Đức Chí Tôn giáng cơ thâu nhận Ngài làm môn đệ, mà trước đó,
Đức Chí Tôn đã dùng huyền diệu làm cho đôi mắt Ngài hết bịnh,
sáng tỏ trở lại như trước. Đức Chí Tôn cũng dạy Ngài Lê văn
Trung hiệp với 2 ông Cư, Tắc lo mở Đạo
Ngày 27-1-1926, Đức Chí Tôn dạy Ngài Lê
văn Trung và 3 ông : Cư, Tắc, Sang đến nhà Ngài Đốc phủ Ngô văn
Chiêu, để ông Chiêu chỉ cho cách thờ phượng Thượng Đế bằng biểu
tượng Thiên Nhãn, và xem ông Chiêu là Anh Cả.
Ngày 22-4-1926, đàn cơ tại Vĩnh Nguyên Tự
Cần Giuộc, Đức Chí Tôn phong Ngài Lê văn Trung làm Đầu Sư phái
Thượng, Thánh danh là Thượng Trung Nhựt, cùng một lượt với Ngài
Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt. Ngày 29-9-1926, Ngài vâng lịnh Đức Chí
Tôn hiệp cùng Chức sắc Đại Thiên phong và chư Đạo hữu, tổng cộng
247 người, họp tại nhà Ông Nguyễn văn Tường ở đường Galiéni, nay
là đường Trần Hưng Đạo, Quận 1 Sài gòn, để lập Tờ Khai Đạo gởi
lên Chánh quyền Pháp. Tờ Khai Đạo nầy được dâng lên Đức Chí Tôn
duyệt trước.
Ngày 7-10-1926, Ngài Đầu Sư Thượng Trung
Nhựt đích thân đem Tờ Khai Đạo lên đưa cho Thống Đốc Nam Kỳ là
Ông Le Foll và được Ông Le Foll vui vẻ tiếp nhận. Ngày Rằm Hạ
nguơn năm Bính Dần, Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, hiệp cùng chư
Chức sắc Đại Tiên Phong, vâng lịnh Đức Chí Tôn, mượn chùa Từ Lâm
Tự Gò Kén Tây Ninh làm Thánh Thất tạm, tổ chức Lễ Khai Đạo Cao
Đài, có sự hiện diện của quan chức các cấp của Chánh quyền và
đại diện các tôn giáo đến dự.
Ngài 22-11-1930, Ngài Đầu Sư Thượng Trung
Nhựt được Đức Lý Giáo Tông giáng cơ ban cho Ngài Lê văn Trung
cầm quyền Giáo Tông Hữu hình tại thế, theo Đạo Nghị Định thứ
nhì, còn Đức Lý vẫn nắm quyền Giáo Tông thiêng liêng.
Ngày 13-10-Giáp Tuất (1934), Đức Q. Giáo
Tông Lê văn Trung lâm bịnh và nhẹ nhàng thoát xác qui Thiên tại
Giáo Tông Đường Tòa Thánh, lúc 3 giờ chiều, hưởng thọ 59 tuổi.
Nếu tính từ ngày Đức Quyền Giáo Tông được Đức Chí Tôn thâu nhận
làm môn đệ đến ngày qui Thiên, Đức Ngài hành đạo được 9 năm.
Trong những năm hành đạo, Đức Ngài lo xây dựng Hội Thánh với đầy
đủ các cơ quan, lo phổ thông nền đạo rất được kết quả, số tín đồ
càng lúc càng nhiều. Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo cho biết,
nguyên căn của Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung là Chơn linh của
Đại Tiên Lý Thiết Quả, đứng đầu Bát Tiên.
Nữ Đầu
Sư Lâm Hương Thanh (1874-1937)
Bà Lâm Hương Thanh có thế danh là
Lâm ngọc Thanh, sanh năm 1874 tại làng Trung Tín, Quận
Vũng Liêm, Vĩnh Long. Bà là vợ của Ông Huyện Huỳnh
văn Xây, một nghiệp chủ giàu có tại Vũng Liêm.
Bà sanh một người con gái tên Huỳnh thị Hồ. Sau
nầy Ông Huyện Xây chết, Bà tái giá với Ông Huyện
Hàm Nguyễn ngọc Thơ, ở Tân Định, Sài gòn. Bà
và Ông Thơ nhập môn theo Đạo Cao Đài vào đầu
năm 1926. Trước đó, 2 Ông Bà đều là đệ tử của
Hòa Thượng Như Nhãn, chủ chùa Từ Lâm Tự ở Gò
Kén Tây Ninh. Nhờ huyền diệu cơ bút, Đức Chí Tôn
độ được Hòa Thượng Như Nhãn theo Đạo Cao Đài
nên Như Nhãn cho mượn chùa Từ Lâm làm Thánh Thất
tạm để tổ chức Lễ Khai Đạo vào ngày 15-10-Bính
Dần (1926). |
 |
Trong dịp Lễ Khai Đạo, Đức Chí Tôn
giáng cơ phong cho Bà chức Nữ Giáo Sư , Thánh danh
Lâm Hương Thanh. Trong kỳ phong Thánh Nữ phái lần
thứ 1, ngày 14-1-Đinh Mão (1927), Bà được thăng lên
Nữ Phối Sư. Bà lãnh lịnh Ngài Đầu Sư Thượng
Trung Nhựt lo việc giao thiệp với Chánh quyền Pháp,
xin mở cửa các Thánh Thất bị Chánh quyền áp chế
đóng cửa trước đây. Bà làm đơn cam kết Đạo
Cao Đài là Phật Giáo Chấn Hưng, thuần túy tu hành,
không làm điều gì sai luật của Chánh phủ. Ngày
9-3-Kỷ Tỵ (dl 16-4-1929), Bà Lâm Hương Thanh được
thăng phẩm Nữ Chánh Phối Sư. Bà đăng Tiên vào
ngày 8-4-Đinh Sửu (dl 17-5-1937), và được truy thăng
Nữ Đầu Sư ngày 25-4-Đinh Sửu (1937).
Đức Phạm Hộ Pháp cho biết nguyên căn của
Bà là chơn linh của Long Nữ, đệ tử của Đức
Quan Thế Âm Bồ Tát.
Đức
Hộ Pháp Phạm công Tắc (1890-1959)
Ngài Phạm công Tắc sinh ngày 5-5-Canh Dần
(1890) tại làng Bình Lập, tỉnh Tân An, nhưng song thân của Ngài
quê quán ở tại làng An Hòa, quận Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Thân
phụ của Ngài là Ông Phạm công Thiện và Thân mẫu là Bà La thị
Đường. Ông Thiện là công chức dưới trào Pháp thuộc, được đổi đến
làm việc ở tỉnh Tân An, đem gia đình theo, và ở nơi đó sanh ra
Ngài Phạm công Tắc.
Năm 1907, Ngài thi đậu bằng Thần Chung.
Sau đó Ngài xin làm Thơ ký nơi Sở Thương Chánh Sài gòn. Năm 21
tuổi, Ngài lập gia đình với Bà Nguyễn thị Nhiều, sanh đặng 3
người con, chỉ nuôi được 2 người con gái là : Phạm Hồ Cầm và
Phạm Tần Tranh. Đêm 24-7-1925 (Ất Sửu), Ngài Tắc cùng 3 bạn :
Cao quỳnh Cư, Cao quỳnh Diêu, Cao hoài Sang, họp nhau tại nhà
Ngài Sang ở phố hàng dừa Sàigòn, để thực hành việc Xây Bàn theo
lối Thông linh học tiếp xúc với thế giới vô hình. Ông Cao quỳnh
Tuân, thân phụ của 2 Ngài Diêu và Cư giáng bàn cho một bài thi,
khiến quí Ngài tin tưởng có các vong linh nơi thế giới vô hình.
Sau đó, Cô Vương thị Lễ, Thất Nương Diêu Trì Cung giáng bàn,
dùng thi phú xướng họa với quí Ngài, để lần lần dẫn dắt vào
đường Đạo.
Sau cùng, Đức Chí Tôn tá danh AĂÂ giáng
bàn dạy Đạo cho quí Ngài. Đêm 14 rạng 15-8-Ất Sửu (1925), Đấng
AĂÂ dạy quí Ngài làm một cái tiệc chay đãi Đức Phật Mẫu và Cửu
vị Tiên Nương DTC gọi là Hội Yến Diêu Trì Cung, tại nhà Ngài Cư.
Ngày 1-11-Ất Sửu (1925), Đấng AĂÂ dạy 3 Ngài Cư, Tắc, Sang, ra
quì giữa Trời "Vọng Thiên cầu Đạo". Ngày 12-3-Bính Dần (1926),
tại Chùa Vĩnh Nguyên Tự (Cần Giuộc), Đức Chí Tôn phong Ngài Phạm
công Tắc chức Hộ Pháp, Ngài Cao quỳnh Cư chức Thượng Phẩm, Ngài
Cao hoài Sang chức Thượng Sanh. Hai vị Hộ Pháp và Thượng Phẩm
lập thành cặp Phò Loan Phong Thánh. Sau Đại lễ Khai Đạo tại chùa
Gò Kén Tây Ninh, Đức Phạm Hộ Pháp vâng lịnh Đức Chí Tôn lên Nam
Vang mở Đạo và thành lập Hội Thánh Ngoại Giáo tại đây. Ngày
28-3-Canh Ngọ, Đức Phạm Hộ Pháp dẫn một phái đoàn đi xuống làng
Phú Mỹ tỉnh Mỹ Tho để lấy Phép Ếm của Tàu là Long Tuyền Kiếm, do
Bát Nương chỉ dẫn.
Ngày 3-10-Canh Ngọ (1930), Đức Lý
Giáo Tông hiệp cùng Đức Phạm Hộ Pháp lập 6 Đạo
Nghị Định để chỉnh đốn nền Đạo. Ngày 16-7-Giáp
Tuất (1934) Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ
Pháp lập thêm 2 Đạo Nghị Định để trị loạn
trong nền Đạo. Tổng cộng tất cả Bát Đạo Nghị
Định. Sau khi Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung qui
Thiên, Đức Lý Giáo Tông giao cho Đức Phạm Hộ Pháp
cầm quyền Giáo Tông tại thế để điều hành nền
Đạo cho được mau lẹ, nên lúc đó, Đức Phạm
Hộ Pháp chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài : Hiệp
Thiên và Cửu Trùng. Trong suốt 34 năm hành đạo,
Đức Phạm Hộ Pháp xây dựng được nhiều công
trình vĩ đại cho Đạo, lưu lại công nghiệp vĩ
đại mãi mãi về sau, kể ra :
-
Xây dựng Tòa Thánh đồ sộ nguy nga thờ Đ. Chí Tôn.- Xây dựng
Báo Ân Từ làm nơi thờ Đức Phật Mẫu.
-
Xây dựng các cơ quan của Đạo trong Nội Ô : Giáo Tông đường,
Nữ Đầu Sư đường, Tòa Nội Chánh Cửu Trùng Đài,
Hộ Pháp đường, Văn phòng Hiệp Thiên Đài, Bộ
Pháp Chánh, Đạo Đức Học đường, Bộ Nhạc Lễ,
vv. .
-
Lập Phạm Môn và sau đó biến thành Cơ Quan Phước Thiện với
Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng từ phẩm Minh Đức
lên đến phẩm Phật Tử.
-
Lập các phẩm Chức sắc HTĐ cấp dưới, theo ý kiến của Đức
Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, từ phẩm Luật Sự lên phẩm
Tiếp Dẫn Đạo Nhơn để thi hành quyền Tư Pháp
của HTĐ.
-
Lập Ban Thế Đạo với 4 phẩm Chức sắc. - Xây dựng Chợ Long
Hoa, mở mang vùng Thánh Địa.
-
Xây dựng 3 Cung 3 Động : Trí Huệ Cung Thiên Hỷ Động, Trí Giác
Cung Địa Linh Động, Vạn Pháp Cung Nhơn Hòa Động
để dùng làm Tịnh Thất. Trong lúc đang xây dựng
Tòa Thánh gần xong, ngày 28-6-1941 (Tân Tỵ), Chánh
quyền Pháp vào Tòa Thánh bắt Đức Phạm Hộ Pháp
và một số Chức sắc cao cấp đày đi Madagascar,
một hải đảo ở Phi Châu, suốt 5 năm 2 tháng. Vì
áp lực của chánh quyền Ngô đình Diệm, Đức Phạm
Hộ Pháp phải rời Tòa Thánh, lưu vong sang Nam Vang,
thủ đô nước Cao Miên, vào ngày 5-Giêng-Bính Thân
(1956). Ngày 10-4-Kỹ
Hợi (1959), lúc 13 gờ 30 phút, Đức Ngài thoát xác
qui Thiên, hưởng thọ 70 tuổi.
Nguyên
căn và quyền hành của Đức Phạm Hộ Pháp được
Đức Lý thố lộ trong bài thơ khoán thủ sau đây
:
HỘ giá Chí Tôn trước
đến giờ,
PHÁP luân thường
chuyển máy Thiên Thơ.
CHƯỞNG quyền Cực
Lạc phân ngôi vị, QUẢN xuất Càn Khôn định cõi
bờ.
NHỊ kiếp Tây Âu cầm máy tạo,
HỮU duyên Đông Á nắm Thiên Thơ.
HÌNH hài Thánh thể chừ nên tướng,
ĐÀI trọng hồng ân gắng cậy nhờ.