đâu thì hay tới đó, thành ra không phải tin tưởng, thì cái thế-giới vô-hình là con đường đã mở để dìu-dắt cả toàn nhơn-loại trong Càn-Khôn Vũ-Trụ không thấy được.

Chúng ta thiết nghĩ, Đức Chí-Tôn mở Đạo cho chúng ta biết phân biệt Bí-Pháp Chơn- Truyền đặng đi theo Ngài, hay là theo thú - vì thi hài chúng ta là thú, không thể gì chối cãi được.

Nếu chúng ta quan-sát trong cái bí-mật huyền-vi của Thiêng-Liêng Tạo-Hóa từ trong phẩm Tiểu-Hồi đến Đại-Hồi; tới phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật thì con đường ấy đi không biết bao nhiêu thời gian mà nói. Thật sự từ hồi mới tạo trái địa-cầu nầy, tức nhiên mỗi địa-hoàn mới phôi thai, chúng ta có thể tính nó là 700 triệu năm. Tiểu-Hồi đến tại mặt thế gian nầy tạo hình ảnh vật loại thú cầm, cho nên cốt cách nhơn-phẩm, từ trong giác-hồn đi cho đến linh-hồn, tính ít nữa cũng 100 triệu năm. Con thú chúng ta đang mang nơi mình đây là con kỵ vật, nó lăn-lóc chết sống nơi mặt địa-cầu nầy, tới chừng nào nó có đặng nhứt điểm linh-tâm, thì Đại-Hồi chúng ta đến nhập thể-phách của nó là thú thì nó tranh sống đủ điều, phải ăn phải mặc, đồng sanh dưới mặt địa-cầu nầy đặng bảo tồn sanh mạng, phải đối phó với áp-lực Tạo-Đoan như: lửa, nước, gió, mưa, nóng nực, thú dữ v.v...

Loài người cũng dữ, đã bảo tồn sanh mạng thì chiến-đấu không biết bao nhiêu là chiến-đấu, với tánh đức thú đã qua chẳng biết bao nhiêu thời gian chiến-đấu đặng sống. Con người giữ được nhơn-phẩm thì đừng để con thú ấy nó dữ đặng nó bảo-tồn mình, tức nhiên sẽ đày đọa mình. Mình ở giữa, trên kia là Đức Chí-Tôn, dưới đây là thú. Hỏi mình có đủ linh-tánh bảo tồn danh-thể khỏi phải theo ai chăng? Không lẽ mình theo thú; thú là cái khí, cái khí là sự sáng-suốt khôn ngoan là linh-tâm mình vậy.

Nơi trí mình đây, đương nhiên bây giờ chúng ta thấy cả huyền-vi bí-mật của Tạo-Đoan một ngày kia, không khỏi trí óc của loài người có điểm quang-minh cực kỳ, họ sẽ đoạt được huyền-vi ấy. Bởi trí họ quá khôn ngoan vì vật-chất, trí ấy dục họ vô Đạo, phản loạn lại linh-tâm và dục tánh, phản lại Tạo-Đoan. Chính mình đứng trong hạng quyền-năng, tức nhiên khí ấy là quyền-năng khôn ngoan ấy do Đấng Tạo-Đoan ban cho, mà Đấng Tạo- Đoan tức nhiên là Đức Chí-Tôn vậy. Đức Chí-Tôn ban cho chúng ta hưởng cái khôn ngoan hơn vạn loại, mà loài người thường phản lại với Tạo-Hóa, trở nên tự-kiêu, tự-đắc. Sách Thánh, sách Phật nói: " Cái khôn ngoan của người là quỉ ". Hèn chi Ông Bà mình, nhất là người An-Nam, hể khi nào thấy đứa nào xảo trá, ngang ngược họ nói: " Thằng nó quỉ quái ". Cái khôn ngoan của mình là quỉ. Nếu nó dìu đường mình đi theo nó thì mong gì đoạt được ngôi vị cao trọng đối phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật mà Chí-Tôn đã hứa. " Nếu các con có thể hơn Thầy, thì Thầy cũng hạ mình cho các con đoạt đặng ngôi vị ", ấy là hàng phẩm của Đức Chí-Tôn đối cả Chơn-Thần.

Hại thay họ không muốn nghe, và không muốn biết, bỡi không dám biết mình sợ e cho họ không biết, nên Quỉ Tánh họ dục theo con đường thú, thành thử ra cái tấn tuồng tương-tàn tương-sát nhau tại thế-gian nầy đương nhiên. Chúng ta thấy tình-trạng khổ sở trước mắt là do nơi loài người mất nhơn-phẩm, mà theo tùng phục con thú, làm nô-lệ cho nó rồi họ chiến-đấu sát hại nhau như con thú rừng.

Tương-tàn tương-sát nhau mà dành sống, đó là bài học để cho chúng ta biết và Bần- Đạo còn thuyết nhiều nữa. Hôm nay chỉ nói sơ lược đặng mở trí để kỳ tới chúng ta có thì giờ đặng dục tấn trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống.

 

Đức Hộ Pháp

Thuyết Đạo Tại Đền Thánh
Đêm 5 tháng 10 năm Mậu-Tý ( 5-11-1948 )

Đêm nay Bần-Đạo giảng tiếp cuộc dục tấn trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống.
Hôm trước Bần-Đạo rủ các bạn đình lại nơi Bát-Quái-Đài để xem cái bí-mật huyền-vi của cơ tạo. Chỗ ấy là toàn cả Chơn-Thần của vạn loại biến tướng ra tạo thành Càn-Khôn Vũ-Trụ.

Bần-Đạo không cần tả, duy lấy cái bí-mật huyền-vi mà làm bài học, ngày nay Bần-Đạo tả cái hình tướng nó ra cho rõ-ràng coi có phải Phật-Giáo gọi Kim-Bàn là đó chăng?

Chúng ta day mặt ngó lại nơi cõi trần là khổ hải, liên hệ với sông Ngân-Hà, cõi Thiêng- Liêng, thì giòng sông Ngân-Hà có chiếc thuyền Bát-Nhã, người ngồi dưới thuyền ấy là Đức Quan-Âm Bồ-Tát, vâng lịnh Đức Di-Lạc Vương-Phật để đưa rước các chơn-linh đoạt Đạo. Bần-Đạo xin tả Đài Bát-Quái ấy nó huyền-vi bí-mật làm sao. Trong tám cửa xuất hiện ra tám phẩm chơn-hồn, nó xoay tròn như bánh xe; chúng ta thấy chẳng khác cây đèn pha nơi mé biển, hễ có xoay thì thấy tám đạo hào-quang chiếu diệu khắp cả Càn- Khôn Vũ-Trụ. Cái tôn nghiêm không thể tả, mặt Thiêng-Liêng huyền-bí vĩ-đại làm cho kinh khủng sợ-sệt, bỡi hào-quang chiếu diệu ấy nó lẫn lộn trong khối sanh-quang. Cái hình- trạng các chơn-thần như chúng ta thấy ở mặt thế-gian nầy vậy; dầu thú-cầm, thảo-mộc, nhơn-loại, chơn-thần hình tượng nó vẫn tốt đẹp như thường, không phải như xác thịt thú- chất chúng ta vậy.

Hễ tám đạo hào-quang ấy soi tới đâu thì tám phẩm chơn-thần đều cuồn-cuộn chiếu diệu ra; lớp thì đi, lớp thì về; lớp vô, lớp ra muôn trùng vạn điệp không thể gì tưởng- tượng được.

Vả chăng trong Càn-Khôn Vũ-Trụ có nhiều Tam-Thiên Thế-Giới, Tứ-Đại Bộ-Châu, Thất- Thập Nhị-Địa. Ngoài cảnh giới ấy, thế-giới nầy qua thế-giới kia, có nhiều thế-giới chưa biến hình-tướng cả thế-giới, chưa có Vạn-Linh Vũ-Trụ. Chúng ta lấy sự so-sánh gọi là chủ quyền hơn hết là trong phần 72 quả địa-cầu có nhơn-loại ở - chúng ta tưởng-tượng trái đất nầy bề ngang có 10 ngàn cây số, chúng ta chỉ lấy một tấm ban-gian chúng ta cân thử thế giới chỉ xa chúng ta 280 cây số, mà xa trái đất chỉ có một tấc thôi. Chư Hiền-Tỷ, chư Hiền Muội tưởng-tượng Càn-Khôn Vũ-Trụ lớn vĩ-đại. Lấy mặt Thiêng-Liêng mà thấy càng sợ-sệt, thì ngoài ra chúng ta không thể nào thấu đáo đặng những chơn-hồn biến hóa ra Vạn-Linh. Chúng ta ngó lại coi trước Diêu-Trì-Cung nguy-nga đẹp-đẽ vô cùng, bên mặt có thế-giới, bên trái cũng có thế-giới chẳng khác, nơi cung giữa cũng chiếu diệu hào-quang như trước mặt chúng ta đó vậy.

Tưởng cả thảy muốn biết trước Diêu-Trì Cung, ba cung ấy là gì? Bần-Đạo nói rõ : Cung giữa trước Diêu-Trì-Cung là Cung Hiệp-Thiên Hành-Hóa, bên mặt là Cực-Lạc Thế-Giới, bên trái là Ngọc-Hư-Cung.

Tuy vân chúng ta thấy, với con mắt Thiêng-Liêng Bần-Đạo nói quả quyết rằng: Đường xa muốn đoạt đến muôn trùng xa thẳm, chúng ta thấy đặng là gì tại Cung-Diêu-Trì, chúng ta muốn cái gì thì được cái nấy. Muốn đoạt đến Bát-Quái-Đài như chúng ta thấy khi nãy chẳng phải dễ. Kim-Bàn chúng ta thấy con đường muôn trùng mà không thể gì quan-sát và tưởng-tượng được.

Bây giờ chúng ta chung vô cung Hiệp-Thiên Hành-Hóa, rồi lần-lượt qua hai cung kia. Cung Hiệp-Thiên Hành-Hóa, Đức Chí-Tôn để ở thế-gian nầy cho chúng ta hiểu biết hai chữ Hiệp-Thiên đem để trong cửa Đạo, tức nhiên đem hình-tượng để nơi mặt thế-gian nầy - ấy là nơi ngự của Tam-Trấn Oai-Nghiêm, là nơi của các Đấng trọn lành đóng đô nơi đó. Chẳng phải nơi mặt địa-cầu nầy thôi, trong Tam-Thiên Thế-Giới, Thất-Thập-Nhị Địa-Cầu cũng vậy, đều có Đại-Diện của mình nơi đó đặng để bào chửa tội cho Vạn-Linh sanh chúng.

Bần-Đạo nói nơi đây chẳng khác gì ở nơi cõi trần nầy, như các chỗ Tòa-Án để làm việc vậy. Các Đấng Trọn-Lành mới được về đó làm Đại-Diện cho Vạn-Linh, phải có đặc quyền mới vào được Cung ấy.

Dầu Thần vị, Thánh vị, Tiên vị, hay Phật vị cũng phải đoạt được cấp bằng Trọn-Lành mới vào Cung Hiệp-Thiên Hành-Hóa, Cung ấy đặc biệt để binh vực Vạn-Linh sanh chúng. Bần-Đạo tưởng Đức Chí-Tôn lập Hiệp-Thiên-Đài tại thế nầy rất ngộ-nghĩnh thay! Có một điều là khi Bần-Đạo vào thì thấy họ niềm-nỡ, Bần-Đạo dám chắc nơi miệng họ khi thấy mình đến đó hiểu được và biết được như có lời yếu thiết. Họ muốn nói với mình rằng : Về nếu có thể nói lại với sanh chúng tức là nhơn-sanh, hiểu rằng cái án của kiếp sanh họ nơi Cung Hiệp-Thiên Hành-Hóa đã có nhiều, chúng ta đã đảm nhiệm nhiều nỗi khó khăn, ước ao sao các bạn hiểu luật nhơn-quả Thiêng-Liêng, quyền Thiêng-Liêng thưởng phạt là gì? Định quyền Thiêng-Liêng đặng về nói lại, thuyết lại dỗ-dành cho họ biết rằng nơi cõi Hư-Linh còn có kẽ chí thân vẫn hằng ngày cầu nguyện và xin tội cho mọi người. Nơi Ngọc-Hư Cung rất nghiêm khắc, nơi Cực-Lạc Thế-Giới khó khăn mà các bạn đều có binh vực và dìu đường mở lối cho họ đi, đặng các bạn có một điều tu tỉnh, đặng nối gót theo Đức Chí-Tôn, tận hiếu với Ngài, tận trung cùng Thánh-Thể Ngài.

Cả anh em nơi Cung Hiệp-Thiên Hành-Hóa đủ phương chước, đủ quyền hành để bảo tồn con cái Đức Chí-Tôn, họ biết tự-trọng họ, thì chẳng quyền-năng nào ép họ đặng.

Bần-Đạo tưởng từ thử đến giờ, chưa có nền Tôn-Giáo nào công-chánh, nhơn-từ và đặc sắc công-bình là quyền Thiêng-Liêng vô cùng vô tận. Tưởng lại tiếng hứa của Đức Chí- Tôn :" Tận độ chúng-sanh " không phải quá đáng vậy. Có lẽ phương-pháp khó khăn ấy, Đức Chí-Tôn định quyền năng dù thế-giới vô-hình cũng vậy, mà thế-giới hữu-hình cũng vậy.

Các bạn duy có tu mà thành, tu hành thì không ai có quyền-hành nào biếm nhẻ các bạn, và không có quyền-hành nào bỏ rơi các bạn. Nhớ hằng ngày tưởng-tượng tới lẽ ấy, để tâm hăng-hái đặng làm bửu-bối mà theo chơn Đức Chí-Tôn cho trọn Đạo

 

 

về trang chủ