Ðại
Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ
Toà Thánh Tây Ninh
Giảng-Ðạo
Yếu-Ngôn
Tác-giả
Nguyễn văn Kinh
Hội-Thánh giữ bản-quyền
Tái-bản năm Canh-Tuất
- 1970
Ít lời lược luận
sơ giải mấy bài nầy cốt để
giúp ích cho người thiểu học, vắn
nghe cạn thấy, đặng rõ chơn-lý
của Ðạo chút ít, khỏi lòng nghi
nan dừng chơn nghỉ bước.
Bỡi ít học, tôi
không dùng lời văn-chương đặng,
nên buộc mình phải lấy lời thô-kịch
thật-thà, giảng luận ra đây cho hiểu
lý Ðạo. Tôi cũng do cổ-điển
mà luận giải, như chỗ nào có
sai lầm xin hoan tâm miễn chấp, giúp cho
được thiện-mỹ.
Chớ Ðạo cao sâu,
tôi biết tới đâu xin luận tới
đó cho rõ chung về chơn Ðạo.
Tác-giả: Nguyễn
văn Kinh
Làng Bình-Lý-Thôn
Gia-Ðịnh
Lời
Tựa
Nay là buổi tuần-hườn,
Trời khai Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ,
chấn hưng nền Chánh-Giáo, thức tỉnh
chúng sanh, giữ đạo cang thường,
tu tâm sửa tánh, hồi đầu hướng
thiện, tự hối ăn năn, cải dữ
về lành ra tân-dân minh-đức, thì
chúng ta rõ cuộc tuần-hườn Tạo-Hóa
xoay vần, công-bình Thiên-Ðạo, mỗi
phương đều phải có một chơn
đạo, đặng đời giữ luật-pháp
mà noi gương Chánh-Giáo, dìu-dắt
lẫn nhau, kềm chế sửa nhau, lấy nét
công-bình mà đối đãi nhau, từ-hòa
nhịn nhục nhau, cho ra hạng người cao
thượng, có phải là Ðạo khai
cho nhơn-loại trở nên tiến-hóa đó
chăng?
Nên mỗi thời kỳ
Trời khai Ðại-Ðạo, hay là các
Ðấng Tiên Phật xuống trần lập
giáo, bất luận phương nào, thì
cũng do nơi Tạo-Hóa chủ-trương,
lấy cân Thiêng-liêng mà phân định.
Nay chúng ta gặp thời-kỳ
nầy, cũng bởi cơ tạo vận-chuyển
đến kỳ Thiên-Ðạo hoằng khai,
chấn hưng chơn Ðạo, cứu độ
sanh-linh, vậy thì đời phải nghịch
hẳn công-lý của Ðạo. Bởi Chánh-Giáo
thất truyền, nên nhơn tâm đổi
biến, sái phép công-bình, tranh danh đoạt
lợi, giết hại lẫn nhau, thành ra trường
náo nhiệt, hư phong bại tục, rối
loạn cho đời. Nay đúng kỳ Trời
khai mở Ðại-Ðạo cho nhơn-sanh thức
tỉnh, tu tích hồi thiện, giữ phép
công-bình, khử tà quy chánh, bỏ giả
về chơn, cho được thuần-phong mỹ-tục,
khỏi chịu những điều thiệt hại
chung.
Thiết tưởng chúng
ta vào Ðạo, lo tu tâm sửa tánh, bỏ
dữ làm lành, ăn chay giữ luật cấm
răn của Ðạo mà lo thờ Trời,
kỉnh Phật, lấy nét công-bình, bỏ
những gian tham bài bạc rượu thịt,
cho ra người cao thượng, như vậy
mới thuận thiên thì có lẽ đặng
hưởng phước Trời ban; còn nghịch
thiên thì thế nào tránh khỏi bị
hình phạt của Trời đặng?
Lâu nay, nơi phương
Nam Trời chưa mở Ðạo, mà chúng
ta đã có thờ kỉnh Tôn-Giáo: Nho,
Thích, Ðạo mà chưa trọn. Như Phật-Giáo, từ
buổi Ðức Thích-Ca Mâu-Ni giáng sanh
Ấn-Ðộ Tây Thiên-Trước mà
dạy Ðạo, thì xứ ấy nhờ Phật-Giáo
mà truyền bá Ðạo thạnh hưng,
con người giữ tam-qui ngũ-giới, minh-tâm
kiến-tánh, luyện thành mâu-ni bữu-châu
( xá-lợi-tử ). Có phải xứ
ấy hưởng nhờ ơn Ðạo mà
trở nên từ-thiện, đến ngày
nay mới có Phật-Giáo mà sùng bái.
Như Ðạo Tiên là
Ðức Thái-Thượng giáng-sanh Trung-nguyên
( xứ Tàu ) dạy Ðạo Tiên, thủ
cảm ứng công-bình, dạy giữ tam-ngươn
ngũ-hành, tu tâm luyện tánh, thành
ra thữ mễ huyền châu, kết tụ linh-đơn
bữu-pháp, thì xứ ấy cũng hưởng
nhờ mối Ðạo, trở nên người
đạo-đức, nên ngày nay mới có
Tiên-Ðạo mà sùng bái.
Như Ðạo-Nho, Khổng-Phu-Tử
giáng sanh tại Trung-Huê ( xứ Tàu ), dạy
Ðạo tam-cang ngũ-thường, tồn tâm
dưỡng tánh, tu luyện cửu khúc minh
châu, tu thành chơn nhứt khí Thái-Cực,
vậy nên xứ ấy hưởng nhờ Ðạo
mà người đặng rõ biết cang thường
luân-lý, khắc-kỷ phục lễ, tu-tâm
sửa tánh, nhu-hòa nho nhã, ngày nay mới
có Ðạo Nho mà sùng bái.
Như Thánh-Giáo, Gia-Tô
Giáo-Chủ ( Jésus ) giáng-sanh mà dạy
Ðạo Âu-Châu, lập Thánh-Giáo,
xứ ấy giữ luật đạo người,
đặng hiền lành nhơn đức mà
hưởng nhờ Ðạo đặng thuần-phong
mỹ-tục, đến nay mới có sùng
bái Thánh-Giáo. Nay các Tôn-Giáo nay
đã truyền-bá ra khắp chốn, mà
chúng ta cũng thành kỉnh sùng bái đó
vậy, thì Ðạo quý báu biết là
dường nào. Nay xứ Nam, Trời khai Ðại-Ðạo
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ đặng cứu vớt
chúng sanh, cho chúng ta một nền chơn-đạo
như các phương ấy, vậy thì chúng
ta nỡ nào lấp tai che mắt hay sao?
Chúng ta phải biết
Ðấng Tạo-Hóa rất công-minh, dữ
răn lành thưởng. Dưới thế nầy,
sắc da nào cũng con chung Ðấng Tạo-Hóa
sanh, thì Tạo-Hóa đặng phần sửa
trị sai khiến phân định cả thảy,
không mảy nào sai sót. Tỉ như đời
trước, nước nầy sửa trị nước
kia, xứ kia lấn hiếp xứ nọ, nước
thì bị tai nạn khổ ách, nước
thì chịu man di mọi rợ, nước thì
đặng quốc-thới dân an, người
thì khổ hạnh nghèo nàn, kẻ thì
giàu sang thong-thả, người bị đui
cùi tàn tật, kẻ thì đặng da
thịt trơn liền, cũng do mạng lịnh
Trời phân định thưởng phạt
sửa khiến cho nhơn-loại, chớ chẳng
phải dưới thế nầy quyền-hành
ai phân-định đó đặng. Nếu
chúng ta biết luật Trời, cơ Tạo-Hóa,
thì dưới trái địa-cầu nầy
nhơn-loại toàn phải yêu mến nhau,
thương lẫn nhau như con một cha, vậy
mới phải người đồng-loại.
Bởi kể từ khai thiên lập địa
cho đến nay cũng có một Ðấng
Cha sanh đó mà thôi. Như một hột
giống chưởng gây ra sanh sanh hóa hóa,
mỗi xứ có nhơn-loại thì cũng
một Cha sanh, nếu chúng ta chẳng biết
luật Trời, cơ mầu-nhiệm Tạo-Hóa
cứ lấy sức người tranh cạnh nghịch
lẫn nhau, kẻ giàu hiếp người nghèo,
người mạnh hiếp người yếu
cho là chẳng có Trời phân định,
thì tôi xin trả lời: Vậy chớ ai
cho người giàu sang, có của mà hưởng
giàu sang đó? Vậy chớ ai cho nước
kia có thế lực sửa trị nước
nọ? Có phải là do Trời phân định
mới ra như thế chăng?
Nếu chúng ta chẳng
rõ, không chịu mấy điều của
Trời Ðất thưởng phạt đó,
mà gượng làm trái lẽ Trời phân
định, thì là nghịch hẳn với
Tạo-Hóa. Nếu trái lẽ Tạo-Hóa,
thì phạm tội nghịch Thiên, mà bị
phạt thêm nữa! Hễ nghịch Thiên thì
phải tiêu-diệt, nên sách: " Thuận
Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả
vong ". Nên chúng ta biết Trời
sanh, thì Trời phải có quyền sửa
trị, một mảy không sai, vậy nên
lo tu tâm sửa tánh ở cho thuận lòng
Trời, giữ phận làm con cho ra hiền, nên
sách rằng: " Hoàng Thiên bất phụ
thiện tâm nhơn ", nghĩa là: Trời
đâu có bỏ lòng người hiền
lành hiếu Ðạo. Chúng ta cứ gốc
mà vun đắp bồi bổ, thì nhánh
lá tự nhiên thạnh mậu, chớ để
gốc ung sùng, mà lo trên nhánh lá,
làm sao nó tươi tắn sống đặng!
Nếu chúng ta chẳng có chút nào hiền-lành
nhơn đức khổ cực với đời,
thì Trời lấy công-quả gì mà
ban thưởng cho chúng ta đặng an-hưởng?
Ta muốn giàu sang mà làm việc gian ác,
chẳng khác nào Trời đã phát cho
thân-thể nghèo nàn cực khổ, mà
chẳng biết ăn-năn, tu tâm sửa tánh,
lại còn làm điều gian ác đặng
Trời phạt thêm nữa thì phải mất
phẩm nhơn-loại còn đâu đứng
làm người mà an hưởng ơn Trời
ban. Vậy phải sớm thức tỉnh mà
tầm Ðạo.
Chương Thứ Nhứt
Nguồn cội của loài người do tự
nơi đâu mà có, thì người
có học cũng biết rằng: Từ khi chưa
có Trời Ðất, thì chưa có chi
trong Kiền-Khôn thế-giới nầy, duy có
một khí Hư-Vô mà thôi. ( Khí Hư-Vô
là thanh khí nhẹ không cùng tột, nơi
trong không khí ). Khi ấy mới sanh ra Thái-Cực
là Chúa của Kiền-Khôn. Thái-Cực
biến sanh Lưỡng-Nghi, Lưỡng-Nghi biến
sanh Tứ-Tượng, Tứ-Tượng biến
sanh Bát-Quái, đến Vật-Chất ( là
thứ có hình-dạng khối chất ). Từ
trong Vật-Chất mà biến sanh lần ra Thảo-Mộc
( loại cỏ cây ), Thảo-Mộc chuyển
biến sanh lần đến Thú-cầm, Thú-cầm
chuyển kiếp lần đến loài người,
thì loài người cũng phải chịu
chuyển kiếp lẫn-lộn trong vật-chất,
thảo-mộc, thú-cầm ngàn muôn kiếp
mới đến loài người. Loài người
biết tu-hành làm âm-chất mà chuộc
tội và luyện tập Tánh-linh thì chuyển
lên Thần, Thánh, Tiên, Phật, trở
về khí Hư-vô. Như kiếp tu-hành
ít thì linh-hồn tiến lên ít. Còn
tu-hành nhiều âm-chất, luyện bỏ
đặng tánh phàm thì thành trong một
kiếp... Nếu còn tham dục vọng mê
trần, không lo cho linh-hồn tiến-hóa chuyển
lên, thì phải trở lại lẫn-lộn
theo vật-chất nữa, kêu là chuyển
kiếp Luân-hồi ( xây trở lại ). Sự
chuyển kiếp luân-hồi, thay hồn đổi
xác, từ vật-chất lên thảo-mộc,
thú-cầm đến loài người, thì
tôi lấy sự thấy trước mắt
chỉ cho chư Hiền rõ: Như lá chanh
hóa thành con Dọt-Sành, rể Lăng hóa
thành Lươn, con Tằm chuyển sanh con Nhộng.
Nhộng chuyển Bướm, con Sâu chuyển
sanh Bướm, con sùng trắng hóa thành
con Kiến-Dương ( le ver-blanc se transforme en hanneton
). Con Chuột hóa thành Dơi, Dơi thành
Chim, Lươn đổi lốt thành Chồn,
Cá hóa Long, Sấu hóa Cù. Nên loài
người vẫn trong đó mà tiến-hóa
chuyển lần lên. Các loại hóa sanh
do sự chuyển kiếp như vậy mà tuần-tự
tiến-hóa đến kiếp con người.
Người tu-hành tiến lên địa-vị
Thần, Thánh, Tiên, Phật nên, Phật
có lời: " Cả thảy chúng-sanh đều
có Phật tánh "; còn Nho rằng: "
Nhơn nhơn Thiên phú sở Tánh ";
nghĩa là mỗi người đều có
tánh Trời cho.
Vậy nguồn cội loài
người do nơi Vô Thỉ Không-Khí
chuyển kiếp tiến-hóa theo như thế
đó.
Chương Thứ Nhì
Ðạo là Tiên-Thiên
nhứt khí bổn thể hư-vô.
Ðạo vốn không tên, mượn danh
kêu là " Ðạo ".
Bỡi một phần Âm, một phần Dương
hiệp lại cũng là Ðạo. Ðạo
là cơ-quan ( cái máy ) chủ-tể của
sự sanh sanh hóa hóa, nên nhứt nhứt
cả thảy hễ có sanh hóa đặng
gọi là Ðạo; nếu làm cho nó không
sanh hóa đặng là thất Ðạo. Vậy
nên Ðạo gọi là: " Thiên-Ðịa
giao thới pháp luân thường chuyển
". Nghĩa là: Trời Ðất hiệp hòa,
thì cái máy nó xoay trở chuyển vận
mới sanh sanh hóa hóa đặng. Ðạo
gọi: " Âm Dương phối hiệp, vạn-vật
hóa sanh ". Nghĩa là: Khí âm khí
dương cảm xúc nhau, muôn vật mới
sanh hóa. Có chỗ gọi là: " Thần
khí tương giao thấu tổ cơ ". Nghĩa
là: Thần với Khí hiệp lại đặng,
thì thấu nơi chỗ Ðạo. Nếu người
học được thông chỗ tiên-thiên
nhứt khí là đắc Ðạo.
Chương Thứ Ba
Tại cuộc tuần-hườn
của chúng ta đã chuyển đến thì
giờ cảm xúc chơn ngươn ( Tiên-thiên
ngươn Thần ) sẵn lòng bác-ái
biết tỉnh-ngộ ăn năn, nhớ lo tu
sửa bổn tánh của chúng ta lại cho
khỏi bị thiên-điều hình phạt,
luân-hồi chuyển kiếp đọa lạc
biển khổ, đặng đem cái tánh
linh về hội hiệp nơi căn xưa bổn
cũ của Ðấng Sắm Tạo.
Bỡi chúng ta đã
nhiều kiếp có lành nhơn chi đó,
nên nay miêu sanh ( là mộng nhơn
) vẫn còn, đến thì giờ Tạo-Hóa
chuyển Ðạo thì chúng ta manh động
ứng cảm, phát khởi hồi đầu
hướng thiện (1), thuận theo lẽ tự
nhiên của Trời. Nên sách rằng: "
Thiên nhơn hiệp phát ". Nghĩa là
Trời với Người đồng chuyển
hóa sanh phát một lượt. Cũng như
loài thảo-mộc đến đúng giờ
của chúng nó phải sanh bông trổ trái,
chúng ta tỉ như hột giống chi đó
mà chưa hư ẩm, lại gặp thì tiết
Trời mưa xuống thắm ướt đến
nhơn mộng giống ấy, thì nứt
tược sanh cây nẩy lá. Chúng ta phải
tu là tại đúng thì Trời khai Ðạo
ra, rưới đầy khắp chốn, vì
chúng ta lâu nay chẳng biết tu nên thường
làm hung dữ, như hột giống đã
gặp đặng nước đến thì
phải nứt tược sanh cây nở lá,
tại nơi lý ấy nên chúng ta phải
tu.
(1) Quay đầu đổi
tánh dữ đem lại lành.
Chương Thứ Tư
Tu hành rất bổ ích
cho chúng ta lắm. Nếu tu thì điều
lành xung thấu đến Trời, Trời đặng
thêm dương khí thạnh vượng,thì
gió mưa thuận thời. Chúng ta tu điềm
lành ứng xuống nơi đất thì khỏi
dấy động điều tai biến, muôn
vật đặng phần sanh hóa. Chúng ta
tu điều lành đến cho chúng ta thì
khỏi điều tranh cạnh nghịch lẫn
hiếp đáp giết hại nhau, tránh đặng
kiếp sát, những điều tai biến hãm
hại xác hình nhơn-loại đặng
an, cộng hưởng thái-bình, linh-hồn
của chúng ta tu đặng siêu thăng thoát
hóa trở về ngôi cũ. Chúng ta tu thì
loài vật khỏi bị điều tế-sát
thương-sanh, nếu loài vật khỏi chết
thì đặng phần sanh sanh hóa hóa, đó
là bổ ích cho Trời, Ðất, Người
cùng vật. Có bài thi của Thần-Nữ
cho:
Tu là cội phước
vẹn thân sau,
Tu ấy nguồn trong rửa mạch sầu.
Tu giải oan khiên căn nghiệp trước,
Tu trau nền hạnh nguyệt soi làu.
Chương Thứ Năm
Ăn chay nó bổ ích
cho Xác-Thân và Linh-Hồn. Nếu muốn
Xác-Thân chay, trước cần phải ăn
chay, mà ăn chay thì phải dùng toàn
đồ Rau, Ðậu, Hoa, Quả. Những vật
thực đó vào tỳ-vị ( bao tử
) tiêu-hóa chia ra mà tiếp bổ xác
thân và hồn con người, thì xác
thân con người vốn là một khối
chất chứa những sanh vật hoa quả rau
đậu, nó nuôi nấng trưởng thành.
Vật thực ấy nó cũng là vị thuốc
bổ hơn hết, nó có thanh-khí ( điển-quang
trong sạch ), tiếp bổ cho xác thân và
linh-hồn. Thiêng-liêng nhờ được
linh-khí tinh khiết ấy, nhẹ-nhàng đặng
cao siêu thoát hóa mà thành. Ấy là
phần của xác thân.
Còn phần linh-hồn
( lòng người chay ): Lòng người chay
thì phải giữ luật Ðạo, tu tâm
sửa tánh, tập luyện trừ bỏ đặng
lòng tham dục-vọng. Nếu còn tham dục-vọng,
thì lòng chưa chay lạt chi cả. Tham dục-vọng
nghĩa là: Vào Ðạo mà không sửa
đổi tâm tánh ngay thẳng hiền lành,
và không làm điều ích lợi cho
người cùng muôn vật, không chứa
âm-đức chi cho Trời Ðất cậy
nhờ, mà lòng trông mong làm Thần,
Thánh, Tiên, Phật. Ðó là lòng
tham dục không chay, hoặc muốn những
điều lợi mình, sung-sướng mình,
no đủ mình, trọng mình hơn người,
lo điều vừa chí mình, mà làm
cho mọi người phải chịu thiệt hại,
và muôn vật không sanh tồn đặng,
là lòng tham dục-vọng không chay đó.
Lòng chay kể không
xiết, xin nói tóm-tắt: Lòng chay của
con người, là lòng tự nhiên như
thuở mới sanh, không có lòng tư-vị
tham muốn hơn thua tranh giành lợi hại
ai cả, ấy là lòng chay. Khi người
mới sanh bổn tánh vẫn lành, nếu
miệng bụng chay mà lòng không chay, không
thế thành đặng, nên cần lòng
phải chay trước hết.
Còn xác thân không
chay ra thể nào?
Như xác thân không
chay, thì phải ăn thịt của thú-cầm
mà nuôi xác thân, vật-thực thú-cầm
ấy vào tỳ-vị ( bao-tử ), phải tiêu-hóa
mà nuôi xác thân. Nhiều năm tích
khối lại trưởng thành, xác thân
ấy phải chất chứa pha lẫn thịt
của thú-cầm vào mà thành ra xác
thân người, thì nó không tinh-khiết
nhẹ-nhàng được siêu-thăng. Lại
còn những loài thú-cầm nó hay ăn
tạp vật, hoặc nó ăn nhầm vi-trùng
độc có bịnh, nếu chúng ta ăn
nhầm thịt ấy vào tỳ-vị, lúc
còn mạnh thì nó lướt đặng;
đến khi yếu, những vi-trùng độc
ấy nó biến sanh nhiều chứng bịnh
khó trị. Vậy bao-tử con người mà
chất chứa những vật thực thú-cầm
đó chẳng khác câu phương-ngôn
rằng:" Bao tử của con người là
mồ mả của thú-vật ". Mà cho
là mồ mả thú-cầm thì thành đất
nhị-tỳ hay là nghĩa-địa của
thú vật; nếu chất chứa nhiều vong
mạng, thì sở ấy thật là nhiều
âm-hồn thú-vật. Có khi cô-hồn
nó xúm nhau lại, xúi giục cho người
làm điều tội lỗi, đặng trả
thù oan mạng nó. Tỉ như xe lửa cán
mạng người còn có âm-hồn thay,
huống lựa là bao-tử người biết
bấy nhiêu sanh mạng chất chứa vào
đó, mà không có cô-hồn thú-vật
theo hay sao?
Nếu biết dùng đặng
đồ chay, thì bao-tử ấy chất chứa
toàn đồ hoa quả rau đậu, thì
bao-tử ấy tỉ như sở đất trồng
cây trái hoa quả rau đậu đó thôi.
Nên tu hành cũng phải
mượn xác thân cho tinh-khiết, thì
linh-hồn mới trong sạch đặng. Dùng
đồ chay, nghĩa là cổi lần lốt
thú-cầm trong xác thân con người ra,
cho khỏi lẫn-lộn với thú-cầm nữa,
mới thành hình Thần, Thánh, Tiên,
Phật đặng. Ấy vậy, xác thân
phải chay mới toàn vẹn. Tôi xin tỏ
ý chữ nhục là thịt, có
câu thích nghĩa chữ nhục như vầy:
Nhục trung lý nội
lưỡng cá nhơn,
Nội diện chiếu kiến ngoại diện
nhơn.
Chúng sanh hườn thực chúng sanh nhục,
Tử-tế tư lương nhơn ngật
nhơn.
Nghĩa xuôi
Trong chữ nhục có
hai chữ nhơn người,
Người trong đội thấy người
ngoài,
Chúng sanh trở lại ăn lầm thịt
nhau,
Lo lường tính toán người ăn
thịt người !
Mà không hay ! Bỡi
người cũng phải chịu chuyển luân
trong vật-chất mới lần đến loài
người thì một gốc mà ra.
* Chú-thích: Những
chữ nhục, và chữ nhơn tác-giả
đều có phụ-chú chữ Hán. Ở
đây không có chữ Hán.
Chương Thứ Sáu
Tại nhơn-sanh do nơi
" Bổn nguyên nhứt điểm Vô-cực
" ( Tạo-hóa ) phân chia Chơn-thần sanh
sanh hóa hóa, lạc hạ nơi thế, vẫn
xuống càng ngày càng tăng số, lại
bị nhiễm lây hậu thiên trược
địa, giao cảm ác khí làm cho tánh
xưa đổi biến, mất chất thiên-nhiên
lu mờ điểm tánh linh của Tạo-hóa
ban cho mỗi người. Lại còn lưu-luyến
hồng trần, làm các điều hung ác,
hại tổn cho đời hắc khí xung thiên,
chơn dương thất chánh, nên Tạo-hóa
lập định Tam-Ngươn Long-Huê Kỳ-Hội.
Tam-Ngươn là: Thượng, trung, hạ;
ba ngươn. Kỳ, là: Nhứt kỳ,
nhị kỳ, tam kỳ. Hội là: Hội-hiệp
các chơn-linh của Tạo-hóa đem về
phong thưởng.
Nên lập Ðạo mỗi
kỳ đặng độ rỗi sanh chúng tu
tâm sửa tánh, bỏ dữ về lành,
luyện âm hóa dương, ngưng tụ
Chơn-thần, trở về nguyên bổn. Ðạo
gọi là: chiết khảm điều ly, lấy
dương lấp âm, cho ra thành càn, Nho-gia
rằng: " Quân tử chung nhựt càn càn
".(1)
Nữ-Oa gọi luyện thạch
bổ thanh thiên, luyện đá vá trời.
Ðạo là âm-dương chuyển biến,
xây đổi. Nên phần âm là phần
mất lẽ công chánh, sanh kế giết
hại lẫn nhau, gian tham xảo trá, hư phong
bại tục, đó là ngũ trược
ác thế, đã cuối cùng, đến
kỳ vận chuyển lại phần dương,
nhơn hiền từ thiện, thật thà, chơn
chất, thuần-phong mỹ-tục. Ðạo gọi
là Âm tận Dương sanh ( hết lúc
tối đến lúc sáng ), theo lẽ Thiên
Ðịa tuần hườn châu nhi phục
thỉ. Bỡi do cơ vận chuyển Tam-kỳ,
mở Ðạo lần ba, bày bố những
tinh-thần đạo-đức ra mà cứu
vớt chúng-sanh, độ rỗi nguyên-nhơn
trở về ngôi cũ, vậy mới có
Tam-kỳ Phổ-độ.
(1) Quân-tử nghĩa
là người chí-nhơn tột lành. Chung
nhựt càn càn là trọn ngày không
cho xen lòng nhơn dục, và âm khí lấn
vào điểm linh tánh, thì phần dương
không hao khuyết; mới ra quẻ " càn tam
liên ". Càn là Trời vậy.
Chương Thứ Bảy
Ðại-Ðạo
nghĩa là: Ðạo cả cao siêu. Trời
mở rộng ra toàn khắp thế-giới.
Tam-Kỳ nghĩa là: lần nầy là
lần thứ ba. Phổ-Ðộ là phô
trương bày bố ra, độ là
độ rỗi cứu vớt sanh chúng, nơi
chốn u-ám chìm đắm sa đọa luân-hồi.
Chương Thứ Tám
Chúng ta vào Ðạo,
đặng nhiều điều ảnh-hưởng
trở nên khác lạ hơn lúc chưa
có Ðạo. Khác lạ là bỏ bớt
đặng những điều rượu ngon thịt
béo, gái non sắc đẹp, bạc bài,
xa xí, khí nộ xúc phạm, cùng vạy
tà gian-tham xảo trá, lận lường hiếp
đáp, giết hại nhau, đó là ảnh-hưởng
lợi ích cho chúng ta hiển nhiên trước
mắt.
Ðạo là luật-lệ
công-bình thiêng-liêng của Tạo-hóa
để truyền bá cho đời. Người
có Ðạo chẳng khác nào thợ khéo,
làm việc chi đã có sợi mực giăng,
có thước độ, thì khi dụng mới
nên đồ. Nếu người không có
Ðạo, chẳng khác chi làm thợ không
mực thước, tới khi dụng đâu
nên đồ đặng! Song người giữ
Ðạo đặng noi theo luật pháp qui điều
mà sửa cải răn cái tâm tánh cho
trở nên từ thiện, bỏ những điều
ác, vạy tà, gian-tham, xảo trá, rượu
thịt bài bạc, tránh điều cạnh
tranh hiếp đáp, giết hại lẫn nhau
nữa. Như vậy mới đặng hạng
người cao thượng siêu thoát luân-hồi,
khỏi đầu sanh chuyển kiếp, vay vay trả
trả, mà lại đặng chứng ngôi
Hiền, Thánh, Tiên, Phật, về cựu
vị, hạp lý thiên nhiên của Tạo-hóa.
Ấy là lợi ích về phần giữ
Ðạo đó. Chúng ta vào Ðạo,
chủ nghĩa là học răn lòng sửa
tánh, tu tích hồi thiện, cho khỏi sái
luật công-bình thiêng-liêng của Tạo-hóa.
Vậy ngước lên không hổ cùng
Trời, cuối xuống không thẹn cùng
Ðất. Nên sách rằng: " Thường
bã nhứt tâm hành chánh đạo, tự
nhiên Thiên Ðịa bất tương khuy
". Nghĩa là: hằng giữ một lòng
tu thân hành đạo chánh, thì tự
nhiên không điều chi mích phạm đến
Trời Ðất. Nếu chúng ta chẳng vào
Ðạo, đâu biết giữ luật Ðạo,
thì phải lo đua danh cướp lợi, đắm
những rượu thịt bạc bài, lấy
điều bất công-bình mà hiếp đáp
nhau, sanh lòng bạo ngược, hung ác gian
tham xảo trá, lập kế sát hại lẫn
nhau, đâu biết luật Trời mà làm
lành lánh dữ. Nếu chúng ta như vậy,
là ra hạng người thấp hèn mà
bị trong vòng sanh nghề tử nghiệp.
Nay đã gặp đến
buổi tuần-huờn Trời xây mối Ðạo,
khai hóa gieo truyền tại phương Nam, chúng
ta vào Ðạo học tu thân, chẳng khác
chi chúng ta vào trường giáo-huấn
mà học sửa tâm phàm tánh tục
bỏ dữ về lành, đặng ra hạng
người nhơn từ hiền đức. Dẫu
ta không thành Hiền, Thánh, Tiên, Phật
đi nữa, thì cũng đặng ra phẩm
người hiền-đức, xa lánh được
những rượu thịt bài bạc, tranh giành
cấu xé nhau, tránh điều tội lỗi,
khỏi bị sa đọa luân-hồi chuyển
kiếp, không phạm đến luật Trời
hình phạt, thì cũng đặng phần
hơn khi chưa có vào Ðạo. Tỉ như
người dốt mới đến trường
học tập, chúng ta vì không Ðạo
mới vào Ðạo đặng học tập
sửa tánh tu thân. Chúng ta đã nhập
trường-học rồi, thì dẫu thi không
đậu cấp-bằng tốt nghiệp đi
nữa, cũng có lẽ biết chữ hơn
khi chưa vào trường học đó chớ,
lẽ nào dốt thêm hơn khi có học
đó sao?
Chúng ta vào Ðạo
tu thân, sự tấn-hóa lợi ích chẳng
khác nào như người đi học tập
vậy. Trời khai Ðạo, chúng ta vào
tu đây, ấy là Trời lập trường
thi công-quả đức-hạnh mà làm
Tiên, Phật, Thánh, Hiền. Nếu ai biết
thức tánh, giữ y luật Ðạo, lập
công bồi đức cho đầy-đủ,
đặng mà chứng quả vị Thánh,
Hiền, Tiên, Phật, ấy là điều
đại lợi ích chúng ta đó, nên
sách rằng " tu kỷ dĩ an bá tánh
" nghĩa là: chúng ta tu mà trong bá tánh
thảy đều yên tịnh hết. Ấy
là cũng do Ðạo. Lại có câu: "
Quốc hữu đạo tắc hưng, quốc
vô đạo tắc suy " nghĩa là: nước
nhà có đạo-đức hiền lành
thì dân trở nên thạnh hóa, đặng
thuần phong mỹ-tục; còn nước nhà
mà không đạo-đức hiền lành
thì lo tranh cạnh nhau đoạt quyền cướp
lợi giết hại lẫn nhau, thì tồi
phong bại tục mà phải nguy. Vậy nên
vào Ðạo lợi ích có phần hơn
cho chúng ta dường ấy.
Chương Thứ Chín
Chẳng phải vậy đâu
! Chúng ta xuất thế vào Ðạo mà
tu, đặng sửa tâm tánh, cho trở nên
người hiền lành nhơn đức, và
làm điều cho lợi nhơn, lợi vật,
những việc có ích cho đời mới
công-quả, phước đức đủ
đầy là Ðạo. Nếu chúng ta đi
tu mà lánh đời, không làm điều
ích chung, kiếm chỗ thanh vắng mà an ẩn,
lo phận sự riêng mình, thì có ích
chi cho Trời Ðất, cùng người vật
nơi thế cậy nhờ, thì công-quả
đức-hạnh đâu mà trông mong thành
đặng. Tỷ như chúng ta muốn làm
giàu, thì phải kiếm phương chước
chi, làm cho sanh lợi ra của mới giàu
đặng. Nếu muốn giàu có mà không
chịu khổ cực, thì tiền của đâu
nó đến cho mà giàu đặng !
Còn chúng ta muốn thành
Tiên, Phật, Thánh, Hiền, hay là hưởng
phước thì phải chịu khổ cực
với đời, lo cứu nhơn sanh, và tu
cho lợi ích Trời Ðất cùng người
vật, thì nhờ công quả ấy, mới
thăng thưởng cho chúng ta thành chánh-quả
đặng. Vậy nên chúng ta phải ở
thế, mà chịu những điều lao tâm
tiêu-tứ gay-go khổ não, cực nhọc
khốn đốn, cũng nhờ các điều
nơi thế-gian nầy mà trau giồi, tập
luyện cái tâm sắt đá của chúng
ta, nếu chịu đổi các điều ấy,
thì trở nên thành quả vị Tiên
Phật. Chúng ta tu đây chẳng khác khúc
gỗ kia phải để chịu cho đời
cưa cắt đục đẻo, bào chọt
chạm trỗ, cho ra hình tượng. Nếu
chúng ta tu mà chẳng chịu những điều
thế-gian đục đẻo bào chọt cùng
các sự khổ, thì như khúc gỗ
không chịu cho ai đục đẻo, đá
động đến thì đâu có ra dáng
hình chi mà nên đặng. Sách gọi
rằng: Phũ trát chi công dĩ thành
kim thân. Nghĩa là rìu búa đục
đẻo, chạm trổ mới ra hình dáng,
thì công-đức chúng ta lập nên
là đó. Các đấng Phật xưa
còn phải chịu trải qua tám mươi
mốt nạn mới thành. Nếu chúng ta
có Ðạo mà không có đức thì
làm sao thành? Có câu: Nhược bất
tích âm-công, chưởng âm-chất
động khởi quần ma tác chướng
duyên, nghĩa là: chẳng lập công-quả,
chẳng chứa âm-chất, thì ma-chướng
dấy động ngăn cản khó thể mà
thành Ðạo. Vậy chúng ta tu trước
phải ở thế lập công-đức, tập
rèn tu-luyện cho ra hạnh đạo, mà
thành Tiên, Phật, Thánh, Hiền mới
xứng, nên có câu: " Hổn tục hòa
hoan nhơn bất thức, hành vân lưu thủy
độ nguyên nhơn, nghĩa là " lộn
lạo nơi trần thế không ai rõ biết,
lặn suối trèo non, tìm kiếm người
mê mà độ dẫn ", là trường
lập công-đức vậy, chẳng luận
lên núi mà tu. Sách có câu: " Nhơn
nhơn hữu cá linh- sơn tháp, bất tại
linh-sơn chỉ tại tâm ". Nghĩa là:
" Người nào cũng có núi linh-sơn
trong tâm, chẳng phải lên núi mà gọi
là linh-sơn, linh-sơn chỉ tại nơi
lòng chúng ta ". Nếu lên núi hay vào
chùa mà không y luật Ðạo, tâm-tánh
không hiền lành, đạo-đức chẳng
có, làm sao thành hay là siêu-thoát
đặng? Nên phải chịu khổ với
đời cho âm-chất đầy-đủ,
sau sẽ kiếm nơi danh sơn phước-địa
mà tu bực đốn-giáo pháp-môn,
tối thượng nhứt thừa, vô-vi bí-pháp,
như các đấng Tiên, Phật, Thánh,
Hiền trước mới đặng. Chớ đừng
nghe Tiên Phật lên núi tu thành Ðạo,
mà nay chúng ta mới vào Ðạo, chưa
hiểu tâm-pháp là gì, công-quả
không có mà bắt chước lên núi
hay là chỗ tịnh ngồi luyện thì phải
bị tà khí nhập khiếu trung, gạt-gẫm
về nẽo lợi danh mà trở lại thế
nữa! Nên vào Ðạo phải cho thông
hiểu sơ-giai tu làm sao, trung-giai, chánh-giai
tu thể nào; chớ đừng gọi mới
vào trường giai lo đi thi cử-nhơn,
tấn-sĩ. Vậy chúng ta đừng lấy
tâm phàm ham muốn thái-quá thì sái
luật Ðạo, lại uổng công nhọc
sức. Nếu ai không tin lời tôi luận
đây, thì lấy ý riêng của mình
làm thử coi, có nguy hiểm không? Vậy
người mới vào Ðạo chẳng nên
kiếm chỗ thanh vắng sớm mà luyện
Ðạo là sái lý Ðạo.