Tiểu dẫn các điển tích

kiến trúc nơi Tòa Thánh

 

1- Thánh tượng

 

Lượt sử  5 vị Tông Đồ Tiền Khai Đại Đạo có đúc tượng đặt tại Tòa Thánh.

§         Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung

§         Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh..

§         Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc..

§         Đức Thượng Phẩm Cao quỳnh Cư..

§         Đức Thượng Sanh Cao hoài Sang.

§         Đức Quyền Giáo Tông  Lê văn Trung (1876- 1934)

 

Ngài Lê văn Trung

 

Sanh năm Bính Tý (1876) tại làng Phước Lâm tổng Phước Điền Trung, Chợ Lớn. Thân phụ là Lê văn Thanh (1845-1878) và thân mẫu là Văn thị Xuân (1949-1912). Ngài đậu bằng Thành Chung năm 1894 và được thâu nhận làm Thơ Ký tại Dinh Thống Đốc Nam Kỳ. Năm 1906, Ngài xin nghỉ việc và đắc cử vào Hội Đồng Quản Hạt Nam Ky,ø thuộc chánh quyền thuộc địa Pháp. Năm 1911, Ngài Lê văn Trung hợp với Bà Tổng Đốc Đỗ hữu Phương vận động cất Nữ Học Đường, kết quả là xây được một ngôi trường Nữ đầu tiên tại Sàigòn, gọi là Collège des Jeunes filles, và sau đặt tên là Nữ Trung Học Gia Long, nay là Trường Nữ Trung Học Nguyễn thị Minh Khai.

 

Ngày 18-5-1912, Ngài Lê văn Trung được Chánh phủ Pháp thưởng cho Bắc Đẩu Bội Tinh Đệ ngũ đẳng. Ngày 10-12-1914, Ngài được nhà cầm quyền thuộc địa Pháp cử lên làm Nghị viên Hội Đồng Soái phủ Đông Dương, thường gọi là Hội Đồng Thượng Nghị Viện Đông Dương.

 

Kể từ năm 1920 trở đi, công việc kinh doanh của Ngài Lê văn Trung bắt đầu gặp khó khăn, sau đó thì thua lỗ, đi dần đến chỗ phá sản. Ngài rất lo buồn nên sinh ra nghiện ngập và đôi mắt bị bịnh, lờ mờ không thấy rõ. Ngày 7-11-1926, Đức Chí Tôn dạy 2 Ông Cao quỳnh Cư và Phạm công Tắc đem Đại ngọc cơ vào nhà Ngài Lê văn Trung ở Chợ Lớn để Đức Chí Tôn dạy việc.

 

Đức Chí Tôn giáng cơ thâu nhận Ngài làm môn đệ, mà trước đó, Đức Chí Tôn đã dùng huyền diệu làm cho đôi mắt Ngài hết bịnh, sáng tỏ trở lại như trước. Đức Chí Tôn cũng dạy Ngài Lê văn Trung hiệp với 2 ông Cư, Tắc lo mở Đạo

 

Ngày 27-1-1926, Đức Chí Tôn dạy Ngài Lê văn Trung và 3 ông : Cư, Tắc, Sang đến nhà Ngài Đốc phủ Ngô văn Chiêu, để ông Chiêu chỉ cho cách thờ phượng Thượng Đế bằng biểu tượng Thiên Nhãn, và xem ông Chiêu là Anh Cả.

 

Ngày 22-4-1926, đàn cơ tại Vĩnh Nguyên Tự Cần Giuộc, Đức Chí Tôn phong Ngài Lê văn Trung làm Đầu Sư phái Thượng, Thánh danh là Thượng Trung Nhựt, cùng một lượt với Ngài Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt. Ngày 29-9-1926, Ngài vâng lịnh Đức Chí Tôn hiệp cùng Chức sắc Đại Thiên phong và chư Đạo hữu, tổng cộng 247 người, họp tại nhà Ông Nguyễn văn Tường ở đường Galiéni, nay là đường Trần Hưng Đạo, Quận 1 Sài gòn, để lập Tờ Khai Đạo gởi lên Chánh quyền Pháp. Tờ Khai Đạo nầy được dâng lên Đức Chí Tôn duyệt trước.

 

Ngày 7-10-1926, Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt đích thân đem Tờ Khai Đạo lên đưa cho Thống Đốc Nam Kỳ là Ông Le Foll và được Ông Le Foll vui vẻ tiếp nhận. Ngày Rằm Hạ nguơn năm Bính Dần, Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, hiệp cùng chư Chức sắc Đại Tiên Phong, vâng lịnh Đức Chí Tôn, mượn chùa Từ Lâm Tự Gò Kén Tây Ninh làm Thánh Thất tạm, tổ chức Lễ Khai Đạo Cao Đài, có sự hiện diện của quan chức các cấp của Chánh quyền và đại diện các tôn giáo đến dự.

 

Ngài 22-11-1930, Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt được Đức Lý Giáo Tông giáng cơ ban cho Ngài Lê văn Trung cầm quyền Giáo Tông Hữu hình tại thế, theo Đạo Nghị Định thứ nhì, còn Đức Lý vẫn nắm quyền Giáo Tông thiêng liêng.

 

Ngày 13-10-Giáp Tuất (1934), Đức Q. Giáo Tông Lê văn Trung lâm bịnh và nhẹ nhàng thoát xác qui Thiên tại Giáo Tông Đường Tòa Thánh, lúc 3 giờ chiều, hưởng thọ 59 tuổi. Nếu tính từ ngày Đức Quyền Giáo Tông được Đức Chí Tôn thâu nhận làm môn đệ đến ngày qui Thiên, Đức Ngài hành đạo được 9 năm. Trong những năm hành đạo, Đức Ngài lo xây dựng Hội Thánh với đầy đủ các cơ quan, lo phổ thông nền đạo rất được kết quả, số tín đồ càng lúc càng nhiều. Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo cho biết, nguyên căn của Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung là Chơn linh của Đại Tiên Lý Thiết Quả, đứng đầu Bát Tiên.

 

Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh (1874-1937)

 

Bà Lâm Hương Thanh có thế danh là Lâm ngọc Thanh, sanh năm 1874 tại làng Trung Tín, Quận Vũng Liêm, Vĩnh Long. Bà là vợ của Ông Huyện Huỳnh văn Xây, một nghiệp chủ giàu có tại Vũng Liêm. Bà sanh một người con gái tên Huỳnh thị Hồ. Sau nầy Ông Huyện Xây chết, Bà tái giá với Ông Huyện Hàm Nguyễn ngọc Thơ, ở Tân Định, Sài gòn. Bà và Ông Thơ nhập môn theo Đạo Cao Đài vào đầu năm 1926. Trước đó, 2 Ông Bà đều là đệ tử của Hòa Thượng Như Nhãn, chủ chùa Từ Lâm Tự ở Gò Kén Tây Ninh. Nhờ huyền diệu cơ bút, Đức Chí Tôn độ được Hòa Thượng Như Nhãn theo Đạo Cao Đài nên Như Nhãn cho mượn chùa Từ Lâm làm Thánh Thất tạm để tổ chức Lễ Khai Đạo vào ngày 15-10-Bính Dần (1926).

Trong dịp Lễ Khai Đạo, Đức Chí Tôn giáng cơ phong cho Bà chức Nữ Giáo Sư , Thánh danh Lâm Hương Thanh. Trong kỳ phong Thánh Nữ phái lần thứ 1, ngày 14-1-Đinh Mão (1927), Bà được thăng lên Nữ Phối Sư. Bà lãnh lịnh Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt lo việc giao thiệp với Chánh quyền Pháp, xin mở cửa các Thánh Thất bị Chánh quyền áp chế đóng cửa trước đây. Bà làm đơn cam kết Đạo Cao Đài là Phật Giáo Chấn Hưng, thuần túy tu hành, không làm điều gì sai luật của Chánh phủ. Ngày 9-3-Kỷ Tỵ (dl 16-4-1929), Bà Lâm Hương Thanh được thăng phẩm Nữ Chánh Phối Sư. Bà đăng Tiên vào ngày 8-4-Đinh Sửu (dl 17-5-1937), và được truy thăng Nữ Đầu Sư ngày 25-4-Đinh Sửu (1937).  Đức Phạm Hộ Pháp cho biết nguyên căn của Bà là chơn linh của Long Nữ, đệ tử của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.

 

Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc (1890-1959)

 

Ngài Phạm công Tắc sinh ngày 5-5-Canh Dần (1890) tại làng Bình Lập, tỉnh Tân An, nhưng song thân của Ngài quê quán ở tại làng An Hòa, quận Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Thân phụ của Ngài là Ông Phạm công Thiện và Thân mẫu là Bà La thị Đường. Ông Thiện là công chức dưới trào Pháp thuộc, được đổi đến làm việc ở tỉnh Tân An, đem gia đình theo, và ở nơi đó sanh ra Ngài Phạm công Tắc.

 

Năm 1907, Ngài thi đậu bằng Thần Chung. Sau đó Ngài xin làm Thơ ký nơi Sở Thương Chánh Sài gòn. Năm 21 tuổi, Ngài lập gia đình với Bà Nguyễn thị Nhiều, sanh đặng 3 người con, chỉ nuôi được 2 người con gái là : Phạm Hồ Cầm và Phạm Tần Tranh. Đêm 24-7-1925 (Ất Sửu), Ngài Tắc cùng 3 bạn : Cao quỳnh Cư, Cao quỳnh Diêu, Cao hoài Sang, họp nhau tại nhà Ngài Sang ở phố hàng dừa Sàigòn, để thực hành việc Xây Bàn theo lối Thông linh học tiếp xúc với thế giới vô hình. Ông Cao quỳnh Tuân, thân phụ của 2 Ngài Diêu và Cư giáng bàn cho một bài thi, khiến quí Ngài tin tưởng có các vong linh nơi thế giới vô hình. Sau đó, Cô Vương thị Lễ, Thất Nương Diêu Trì Cung giáng bàn, dùng thi phú xướng họa với quí Ngài, để lần lần dẫn dắt vào đường Đạo.

 

Sau cùng, Đức Chí Tôn tá danh AĂÂ giáng bàn dạy Đạo cho quí Ngài. Đêm 14 rạng 15-8-Ất Sửu (1925), Đấng AĂÂ dạy quí Ngài làm một cái tiệc chay đãi Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương DTC gọi là Hội Yến Diêu Trì Cung, tại nhà Ngài Cư. Ngày 1-11-Ất Sửu (1925), Đấng AĂÂ dạy 3 Ngài Cư, Tắc, Sang, ra quì giữa Trời "Vọng Thiên cầu Đạo". Ngày 12-3-Bính Dần (1926), tại Chùa Vĩnh Nguyên Tự (Cần Giuộc), Đức Chí Tôn phong Ngài Phạm công Tắc chức Hộ Pháp, Ngài Cao quỳnh Cư chức Thượng Phẩm, Ngài Cao hoài Sang chức Thượng Sanh. Hai vị Hộ Pháp và Thượng Phẩm lập thành cặp Phò Loan Phong Thánh. Sau Đại lễ Khai Đạo tại chùa Gò Kén Tây Ninh, Đức Phạm Hộ Pháp vâng lịnh Đức Chí Tôn lên Nam Vang mở Đạo và thành lập Hội Thánh Ngoại Giáo tại đây. Ngày 28-3-Canh Ngọ, Đức Phạm Hộ Pháp dẫn một phái đoàn đi xuống làng Phú Mỹ tỉnh Mỹ Tho để lấy Phép Ếm của Tàu là Long Tuyền Kiếm, do Bát Nương chỉ dẫn.

 

Ngày 3-10-Canh Ngọ (1930), Đức Lý Giáo Tông hiệp cùng Đức Phạm Hộ Pháp lập 6 Đạo Nghị Định để chỉnh đốn nền Đạo. Ngày 16-7-Giáp Tuất (1934) Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp lập thêm 2 Đạo Nghị Định để trị loạn trong nền Đạo. Tổng cộng tất cả Bát Đạo Nghị Định. Sau khi Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung qui Thiên, Đức Lý Giáo Tông giao cho Đức Phạm Hộ Pháp cầm quyền Giáo Tông tại thế để điều hành nền Đạo cho được mau lẹ, nên lúc đó, Đức Phạm Hộ Pháp chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài : Hiệp Thiên và Cửu Trùng. Trong suốt 34 năm hành đạo, Đức Phạm Hộ Pháp xây dựng được nhiều công trình vĩ đại cho Đạo, lưu lại công nghiệp vĩ đại mãi mãi về sau, kể ra :

-         Xây dựng Tòa Thánh đồ sộ nguy nga thờ Đ. Chí Tôn.- Xây dựng Báo Ân Từ làm nơi thờ Đức Phật Mẫu.

-         Xây dựng các cơ quan của Đạo trong Nội Ô : Giáo Tông đường, Nữ Đầu Sư đường, Tòa Nội Chánh Cửu Trùng Đài, Hộ Pháp đường, Văn phòng Hiệp Thiên Đài, Bộ Pháp Chánh, Đạo Đức Học đường, Bộ Nhạc Lễ, vv. .

-         Lập Phạm Môn và sau đó biến thành Cơ Quan Phước Thiện với Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng từ phẩm Minh Đức lên đến phẩm Phật Tử.

-         Lập các phẩm Chức sắc HTĐ cấp dưới, theo ý kiến của Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, từ phẩm Luật Sự lên phẩm Tiếp Dẫn Đạo Nhơn để thi hành quyền Tư Pháp của HTĐ.

-         Lập Ban Thế Đạo với 4 phẩm Chức sắc. - Xây dựng Chợ Long Hoa, mở mang vùng Thánh Địa.

-         Xây dựng 3 Cung 3 Động : Trí Huệ Cung Thiên Hỷ Động, Trí Giác Cung Địa Linh Động, Vạn Pháp Cung Nhơn Hòa Động để dùng làm Tịnh Thất. Trong lúc đang xây dựng Tòa Thánh gần xong, ngày 28-6-1941 (Tân Tỵ), Chánh quyền Pháp vào Tòa Thánh bắt Đức Phạm Hộ Pháp và một số Chức sắc cao cấp đày đi Madagascar, một hải đảo ở Phi Châu, suốt 5 năm 2 tháng. Vì áp lực của chánh quyền Ngô đình Diệm, Đức Phạm Hộ Pháp phải rời Tòa Thánh, lưu vong sang Nam Vang, thủ đô nước Cao Miên, vào ngày 5-Giêng-Bính Thân (1956).  Ngày 10-4-Kỹ Hợi (1959), lúc 13 gờ 30 phút, Đức Ngài thoát xác qui Thiên, hưởng thọ 70 tuổi.

 

Nguyên căn và quyền hành của Đức Phạm Hộ Pháp được Đức Lý thố lộ trong bài thơ khoán thủ sau đây : 

HỘ giá Chí Tôn trước đến giờ,

PHÁP luân thường chuyển máy Thiên Thơ.

CHƯỞNG quyền Cực Lạc phân ngôi vị, QUẢN xuất Càn Khôn định cõi bờ.
NHỊ kiếp Tây Âu cầm máy tạo,
HỮU duyên Đông Á nắm Thiên Thơ.
HÌNH hài Thánh thể chừ nên tướng,
ĐÀI trọng hồng ân gắng cậy nhờ.

 
về trang chủ  

xem trang sau