PHẠM MÔN
Lời Nói Ðầu
Lược-sử Phạm-Môn
" Hồi-Ký" là cố moi óc hồi nhớ
lại những việc đã qua, từ buổi
Phạm-Môn mới phôi thai cho đến lúc
biến thành Cơ-Quan Phước-Thiện và
tiến đến thành hình Hội-Thánh Phước-Thiện
trong nền Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ,
để ghi lại những gì chính mình
mắt thấy tai nghe, hoặc những người
trực-diện trong cuộc tường-thuật lại
để anh em cùng hiểu biết với nhau trong
tình chân thành, đồng thời đồng
chí hướng.
Phạm-Môn là con đường
thứ Ba hay là cửa Tu-Chơn trong nền Ðại-Ðạo,
mỗi mỗi việc chi đều do khẩu-thuyết
mật-truyền của Ðức Hộ-Pháp chớ
không có giấy tờ văn-kiện chi hết.
Vì thế nên muốn tìm lại một chứng-minh
cụ thể nào về Phạm-Môn đều
không thể có.
Nhưng thiết nghĩ Phạm-Môn
cũng là một Cơ-Quan trọng-yếu trong
nền Ðại-Ðạo nên không thể
thiếu trong Bộ Ðạo-Sử nầy. Nếu
những người đương thời không
có ghi lại thì các Sử-Gia hậu thế
biết căn cứ vào đâu mà sưu-khảo
hầu hoàn-thành Bộ Ðạo-Sử được
đầy-đủ.
Riêng về kẽ viết
bảng Phạm-Môn Lược-Sử nầy không
bao giờ dám có cao vọng sẽ chen tựa
trong bậc ngưỡng cửa Sử-Gia nền Ðại-Ðạo,
nhưng trót lỡ nhận sự phú-thác
của đàn Anh nên không thể vì lẽ
gì từ chối được.
Vẫn biết rằng : Tôi
là kẽ thấy cạn hiểu gần thì
dám đâu tự xứng với việc quá
sức mình, nhưng nhìn kỹ lại các
bậc đàn Anh trong cửa Phạm-Môn đã
kẽ trước người sau lần hồi qui-vị
gần như sắp hết, chỉ còn lại
năm bảy Anh đều là đã lưng
còm tóc bạc, tai điếc mắt lờ.
Nên dầu cho tôi có ngập-ngừng e ngại
đến đâu, buộc lòng cũng phải
cố gượng-gắng làm việc của đàn
Anh giao phó, nhưng chắc rằng không tránh
khỏi những điều thiếu sót và
cũng hẵn là việc lầm-lỗi về
luật hành-văn không phải ít.
Kính xin Quí Vị cao-minh
rộng tình thông-cảm lượng thứ
cho và bổ-túc thêm những điều
thiếu sót.
" Phạm-giáo tùy ngươn
cứu thế độ nhơn hành Chánh-pháp,
Môn-quyền định hội trừ tà diệt
mị hộ Chơn-truyền ".
Lược-Sử Phạm-Môn
Hồi-Ký
Phạm-Môn phôi thai từ năm Kỷ-Tỵ
(1929), khởi thủy do Ðức Hộ-Pháp sang
phần đất tại xóm Trường-Ðua
thuộc xã Hiệp-Ninh, quận Châu-Thành,
tình Tây-Ninh tạo một ngôi nhà, ngôi
nhà đầu tiên nầy do Ðức Hộ-Pháp
đặt cho Ông Lễ-Sanh Thượng-Ngươn-Thanh
lãnh khoán, khi làm xong kéo đem tới
dựng lên ( nhà cột cây lợp tranh ).
Trong lúc đang kiến tạo
ngôi nhà nầy có một số người
Ðạo Tâm tự đến xin làm giúp
cho Ðức Hộ-Pháp. Mục đích của
những người nầy là muốn được
gần gũi Ðức Hộ-Pháp để học
Ðạo và cứ như thế số người
đến xin làm mỗi ngày thêm đông.
Ðến năm Canh-Ngọ
(1930) Ðức Hộ-Pháp mới nói với
những người nầy rằng: Chỗ nầy
không phải chỗ làm công-quả, nếu
ai muốn làm công-quả, thì về trong
Tòa-Thánh mà làm. Còn như em nào
muốn theo Qua, thì phải làm tờ Hiến-Thân
trọn đời vào Phạm-Môn và phải
có cha mẹ với vợ bằng lòng ký
tên cho hiến-thân mới đặng, đồng
thời Tờ Hiến-Thân phải có Ðầu-Họ
Ðạo vi chứng. Những anh em nầy hợp
nhau bàn tính, kết quả anh em đồng-ý
làm Tờ Hiến-Thân. Khi làm Tờ Hiến-Thân
xong đệ lên Ðức Hộ-Pháp, Ngài
xem xong rồi đệ luôn qua cho Ngài Ðầu-Sư
Thượng-Trung-Nhựt.
Từ ngày Anh, Em làm Tờ
Hiến-Thân rồi, Ðức Thầy buộc
làm công mỗi tháng phải làm đủ
27 ngày,nghỉ 3 ngày là: Mồng 1, 20 và
30. Nếu tháng thiếu nghỉ ngày 29. Ðến đây nhận
thấy số người khá đông, phần
ăn uống có mòi thiếu-thốn. Mấy
người lớn tuổi có phần hiểu
biết hơn, mới phân ra một số đi
cưa cây làm cửa để trang trí ngôi
nhà mới cất, còn m số thì lo kiếm
rung đặng làm, khi bàn tính xong trình
lên cho Ðức Thầy hay, được Ðức
Thầy chấp thuận và Ðức Thầy
hỏi mướn sở rung của bà Nữ Chánh-Phối-Sư
Lâm-Hương-Thanh tọa lạc tại Bến-Sỏi
Tây-Ninh. Vụ làm rung do Ông Võ-Văn-Lèo
làm chủ-sở và nhờ Anh, Em ở xã
Ninh-Ðiền và Trà-Siêm giúp trâu
cày rung và lúa giống.
Khi ngôi nhà được
trang-trí kín đáo, xây hai cây trụ
cửa ngỏ xong, Ðức Thầy mới dạy
làm tấm bảng đề hai chữ " Phạm-Nghiệp
" và dăng lên đôi liễng như vầy:
" Phạm -Nghiệp thừa
nhàn lợi- lộc công- danh vô sở dụng,
Môn- Quan tích Ðạo tinh- thần pháp-
bữu hữu cơ cầu ".
Ðồng thời Ðức
Thầy dạy Anh Em về Tòa-Thánh tạo Sở
" Khách-Ðình " kế lộ Phước-Ðức-Cù,
sau hậu nhà Sở Khách-Ðình sát với
rừng cấm ( hướng Nam Tòa-Thánh ). Nhà
Sở nầy do Ông Nguyễn văn Lư làm
chủ- sở. Trong lúc tạo Cơ-Sở nầy
cơm gạo rất thiếu- thốn, mỗi bửa
ăn là khoai mì với lá đậu rồng,
lá cây búng chấm nước muối. Lúc
đó, Ông Phạm văn Út là người
nhỏ tuổi hơn hết ( lối 20 tuổi )
tới bửa ăn vô thấy toàn là khoai
mì với nước muối liền khóc ròng,
vì đã kéo dài đến cả tháng
mà chưa được có bữa cơm nào.
Lạ thật một điều là trong số
anh em nầy khi có ai về thăm nhà, cha mẹ
hoặc vợ con hỏi thăm lên trên chùa
làm công- quả là làm việc gì? Trả
lời: - Làm nhà, học kinh, học Ðạo,
và trồng tỉa, chớ không bao giờ cho
biết sự khổ- hạnh đói khát, vì
sợ cha mẹ vợ con buồn rồi không cho
đi nữa. Mãi đến sau có dịp hỏi
lại với nhau mới biết mỗi người
trả- lời với gia- đình giống như
nhau.
Lúc làm cây tạo
dựng nhà Sở Khách-Ðình, đã
gần đến ngày dựng mà còn thiếu
cây đòn dông, Anh Em mới bạo gan vô
rừng cấm đốn cây dầu nước,
rồi mượn mấy Anh Em người Miên
phụ khiêng đem về cưa ra đặng
làm cây đòn dông. Khi vừa cưa xong
chưa kịp dọn dẹp, kế có Ông Ði
Ngự là Ði Kiểm Lâm vô tới thấy
cây mới cưa, nên đi vòng theo mé
rừng thấy dấu đường khiêng cây
về liền trở vô bắt viết lập
Biên-Bản. Anh em liền đến trình cho
Ðức Thầy hay, Ðức Thầy nói: -
Nó muốn kiếm tiền đó,mấy em về
năn- nỉ cho tiền nó là xong. Anh em liền
trở về năn- nỉ và cho năm đồng
bạc ( 5$00 ) Thầy Ði Ngự nói: - Thôi,
tôi vui lòng tha cho, nhưng từ nay đừng
ăn cắp cây của Nhà Nước nữa.
Nói rồi xé hủy Biên-Bản ra về.
Ðến cuối năm Canh-Ngọ
(1930) Ðức Thầy cho anh em xuống mở Sở
Phạm-Môn tại Tâm - Lạch thuộc xã
Trường-Hòa ( Tây-Ninh ) do Ông Lê văn
Lưu làm Chủ-Sở sắp đặt việc
nhà cửa và canh-tác ruộng rẫy.
Ông Phạm văn Màng
nhiệm-vụ coi Anh Em người Miên làm
hằng ngày. Vì Sở nầy có bốn chục
(40) người Miên kể cả Nam ,Nữ. Còn
người Việt-Nam lối hai chục người
(20).
Ông Lại văn Sắc
lo về Lương-Thực và Ngoại-Giao. Khi
mới đến tạm ở nơi nhà của
Ông Út Giáp ( Phạm văn Giáp ) , vì
nhà của Ông Giáp gần chỗ tạo
nhà Sở, phần lớn trong ni vụ kiến-tạo
nhà Sở nầy đều nhờ sự giúp
đỡ của Anh Em Ông Giáp. Nguyên bỡi
Ông Phạm văn Giáp lúc nầy đang
ở giúp việc cho Ðức Thầy tại
Hộ-Pháp-Ðường. Khi khỡi sự khai
mở ruộng rẫy, lúc đem trâu ra máng
cày vô rồi, chính Ðức Thầy cầm
cày, Anh Em dắt trâu, cày đủ ba vòng
Ðức Thầy trao lại cho Anh Em ỡ Sỏ
cày.
Cũng trong năm này, Ðức
Thầy dạy cả Anh Em phải học Thập
Ðiều Giới Răn, phải học cho thuộc
làu đặng khi Thầy biểu đọc lại
là phải cho thuộc.
Thập Ðiều Giới
Răn
như dưới đây:
1/- Phải tuân-y Luật-Pháp
Chơn-Truyền của Chí-Tôn.
2/ Phải trọn hiếu với Tông-Ðường
Phụ Mẫu, trọn nghĩa Vợ Chồng, vẹn
phận làm Cha.
3/- Phải trọn giữ trai-giới.
4/- Phải xa lánh các Ðảng phái.
5/- Phải thật-hành Phước-Thiện, nuôi
người già, dưỡng trẻ nhỏ.
6/- Không đặng thâu của chúng-sanh.
7/- Coi Anh Em đồng Ðạo như ruột thịt.
8/- Không được bi Sư phản bạn.
9/- Phải ở như các Thánh Hiền, đừng
phạm tội vong công bi đức.
10/- Phải thương yêu loài người
và loài vật, kính trọng mạng sanh,
vì theo tánh chất của Chí- Tôn là
chúa sự sống.
Ðến năm Tân-Mùi
(1931) Ðức Thầy dạy Ông Trịnh Phong
Cương ra tạo Sở Giang-Tân kế mé
sôngVàm-Cỏ-Ðông thuộc xã Trường-Hòa
sát ranh với xã Long-Thành. Sở Nam Công-Nghệ
gần ngã ba đi Suối Ðá và đi
Chà Là, tại nách đường đi vô
Thái-Bình Thánh-Ðịa ( nghĩa địa
) do Ông Võ văn Ðợi tự Ðại
làm Chủ-Sở.
Sở Nữ Công-Nghệ
ở gần ngã tư Ao Hồ kế bên cửa
số 7 ngoại ô Thánh-Ðịa do Ông
Ðinh văn Tiết làm Chủ-Sở. Sở Dưỡng-Lão-Ðường
cũng gần ngã tư Ao Hồ , nền nhà
Sở là Ðiện-Thờ Phật-Mẫu Ðệ-Tam
ngày nay ( Canh Thân 1980 ) do Ông Lê văn Tri
làm Chủ-Sở.
- Ðến cuối năm
Tân-Mùi (1931) Ðức Thầy cho hay đến
ngày mồng 3 tháng Giêng Nhâm -Thân (1932)
sẽ làm Lễ Hồng-Thệ ( Ðào-Viên-Pháp
) tại Sở Trường-Hòa.
Trước khi hồi-ký
lại nội vụ Hồng-Thệ tôi xin ghi lại
hai mươi ba vị (23 vị) Minh-Thiện-Ðàn
thuộc Thánh-Thất Khổ-Hiền-Trang xã
Phú-Mỹ, quận Châu-Thành, tỉnh Mỹ-Tho
đã Hồng-Thệ từ ngày rằm tháng
hai Canh-Ngũ (1930) tại Thánh-Thất Khổ-Hiền-Trang
(1). Chiếu theo Niên Lịch thì 23 vị Minh-Thiện-Ðàn
Hồng-Thệ trước, nên xin ghi vào đây
trước. Hơn nữa, Minh-Thiện-Ðàn
cũng là Phạm-Môn cũng như Trí-Huệ-Cung,
Trí-Giác-Cung, và Vạn-Pháp-Cung tựu
trung cũng là Phạm-Môn. Danh sách 23 vị
Minh-Thiện-Ðàn Hồng-Thệ kể dưới
đây:
Họ và Tên
1 Phan văn Minh
2 Lê văn Trung
3 Huỳnh văn Phuông
4 Ðinh công Trứ
5 Trần văn Ðăng
6 Trần văn Lợi
7 Nguyễn văn Tấn
8 Lê văn An
9 Trần thành Mậu
10 Nguyễn văn Tươi
11 Lê cảnh Phước
12 Hồ văn Huyện
13 Lê văn Ninh
14 Nguyễn văn Soi
15 Dương văn Hiệp
16 Nguyễn văn Hậu
17 Nguyễn văn Vàng
18 Phan văn Hưởn
19 Hồ văn Cửu
20 Ðỗ văn Phở
21 Ung văn Lưng
22 Nguyễn văn Sùng
23 Lê văn Dương
|
Xã
Phú-Mỹ
Phú-Mỹ
Phú-Mỹ
Phú-Mỹ
Long-Hòa
Lương-Hòa-Lạc
Lương-Hòa-Lạc
Phú-Mỹ
Phú-Mỹ
Phú-Mỹ
Phú-Mỹ
Phú-Mỹ
Phú-Mỹ
Phú-Mỹ
Hưng-Thạnh-Mỹ
Lương-Hòa
Ðạo-Ngạn
An-Hữu
Tân-Hòa-Thành
Tân-Hòa-Thành
Tân-Hòa-Thành
Phú-Mỹ
Tân-Hòa-Thành
|
Quận
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
|
Tỉnh
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
Mỹ-Tho
|
Ðúng ngày mồng 3 tháng Giêng Nhâm-Thân
(1932) cả Anh Em Phạm-Môn Nam Nữ và luôn
cả Cha Mẹ Vợ Con của Anh Em đều tựu
đến Sở Trường-Hòa rất đông
phỏng chừng lối ngàn người.
Ðến 7 giờ tối
Ðức Thầy dạy lấy một cái thau
rửa thật sạch, đem để trước
Thiên-Bàn, Ðức Thầy nói: Ðáng
lẽ là mỗi người có tên Hồng-Thệ
hôm nay tự mình cắt tay lấy máu đựng
chung trong thau nầy rồi mỗi người uống
một hớp, nhưng mấy em là người
Ðạo mỗi người đều giữ trường-trai
không thể làm như vậy được,
nên phải dùng rượu chát đỏ
thay thế, đổ rượu vào thau nầy
cho nhiều vì mấy em đông lắm, lại
thêm Cha Mẹ, Vợ Con của mấy em. Khi đổ
rượu vào thau xong, Ðức Thầy làm
lễ Chí-Tôn và hành pháp vào thau
rượu rồi kêu từ người theo danh
bộ đã chọn sẵn và cả Cha Mẹ,
Vợ Con của người được Hồng-Thệ
vô.
Người chánh danh Phạm-Môn
được Hồng-Thệ quì trước
Thiên-Bàn nguyện như vầy:
Tôi là: ..................................tôi
thề rằng:
Từ nay tôi coi Anh Em Phạm-Môn như ruột
thịt, sanh tử bất ly, thoảng có điều
chi hoạn-nạn thì tôi liều mình với
Anh Em, tôi thất nguyện quyền Thiêng-Liêng
hành-pháp tận đọa tam đồ bất
năng thoát tục, và Thầy tôi không
nhìn đến tôi nữa.
Lạy ba lạy đứng
dậy, rồi thọc ngón tay giữa bàn tay
mặt vô rượu chát đỏ mà nói
rằng: " Ðây là huyết thệ của
tôi ", rồi uống mỗi người một
hớp, Cha Mẹ, Vợ Con của người chánh
danh cũng uống mỗi người một hớp,
như vậy, kế người sau đó cũng
làm y như vậy tiếp theo mãi cho hết.
Những người Hồng-Thệ
kỳ mồng 3 tháng Giêng Nhâm-Thân ( DL
7-2-1932 ), Ðức Thầy chọn được
67 vị. Ông Lê văn Tri xin thêm 5 vị
nữa ở Gò-Chai, Long-Vĩnh, Ðức Thầy
cho nhưng Ðức Thầy nói: Mấy người
em xin thêm đó nếu sau nầy có nên
được, em vanh tay Qua đi.
Thật vậy, khoảng lối
năm Nhâm-Tý (1972) chính tác giả Hồi-Ký
bảng Lược-Sử nầy có dịp tọa-đàm
với Ông Ðỗ văn Viện, Trưởng-Tộc
Phạm-Môn và đôi ba anh nữa nhắc
lại lời của Ðức Thầy nói Hồi-Ký
Lễ Minh-Thệ của Phạm-Môn tại xã
Trường-Hòa và kiểm đìểm lại
thì đúng như lời của Ðức
Thầy buổi nọ, cộng chung số 67 vị
của Ðức Thầy chọn và 5 vị Lê
văn Tri xin thêm là 72 vị. Ngày thọ
Ðào-Viên-Pháp là ngày mùng 3 tháng
1 năm Nhâm-Thân.
Danh-sách như dưới
đây:
Họ và Tên
1 Phạm văn Huấn
2 Lê văn Tri
3 Nguyễn văn Thế
4 Võ văn Lẽo
5 Bùi văn Trực tự Nguyệt
6 Võ văn Ðợi tự Ðại
7 Phạm văn Tuấn
8 Lê văn Lưu
9 Trịnh Phong Cương
10 Lý văn Lâm
11 Ðinh văn Tiết
12 Trịnh văn Phận
13 Ðỗ văn Viện
14 Phạm công Ðằng
15 Nguyễn văn Sĩ tự Ðại
16 Lê văn Gấm
17 Nguyễn văn Lư
18 Phạm văn Út
19 Trần văn Như
20 Nguyễn văn Lịnh
21 Trần văn Nhượng
22 Lại văn Sắc
23 Võ văn Chở
24 Nguyễn văn Yên
25 Lê văn Bui
26 Phạm văn Màng
27 Võ văn Thoàn
28 Lại văn Ngà
29 Ngô văn Hố
30 Nguyễn v. Tiền tự Dần
31 Bùi văn Trang
32 Ðinh văn Giao
33 Ðỗ văn Thơ
34 Phạm văn Hạc
35 Lê văn Hoa
36 Nguyễn văn Vọng
37 Nguyễn văn Tiên
38 Lương văn Dậu
39 Lê văn Bờ
40 Nguyễn văn Thông
41 Trần văn Ấu
42 Ðặng văn Thứ
43 Nguyễn văn Thiết
44 Lê văn Sữu
45 Phạm văn Lễ
46 Hồ văn Lung
47 Phạm văn Chì
48 Lê văn Huấn
49 Nguyễn văn Sang
50 Hồ văn Tự
51 Nguyễn văn Hợp
52 Võ văn Trọng
53 Ðặng văn Phụng
54 Ðinh văn Nghiên
55 Hồ văn Giăng
56 Trần văn Bùng
57 Ðinh văn Huỳnh
58 Lê văn Biện
59 Ngô văn Mười
60 Nguyễn văn Bường
61 Lê văn Lâu
62 Nguyễn văn Cho
63 Trịnh văn Quí
64 Nguyễn văn Sen
65 Lê văn Duyên
66 Phạm văn Voi
67 Phạm văn Dụng
68 Nguyễn văn Bo
69 Trần văn Sanh
70 Tô văn Bao tự Ê
71 Lê văn Ong
72 Võ văn Hội
|
Xã
Hiệp-Thạnh
Ninh-Ðiền
Thạnh-Ðức
Thạnh-Phước
Bình-Phú
Gia-Lộc
Hiệp-Thạnh
An-Hòa
Gia-Bình
Mỹ-Phong
Gia-Bình
Ninh-Ðiền
Phước-Thạnh
Thạnh-Phước
Thạnh-Ðức
Thái-Mỹ
Bình-Ðăng
Thạnh-Phước
Ninh-Ðiền
Long-Hiệp
Long-Cang
Thạnh-Ðức
Thạnh-Ðức
Thạnh-Ðức
Ninh-Ðiền
Thạnh-Phước
Thạnh-Phước
Thạnh-Ðức
Gia-Lộc
Ninh-Ðiền
Bình-Phú
Gia-Bình
Phước-Thạnh
Thạnh-Ðức
Gia-Bình
Ninh-Ðiền
Ninh-Ðiền
Ninh-Ðiền
Ninh-Ðiền
Cẫm-Giang
Cẫm-Giang
Long-Cang
Ninh-Ðiền
Phưóc-Thạnh
Phưóc-Thạnh
Cẩm-Giang
Ninh-Ðiền
Gia-Bình
n/a
Phước-Vân
Thanh-Hà
Ðịnh-Thành
Ninh-Ðiền
Gia-Bình
Thạnh-Ðức
Cẩm-Giang
Gia-Bình
Thạnh-Phước
Thạnh-Phước
Thạnh-Ðức
Ninh-Ðiền
Ninh-Ðiền
Gia-Bình
Thạnh-Phước
Ninh-Ðiền
Ninh-Ðiền
Cẩm-Giang
Gia-Bình
Ninh-Ðiền
Thạnh-Phước
Ninh-Ðiền
Ninh-Ðiền
|
Quận
Trảng-Bàng
Châu-Thành
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
n/a
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
n/a
Trảng-Bàng
Châu-Thành
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Hốc-Môn
n/a
Trảng-Bàng
Châu-Thành
Trung-Quận
Trung-Quận
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Châu-Thành
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Châu-Thành
n/a
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Châu-Thành
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trung-Quận
Châu-Thành
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Châu-Thành
Trảng-Bàng
n/a
Trung-Quận
Trung-Quận
Bến-Cát
Châu-Thành
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Châu-Thành
Châu-Thành
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Châu-Thành
Châu-Thành
Trảng-Bàng
Trảng-Bàng
Châu-Thành
Trảng-Bàng
Châu-Thành
Trảng-Bàng
|
Tỉnh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Long-Xuyên
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Mỹ-Tho
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Gia-Ðịnh
Mỹ-Tho
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Chợ-Lớn
Chợ-Lớn
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Long-Xuyên
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Chợ-Lớn
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Châu-Ðốc
Chợ-Lớn
Chợ-Lớn
Thủ-Dầu-Một
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
Tây-Ninh
|
Khi hành-lễ Hồng-Thệ ( Ðào-Viên-Pháp
) xong, Ðức Thầy và cả Anh Em ở nghỉ
tại đó, đến sáng ngày mồng
4 tháng Giêng Nhâm-Thân lần-lượt
ra về. Liền trong tháng Giêng
Nhâm-Thân ( 1932 ), Ông Bùi văn Trực
xin với Ðức Thầy đi làm rung ở
núi Sập tỉnh Long-Xuyên để có
lúa đem về cần dùng nơi Phạm-Môn
và được Ðức Thầy chấp-thuận,liền
phân công kẽ lo kêu gọi Anh Em đi làm
rung, và kiếm thêm trâu đem đi làm
rung, người lo làm trạch cày, ( trạch
cày bằng cây, vì lúc đó chưa
có tay cày bằng sắt ), bắp cày, ách
cày, và nài ống - tức là dụng
cụ để đi làm rung.
Phần ông Ðinh văn
Tiết lo làm trạch cày, tổ-chức hai,
ba người đi vô phía Trảng-Dài ăn
cắp cây rừng cấm, khoảng giữa chừng
Tây-Ninh vô Tòa-Thánh, từ chỗ làm
trạch cày ra tới lộ đá phỏng
chừng lối hơn ngàn thước. Khi làm xong mượn xe
lèo ( xe bò ? ) đặng kéo đem đến
Sở Giang-Tân, để ghe chở đi Long-Xuyên.
Vụ đi kéo trạch cày đó Ông
Ðinh văn Tiết và Nguyễn văn Bàu
cùng đi. Ðợi quá 6 giờ tối ngày..(
quên ) tháng Giêng năm Nhâm-Thân ( 1932
), hai Ông mới đánh chiếc xe bò đi
đến chỗ chất trạch cày lên xe
xong quày chở về. Khi còn cách l đá
lối trăm thước, Ông Tiết nói với
Ông Bàu, anh kiềm bò lại đây, để
tôi ra l đá quan-sát trước đã,
chớ đi đại ra gặp lính Kiểm-Lâm
thì nguy lắm ! Anh lưu ý thấy tôi bật
lửa hp quẹt sẽ đánh xe ra, bằng chưa
thấy ánh lửa thì đừng ra bất
tử !
Ông Bàu đợi khá
lâu mới thấy ánh lửa chấp-chóa
thì rất mừng, liền đánh xe bò
và đinh-ninh rằng đã gặp dịp may
rồi. Nào ngờ khi vừa lên tới l đá
thì hai người lính Kiểm-Lâm chạy
tới đón đầu bò lại, đồng
thời hô lớn lên : " Xe ăn cắp cây
rừng cấm của Nhà Nước, Ông Tiết
và Ông Bàu hoảng-hồn liền chạy
lại mở bò, còn hai người lính
Kiểm-Lâm chụp dây bò giành lại,
hai đàng giằng co xô đẩy với nhau
khá lâu, lần-lượt Ông Tiết và
Ông Bàu mở được hai con bò đang
mang trong xe, kế một hồi lâu nữa, thừa
dịp hai người lính Kiểm-Lâm xô
đẩy với Ông Bàu, Ông Tiết đánh
hai con bò nhảy tuốt về Tòa-Thánh,
còn Ông Bàu cố-gắng giữ hai người
lính ở lại không cho rượt theo Ông
Tiết.
Ðến lúc nghe tiếng
bò nhảy đã xa, mới xô hai người
lính Kiểm-Lâm dang ra, rồi phát chạy
theo Ông Tiết. Thế là cả hai người
và hai con bò đều thoát khỏi, còn
bỏ lại chiếc xe thùng và 24 trạch
cày bằng cây dừng. Chiếc xe kéo trạch
cày bị lính Kiểm-Lâm tịch thâu
luôn, nên Phạm-Môn phải mua xe khác
thường lại cho nguyên chủ. Kể từ đây, Ðức
Thầy thường đến thăm Anh Em nơi
các Sở Phạm-Môn, đi bằng cách
cỡi ngựa, vì thời nầy đa số
đều là rừng rậm, chớ không có
đường lưu thông rộng-rãi như
ngày nay, chỉ đi theo con đường xe bò,
nên dầu có xe đạp cũng khó đi
lắm ! Có khi Ðức Thầy đi một
mình, có khi thì có một hoặc hai người
đi theo.
Có một lần, độ
chừng tháng 6 hay tháng 7 Âm-lịch ( Nhâm-Thân
), Ðức Thầy xuống Sở Trường-Hòa,
ở lại ngủ một đêm. Vì rừng
rậm, tranh, sặt giáp vòng nên muỗi
quá nhiều, khổ nỗi là tại đây
Anh Em không ai có mùng, cả thảy đều
ngủ bằng chiếc nốp. Còn Ðức
Thầy không quen ngủ nốp nên không ngủ
được, bằng nằm ra ngoài thì muỗi
cắn đập liền tay. Vì vậy Anh Em đốt
đống ung rồi luân phiên nhau quạt khói
mịt-mù để tan bớt muỗi, nhưng
cũng tạm đỡ phần nào chớ suốt
đêm Ðức Thầy không ngủ được. Cũng vì lẽ ấy nên
Ông Phạm văn Giáp mới sắm riêng
một ghế bố và mùng mền chiếu
gối, để tại nhà của Ông, dành
để đặc-biệt khi Ðức Thầy
đến thì ăn và nghỉ tại nhà
Ông Giáp, vì nhà Ông Giáp ở gần
Sở Trường-Hòa.
Cũng trong khoảng thời-gian
nầy, khi đến thăm các Sở, hễ
gặp người bịnh thì Ðức Thầy
kêu Chủ-Sở dặn phải tận-tâm
lo thuốc men cho người bịnh, không nên
vì việc làm mà bỏ người bịnh. Vì lúc nầy, Sở
nào cũng đều là đất rừng
mới khai phá ra nên bịnh chói nước,
nóng lạnh rất nhiều hay nói cách khác
là bịnh rét rừng, như tại Sở
Phạm-Môn Trường-Hòa, kể từ tháng
10 đến tháng 4 Al, hễ buổi mơi đi
làm lối 20 người, thì buổi chiều
chỉ còn lối 7 hoặc 10 người là
nhiều, còn những người kia đều
bị làm cử ( sốt rét ) nằm trùm
mền hết.
Mỗi lần Ðức Thầy
đi thăm đều thấy như vậy, hơn
nữa càng ngày số người bịnh lại
càng đông hơn trước.
Nhận thấy không thể
đành như vậy được, nên đến
tháng Giêng năm Quí-Dậu ( 1933 ), Ðức
Thầy mới kêu Anh Em đến sửa-soạn
ngôi nhà sau hậu Hộ-Pháp-Ðường
tức là nền nhà " Tịnh-Tâm-Hiên
", chỗ Cô Tư Phối-Sư Hương-Tranh
ở ngày nay, lót ván sạp dài thành
hai dãy dọc theo hai bên, để cho người
bịnh ở các chỗ Phạm-Môn về,
nằm trị bịnh ( Nam tả, Nữ hữu ).
Khi sắp sửa chỗ nơi xong, Ðức Thầy
cho các vị Chủ-Sở hay, kể từ nay
các Sở Phạm-Môn hễ có người
bịnh, dầu Nam hay Nữ, đều đem hết
về giao cho Ðức Thầy chăm sóc điều-trị.
Phần trị bịnh chia
ra 2 khoa:
1/. Ðông-y do Ông Bùi
văn Hưng ( Ông Tư Hưng ) làm Bảo-Bịnh
điều-trị bằng Ðông-y.
2/. Tây-y Ðức Thầy bổn thân chăm
sóc chích thuốc và cho uống Tây-y.
Vì trong thời-gian nầy
( 1933 ), những người hiện làm công-quả
tại Tòa-Thánh và các Sở Phạm-Môn
không người nào biết chích thuốc,
và điều-trị bằng thuốc Tây, chỉ
có Sài-Gòn mới có một tiệm bán
thuốc Tây mà thôi.
Về việc Ðức Thầy
chích thuốc Tây trị bịnh cho Anh Em rất
kết-quả, vì đa-số là bịnh chói
nước, rét rừng nên chích ký-nin
(Quinine) rất công hiệu, nhưng rất tiếc
là công việc trị bịnh đang tiến-hành,
kế bị nhóm người Chi Phái đối-lập
với Tòa-Thánh Tây-Ninh tố-cáo với
chánh-quyền Pháp tại Tây-Ninh, nên Ông
Trưởng Tâm ( xếp mật-vụ Pháp
Tây-Ninh ) đi với bốn (4) người lính
Cảnh-Sát vô tại Hộ-Pháp Ðường,
khám lấy kim chích, và cả dụng-cụ
chích thuốc, lập biên-bản rồi lấy
hết những món nầy đem về Tây-Ninh,
rồi đưa ra Tòa về tội chích thuốc
trị bịnh mà không có Giấy Chứng-Nhận
của Bác-Sĩ. Nhưng cũng may là cách
đó đôi ba ngày, có Thầy Hai Ðễ
là Y-Tá-Trưởng tại Bệnh-Viện
Tây-Ninh vô thăm Ðức Thầy, sau khi nghe
Ðức Thầy thuật lại vụ Ông Trưởng
Tâm bắt về vụ chích thuốc, Thầy
Hai Ðễ nói: " Ngài đừng lo chi hết,
đến khi ra Tòa thì Ngài nói những
dụng-cụ chích thuốc đó là của
tôi, vì tôi vô chích thuốc cho mấy
người bịnh rét rừng, bỡi mỗi
ngày tôi vô chích, nên tôi gởi đồ
lại đó. Thế nào Tòa cũng đình
vụ xử lại, để kỳ sau Tòa mời
tôi. Nếu khi Tòa mời tôi thì tôi
nhìn-nhận những dụng-cụ chích thuốc
là của tôi thì êm chuyện, chớ
không sao đâu.
Thật quả như Thầy
Hai Ðễ, đến phiên Tòa sau Ông Ðễ
nhìn-nhận những dụng-cụ chích thuốc
và số thuốc chích mà hôm nọ Nhà
Chức-Trách khám xét lấy tại Hộ-Pháp-Ðường
trong Tòa-Thánh là của Ông vì mỗi
ngày Ông vô chích thuốc cho mấy người
bịnh, nên Ông gởi lại đó. Tòa
xử trắng án. Mặc dầu được
trắng án, nhưng cũng không thể tiếp-tục
vụ chích thuốc nữa được. Từ
đây, những người bịnh chói nước
rét rừng thì ra ở tại nhà Cô Tư
( Chị ruột của Ðức Thầy ) ờ
tại chợ củ Tây-Ninh, đặng mỗi
bữa sáng dến nhà thương Tây-Ninh
chích thuốc.
Ðến ngày 16 tháng
10 Quí-Dậu ( 3-11-1933 ) , dựng Nhà Lớn
tại Sở Trường-Hòa để làm
nhà thờ. Vụ dựng nhà kỳ nầy
có những người thân-quyến của
Anh Em Phạm-Môn đến tham dự rất đông,
phỏng chừng năm hoặc sáu trăm người
( 500-600 người ). Lúc 7 giờ sáng ngày
16-10-Quí-Dậu ( 1933 ) khởi sự, khi vừa
kéo lên xong, thợ-mc đang chỉnh-đốn
lại đặng đóng đòn tay, thì
bỗng đâu có Ông Phủ Sữu Quan Chủ-Quận
Châu-Thành Tây-Ninh, đi với năm người
lính và Hương-Thân hướng ở
Chà-Là vô tới. Những Anh Em thấy có
lính thì rất lo-sợ mặc dù không
biết là lính Quận và có Ông Quận
đi chung đây, khi Ông Quận vô vừa
tới, Ðức Thầy thấy biết là Ông
Quận Sữu, liền bước ra bắt tay chào
hỏi.
Ông Quận Sữu hỏi:
- Ông làm gì đây?
Ðức Thầy trả-lời:
- Dựng nhà.
Ông Quận Sữu:
- Dựng nhà sao đông quá vậy?
Ðức Thầy:
- Vì Bổn-Ðạo nghe dựng nhà nên
đến phụ.
Ông Quận:
- Ðây là cuộc họp-hội chi chớ
dựng nhà sao lại đông quá vậy?
Có lịnh của Quan Lớn Chánh (Tỉnh-Trưởng)
nếu có đám tiệc chi hễ quá mười
người là phải xin phép, còn vụ
nầy đông đến bốn, năm trăm
người (400-500 người) mà không xin phép,
nên tôi phải lập biên-bản, đồng
thời Ông Quận biểu mấy người
lính kêu hết những người đang
ở ngoài chỗ dựng nhà vô đây
và biểu Thầy tôi lập biên-bản.
Nhờ lúc Ông Quận nói chuyện với
Ðức Thầy, Anh Em rút vô đám rừng
phía sau chỗ dựng nhà. Lại thêm hai
bên hông chỗ dựng nhà, là hai đám
mía lau rất tốt, cao khỏi đầu nên
Anh Em chung vô đó cũng đông, đến
khi mấy người lính kêu ra thì còn
không tới ba chục người.
Ông Quận Sữu giận dử nói lớn:
- Cho mấy người giỏi trốn rồi đây
sẽ biết.
Nói rồi biểu Ðức Thầy ký biên-bản
rồi ra về liền.
Ông Quận đi xe hơi từ Tây-Ninh đến
Chà-Là rồi đi xe bò ra Sở Phạm-Môn
Trường-Hòa.
Ðến cuối năm Quí-Dậu
( 1933 ), gần Tết Nguyên-Ðán, Ông Trưởng
Tâm - xếp lính kín Tây-Ninh-đi với
bốn, năm người nữa mặc đồ
thường ( không biết chức-vụ ), đến
tại Hộ-Pháp-Ðường trình giấy
chứng của Quan Chánh Tham-Biện ( Tỉnh-Trưởng
) Tây-Ninh, cho lịnh khám xét Hộ-Pháp-Ðường
lấy rất nhiều giấy tờ quan-trọng
như:
-Tờ Hiến-Thân của
Anh Em Phạm-Môn.
-Văn-thơ của Bổn-Ðạo có, ngoại
Ðạo có, nói về Tôn-Giáo, hoặc
nói về Quốc-Sự cũng có. Ðáng
kể nhứt là : Thư cùa Kỳ-Ngọai-Hầu
Cường-Ðễ ở Nhựt, và Nguyễn-Hải-Thần
ở Trung-Quốc, cùng nhiều nhà cách-mạng
khác...
Nội-vụ tài-liệu
nầy lấy đem hết về Tây-Ninh nạp
cho Tỉnh-Trưởng. Tỉnh-Trưởng Tây-Ninh
đem nộp cho Toàn-Quyền Nam-Việt tại
Sài-Gòn ( Piere Pasquier ). Sau đó lối hai tháng
thì có lịnh đóng cửa các Sở
Phạm-Môn, do chánh-quyền làm sẵn, đem
đến dựng trước cửa mỗi nhà
Sở một tấm bảng như vầy:
" Niêm cửa lại vì lập Hội không
xin phép trước ".
Mặc dù có lịnh
của chánh-quyền đóng cửa như vậy,
nhưng Anh Em cũng âm-thầm ở tại nhà
Sở như từ trước, chỉ đóng
cửa trước không mở, và giảm sự
tụ-họp đông đảo như trước
mà thôi. Vì làng, xã tại
địa-phương thấy Anh Em nơi đây
đều là lo làm ăn tu-hành, và cả
thảy đều trường-trai chớ không
có điều chi khả-nghi làm cách-mạng
nên họ ngó lơ cho Anh Em ở đó.
Vụ khám xét lấy giấy tờ tại
Hộ-Pháp-Ðường và bị đóng
cửa các Sở Phạm-Môn, nhưng cũng
còn bị đưa ra Tòa, Ðức Hộ-Pháp
có mời Ðức Quyền Giáo-Tông xin
xác-nhận các Sở nầy là của chung
Ðạo Cao-Ðài chớ không phải riêng
ai, chỉ tạo ra cơ-sở để làm ăn
sinh sống, nhưng Tòa vẫn kêu phạt mỗi
vị Chủ-Sở là mười tám ( 18 )
quan ( Franc ) ( lối 20$00 ) hồi thời đó,
còn Ðạo-Sở mỗi người mười
sáu ( 16 ) quan. Ðức Thầy dạy Anh Em ký
tên chống án lên Tòa Thượng-Thẩm
Sài-Gòn.
Ðến ngày được
trát Tòa Sài-Gòn đòi hầu Tòa,
Anh Em mượn ghe rồi đem gạo theo ăn.
Ðến giờ xử Tòa kêu án y như
Tòa Tây-Ninh. Ông Luật-Sư Dương
văn Giáo ( Bảo-Cô-Quân ) biểu Anh Em
chống án qua Pháp, và sau đó được
Tòa Án tối cao bên Pháp xử trắng
án. Còn vụ cả giấy
tờ lấy nơi Hộ-Pháp-Ðường
hôm nọ, Tỉnh-Trưởng Tây-Ninh chuyển
nạp về Sài-Gòn. Quan Toàn-Quyền Nam-Việt
Pasquier bổn-thân chở bằng máy bay bị
phát hỏa, cả người và đồ-đạc
đều thiêu-hủy hết.
* Cũng trong năm Quí-Dậu
(1933) , cơ-quan Ðạo biến động, Chức-Sắc
Ðại-Thiên-Phong nghịch lẫn nhau, rồi
lần di đến chỗ chia phe, phân phái.
Ðại-ý như phái của Ông Ðầu-Sư
Thượng-Tương-Thanh (Nguyễn-Ngọc-Tương)
và Ðầu-Sư Ngọc-Trang-Thanh ( Lê-Bá-Trang
) lập một phái mệnh danh là " Ban Chỉnh-Ðạo
", địa điểm tại Bến-Tre, tức
là Tòa-Thánh An-Hội Bến-Tre.
* Ông Lê-Kim-Tỵ và
Giáo-Hữu Chính lập một phái gọi
là phái " Tiên-Thiên ", địa-điểm
bìa Sân Cu, giáp ranh với Bàu-Ðế,
và sau nầy dời về Sóc-Sải, Bến-Tre.
* Ông Phối-Sư Thái-Ca-Thanh
( Ðốc-Phủ Ca ) lập một phái gọi
là " Chơn Minh-Lý ", địa-điểm tại
Mỹ-Tho.
* Ông Ngô-Ðức-Nhuận
và Nguyễn-Ngọc-Ðiền ( Chín Rung ) lập
một phái gọi là phái " Tuyệt-Cốc",
không có địa-điểm chính-thức
và còn nhiều phái khác nữa...
Từ đây, nhũng nhóm
người tách rời Tòa-Thánh thường
đánh đổ Ðức Quyền Giáo-Tông
Thượng-Trung-Nhựt và Ðức Hộ-Pháp,
thậm chí có phần-tử dựa vào quyền
đời để hạ kẽ đối-lập
với họ. Những việc quá đau lòng
xin miễn chỉ đích danh, vì dầu sao
cũng là bậc đàn Anh trong cửa Ðạo,
đã hữu công với Ðạo trong buổi
phôi thai.
Ðến tháng Giêng
năm Giáp-Tuất (1934), khi cúng Ðàn rằm
tháng Giêng vừa xong, liền được
tin đến ngày 20 tháng Giêng nầy là
có Chi Phái về Tòa-Thánh Ðăng-Ðiện,
tức là lên Ngôi Giáo-Tông, và sẽ
đuổi Ðức Quyền Giáo-Tông ra khỏi
Tòa-Thánh. Ðức Quyền Giáo-Tông
lấy làm lo-lắng, nên đến cho Ðức
Thầy hay và nhờ Ðức Thầy liệu
cách bảo-vệ sự an-toàn cho Tòa-Thánh.
Ðức Thầy nói :" Xin Anh Cả yên tâm,
để mặc Em lo-liệu ". Và liền kế
đó, Ðức Thầy ra cho Thủ-Bổn Phạm-Môn
là Ông Nguyễn văn Gia khẩn-cấp kêu
hết Anh Em Chủ-Sở và Ðạo-Sở
nơi các Sở Phạm-Môn phải có mặt
tại Tòa-Thánh trước 5 giờ sáng
ngày 20 tháng Giêng Giáp-Tuất (1934), để
Ðức Thầy dạy việc, mỗi Cơ-Sở
chừa lại một người giữ nhà mà
thôi.
Vừa rạng chơn trời
ngày 20 tháng Giêng Giáp-Tuất (1934), cả
Anh Em lớn nhỏ nơi các Sở Phạm-Môn
đều tụ dến đủ mặt tại
Hiệp-Thiên-Ðài, Ðức Thầy giao
cho Ông Giáo-Sư Thượng-Minh-Thanh lãnh
trách-nhiệm điều-động thống-nhứt,
Ông liền phân ra giữ các cửa ra vào
Nội-Ô Tòa-Thánh.
Ðúng như ngày đã
định, lúc 7 giờ sáng ngày -Tuất
( Dl. 5/3/1934 ), nhóm người Chi Phái kéo
về Toà Thánh rất đông, vừa đến
cửa Hòa-Viện ( cửa số 1) thì ngưng
lại rồi phân ra . Một nhóm thì kéo
vào cửa số 1, còn một nhóm thì
lại kéo đến cửa số 2, cũng đồng
xông vào Nội Ô. Những người giữ
cửa được lịnh của người
làm đầu bảo ngăn lại không cho
vô và nói rằng : các Hiền Huynh nán
đợi chúng tôi báo cáo với Ðức
Q. Giáo Tông và đợi có lịnh Anh
Cả cho mời các Hiền Huynh sẽ vô cũng
không muộn, nhưng nhóm người này
không chịu chờ vẻn là đúng. Hễ
ai nói sao Qua nghe vậy chớ thật ra Qua cũng
không biết Ðức Hộ-Pháp mở Phạm-Mơn
ích lợi gì? Ðến hôm nay Qua mới
biết, nhờ có mấy em dám hy-sinh để
bảo-tồn nghiệp Ðạo ". Và cũng
trong bửa tiệc nầy, Ðức Quyền Giáo-Tông
ngỏ ý yêu cầu Ðức Hộ-Pháp
cho Hội-Thánh Cữu-Trùng-Ðài mượn
người Phạm-Môn để bổ đi
các Tỉnh hầu trấn an tinh-thần bổn
Ðạo rất hoang-mang và Ðức Thầy
cũng hứa chịu.
Qua cơn biến cố trong
cửa Ðạo, người làm đầu một
Chi Phái ( xin miễn chỉ danh vì cũng là
bậc Thiên-Phong có đại-công buổi
đầu tiên khai Ðạo ), lại mượn
tay chính-quyền để trả thù trận
thất bại vừa rồi. Nên sau vụ sóng
gió trong cửa Ðạo hôm ngày 20 tháng
Giêng Giáp-Tuất (1934) lối 10 ngày, thì
một số đông Anh Em Phạm-Môn bị
bắt giam tại khám đường Tây-Ninh
triệu tập một phiên Ðại-Hội
dể chọn người lãnh-đạo Hội-Thánh
Cữu-Trùng-Ðài. Sau nhiều lần bàn-giải
sôi-nỗi và sâu r¶ng, toàn Hội đều
đồng thanh quyết-nghị Ðức Hộ-Pháp
Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Ðài kiêm
Chưởng-Quản Cữu-Trùng-Ðài, tức
là Hộ-Pháp Chưởng-Quản Nhị Hữu-Hình
Ðài Hiệp-Thiên và Cữu-Trùng.
Qua năm Ất-Hợi (1935),
Ðúc Thầy nhớ lời hứa với Ðức
Quyền Giáo-Tông, nên Ðức Thầy
đưa Anh Em Phạm-Môn ra cầu-phong do Ðàn
Cơ tại Cung Ðạo Ðền-Thánh đêm
Rằm tháng 2 Ất-Hợi ( Dl. 19/3/1935 ), Ðức
Lý Ðại-Tiên kiêm Giáo-Tông Ðại-Ðạo
Tam-Kỳ Phổ-Ðộ giáng cơ phong Ông
Trịnh-Phong-Cương ( Lễ-Sanh Thượng-Cương-Thanh
) là Giáo-Hữu, còn những vị có
danh-sách dưới đây đều là
Lễ-Sanh phái Thượng:
1/. Ông Trịnh-Phong-Cương
2/. Lê văn Tri
3/. Võ văn Thế
4/. Võ văn Lẽo
5/. Bùi văn Nguyệt tự Trực
6/. Võ văn Ðợi tự Ðại
7/. Ðinh văn Tiết
8/. Trịnh văn Phận
9/. Ðỗ văn Viện
10/. Phạm Công Ðằng
11/. Nguyễn văn Sĩ tự Ðại
12/. Lê văn Gấm
13/. Nguyễn văn Lư
14/. Phạm văn Út
15/. Trần văn Như
16/. Nguyễn văn Lịnh
17/. Trần văn Nhượng
18/. Lại văn Sắc
19/. Võ văn Chờ
20/. Nguyễn văn Yên
21/. Trần văn Lợi
22/. Phạm văn Lê
23/. Phan văn Ðức
24/. Võ văn Dần
25/. Nguyễn văn Thông
26/. Nguyễn văn Ráng tự Châu
27/. Ðặng văn Cận
Nữ-Phái:
1/. Trịnh thị Bền
2/. Lê thị Rỗi
3/. Võ thị Bông
4/. Võ thị Thoàn
5/. Ðinh thị Kiêm
6/. Lưu thị Sen
7/. Trần thị Ơn
8/. Ðinh thị Tiết
9/. Nguyễn thị Gạo
10/. Lê thị Yếu
11/. Lê thị Ngơi
12/. Lê thị Lơi
13/. Lâm thị Nèn
14/. Ðinh thị Chén
|
Giáo-Hữu
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
Lễ-Sanh
|
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Phái Thượng
Giáo-Thiện
Giáo-Thiện
Giáo-Thiện
Giáo-Thiện
Giáo-Thiện
Giáo-Thiện
Giáo-Thiện
Giáo-Thiện
Giáo-Thiện
Giáo-Thiện
Giáo-Thiện
Giáo-Thiện
Giáo-Thiện
Giáo-Thiện
|
Và Ðức Lý Giáo-Tông cho chung một
bài thi tứ-tuyệt như vầy:
" Một trường vinh-hiển
buổi sau đây,
Danh thể khá tua trả nghĩa Thầy.
Nắm giữ mối giềng nền Ðạo
cả,
Lão Dương lừa-lọc trận rồng
mây. "
Sau khi cầu-phong rồi, Ðức
Thầy định bổ mỗi vị lãnh trách-nhiệm
làm Ðầu-Họ Phước-Thiện một
tỉnh, nghĩa là chánh-thức khai mở Cơ-Quan
Phước-Thiện kể từ nay, và cũng
là Phạm-Môn đã bị Chính-Quyền
Pháp đóng cửa, nên biến-thể thành
Cơ-Quan Phước-Thiện khắp cả các
địa-phương.
Ðúc Thầy chọn 20
vị để bổ đi 20 Tỉnh trong Nam-Phần
Việt-Nam, rồi dạy bắt thăm hễ ai
trúng đâu thì đi đó. Ðức
Thầy lại ban cho những Anh được Cầu-Phong
kỳ nầy ( 15/2/Ất-Hợi 1935 ), mỗi vị
một Ðạo-Hiệu đặc-biệt. Ðạo-Hiệu của mỗi
vị và ai trúng thăm lãnh trách-nhiệm
Ðầu-Họ Phước-Thiện Tỉnh nào
kể như dưới đây:
( Theo số thứ-tự của
mỗi Tỉnh hồi thời đó )
|