ÐẠI ÐẠO TAM
KỲ PHỔ ÐỘ
TÒA THÁNH TÂY NINH
* * *
QUAN HÔN TANG LỄ
Hội Thánh Giữ Bản Quyền
Ấn Bản
Năm Bính Thìn (1976)
In tại BẠCH VÂN Ấn Quán - Cơ Quan
Phát Thanh nội ô TÒA THÁNH Tây Ninh.
Quan
Quan
Hôn Lễ
Lễ Ðăng Quan hoặc Tấn Phong
Quan
Hôn Lễ
Ngày
xưa, ở bên nước Tàu (Trung Hoa) con trai đến 18 tuổi làm
Lễ Ðội Mũ gọi là Lễ Gia Quan; con gái đến 16 tuổi làm Lễ
Cài Trâm gọi là Lễ Cập Kê. Ta cũng theo phong tục nước
Tàu, nên có câu ca dao:
Trai
thời 18 Gia Quan,
Gái thời 16 hiệp đàng Cập Kê.
Tuổi đến
thời cho con trai đội mũ, con gái cài trâm là tuổi trai
gái đã trưởng thành, đủ sinh lực, cha mẹ có thể định lứa
đôi được. Trai gái đến tuổi ấy, ta thường gọi là tuổi
dậy thì.
Người
Tàu, người Việt hay có cái lệ dựng vợ, gã chồng cho con
sớm, gọi là tảo hôn. Ðiều nầy có hại cho sức khỏe trai
và gái. Nếu có sanh con sớm, thì con cũng không được
cường tráng. Lệ tảo hôn ngày nay đã giảm bớt nhiều rồi,
vì điều kiện sanh sống trong xã hội, nên định con trai
19 tuổi lấy vợ, con gái 18 tuổi lấy chồng.
Khi hành
lễ Gia Quan Cập Kê, gia trưởng có mời thân tộc, họ hàng
đến mầng con cháu đã trưởng thành. Ai cũng có một lời
dạy con trai, con gái đã lớn khôn rồi, phải biết giữ
phận làm người. Trai có phận trai, gái có phận gái, đừng
làm điều chi cha mẹ phải buồn lòng, tông môn phải nhục
nhã.
Ở nước
ta hiện giờ, không còn ai làm lễ Gia Quan Cập Kê cho con
nữa. Tục lệ cũ đã bỏ.
Nên nhớ,
Lễ Gia Quan đây không phải là Lễ Gia Quan Tấn Tước. Lễ
Gia Quan Tấn Tước là lễ của hàng Quan Lại, mầng được
thăng phẩm tước, được lên chức.
Lễ Ðăng Quan hoặc Tấn Phong
Nếu có
trường hợp nầy, Hội Thánh sẽ tổ chức chớ không áp dụng
thường xuyên.
Hôn
Hôn
nhơn
Hôn
lễ
Ðồng
tánh bất hôn
Trưởng
Tộc
Trình
Bát Nhựt
Sau
Lễ Cưới ba ngày
Hành
pháp Hôn Phối
Lễ
Hỏi
Lễ
Cưới
Hôn nhơn
Trai lớn
lên cưới vợ, gái lớn lên lấy chồng là lẽ đương nhiên.
Việc hôn nhơn là việc tối trọng trong đời người. Tìm đâu
có hạnh phúc? Hạnh phúc ở trong việc hôn nhơn. Thật vậy,
không có gì vui thích cho bằng trong gia đình được vợ
chồng hòa thuận, đầm ấm, thành thật yêu đương nồng hậu.
Vợ biết tùy theo ý muốn của chồng, chồng biết thương vợ,
không làm phật ý vợ, ăn ở với nhau lâu ngày, càng sâu
ngãi biển, càng dài tình sông.
Cha mẹ
dựng vợ gã chồng cho con, không ngoài ý muốn đem hạnh
phúc cho con. Cha mẹ nào có con cũng mong ước: "Gái thì
đẹp phận mây xanh, bền duyên tơ tóc; trai thì nên nghĩa
đá vàng, keo sơn gắn chặt".
Việc kết
nghĩa Sui Gia, kén dâu kén rễ phải thận trọng, lọc lừa
cho kỹ, nhớ câu: "Rau nào sâu nấy". Dâu thì nên chọn con
nhà có đức hạnh, nhân từ, không có tiếng tăm gì đồn đãi;
rễ thì kiếm con nhà gia giáo, siêng năng cần mẫn việc
làm.
Tuy nói
cha mẹ kén dâu, kén rễ nhưng phải có sự ưng thuận của
con. Cha mẹ nên nghĩ việc hôn nhơn của con là cả cuộc
đời của chúng, để cho con có quyền lựa chọn bạn trăm
năm, không nên ép uổng trong việc cưới gã, sau rồi phải
ân hận.
Hôn lễ
Theo
xưa, có sáu (6) lễ phân ra như vầy:
-
Lễ Nạp Thái: Là lễ
cha mẹ đi coi dâu và dắt con đi coi vợ.
-
Lễ Vấn Danh: Là lễ
hỏi cho biết tên họ, và tuổi tác cô gái coi có trùng
tên cha mẹ, ông bà bên chồng chăng?
-
Lễ Nạp Kiết: Là lễ
trình bày tuổi tác và vận mạng tốt, được tương sanh.
-
Lễ Nạp Trưng: Là lễ
đem hàng lụa, tiền bạc, phẩm vật đến nhà gái để làm
tang chứng, sự hứa hôn chắc chắn. Theo ta là Lễ Hỏi,
hay là Lễ Sính.
-
Lễ Thỉnh Kỳ: Là lễ
nói ngày làm Lễ Cưới cho đàng gái hay.
-
Lễ Thân Nghinh: Tức
là Lễ Cưới.
Ðó là
tục lệ của người Tàu, người mình không mấy ai làm theo.
Hôn lễ
theo người Việt Nam, hiện giờ còn giữ hai lễ là: Lễ Hỏi
và Lễ Cưới mà thôi.
Ðồng tánh bất hôn
Theo lễ
đời nhà Châu, người cùng một họ không được kết làm vợ
chồng. Người Việt Nam xưa nay cũng tùng theo lễ ấy. Ðó
là nói về bà con.
Chí như
cùng một họ, mà không bà con, thì việc hôn nhơn đồng
tánh không có tổn hại nhơn luân.
Trưởng Tộc
Sui trai
hay sui gái, bên nào cũng chọn một người trong thân tộc
trọng tuổi, còn đủ vợ chồng làm người Trưởng Tộc. Có
Trưởng Tộc nam phái tức có Trưởng Tộc nữ phái. Như trong
thân tộc không có người, chọn người ngoài cũng được,
nhưng phải có đủ điều kiện là trọng tuổi, vợ chồng còn
đủ, người có tư cách.
Trưởng
Tộc cũng như là người hướng dẫn, hay là Trưởng Phái đoàn
của mỗi bên trong Lễ Hỏi, Lễ Cưới. Giữa hai Họ, có điều
chi chưa thỏa thuận, thì nhờ Trưởng Tộc hai bên giải
quyết.
Trình Bát Nhựt
Tám (8)
ngày trước Lễ Cưới, theo công lệ, đàng gái phải biên tên
họ hai đàng sui gia chàng rễ và nàng dâu trình cho nhà
chức trách địa phương, gọi là trình bát nhựt. Nhà chức
trách dán Bố cáo tại trụ sở. Sự trình khai như vậy để đề
phòng có ai ngăn cản gì không, và chứng tỏ cuộc Hôn Lễ
là chánh thức hợp lệ.
Theo Thế
Luật Ðạo, tám (8) ngày trước Lễ Sính, chủ hôn trai phải
dán Bố cáo nơi Thánh Thất sở tại, cho trong Bổn Ðạo hay,
sau khỏi điều trắc trở.
Sau Lễ Cưới ba ngày
Lệ (3)
ngày sau Lễ Cưới, cặp vợ chồng trở về bên nhà gái, tục
gọi là Lễ Phản Bái.
Hành pháp Hôn Phối
Lễ Hôn
Phối cử hành tại Ðền Thánh hay Thánh Thất.
Tân
Luật, Chương Thế Luật, Ðiều thứ sáu: "Việc Hôn là việc
rất trọng đời người. Phải chọn Hôn trong người đồng Ðạo,
trừ ra khi nào người ngoại ưng thuận nhập môn thì mới
được kết làm giai ngẫu".
Lễ Hỏi
Phẩm lễ
trong Lễ Hỏi, cần nhứt giàu cũng như nghèo là: một (1)
đôi bông tai, một (1) mâm trầu, hai (2) chai rượu, một
(1) đôi đèn. Trà bánh là phụ thuộc. Ðôi bông tai ví như
cái Hoa con gái.
Ðến ngày
đã định, bên nhà trai sang qua nhà gái, có bà con thân
thuộc và ông mai, nhà trai mang theo đủ phẩm vật nhà gái
đòi hỏi.
Ðến nhà
gái, khi quan khách an tọa xong, đoạn ông mai hướng dẫn
ông sui trai trình giữa hai Họ lễ Sính, đặt trước khai
trầu rượu bên gái đã sắm sẵn. Lễ phẩm như: Bông tai, nữ
trang, và tiền bạc cũng phải mở ra cho hai Họ trông
thấy. Trình phái nam rồi, ông sui gái đem trình phái nữ.
Bà sui gái nhận nữ trang đem cho con gái, rồi dắt con
gái ra chào Họ bên chồng.
Sau phần
kỉnh lễ Ðức Chí Tôn và Hội Thánh, hoặc người tuổi tác,
ông sui gái lên đèn cho chàng rễ làm lễ Từ Ðường. Sau lễ
Từ Ðường, là chàng rễ ra mắt họ hàng bên gái.
Lễ bái:
Ông bà, cha mẹ, ông mai, và thân tộc.
Lễ Hỏi
đến đây chấm dứt.
Lễ Cưới
Nhà trai
định ngày làm Lễ Cưới, nhờ ông mai báo tin cho nhà gái
hay. Nhà gái bằng lòng ngày giờ đã định thì thôi, trái
lại, nhà trai phải chọn ngày khác.
Khi hai
đàng đã thỏa thuận ngày cưới, thì ông sui trai cùng ông
mai qua nhà gái trình một hồng thiệp có biên đầy đủ chi
tiết ngày giờ rước dâu và đưa dâu.
Ngày
cưới, họ hàng bên trai qua nhà bên gái mang đủ lễ vật
bên gái đòi hỏi (cũng như lúc Lễ Hỏi). Ðàng trai trình
Lễ Cưới theo thủ tục. Sau phần kỉnh lễ Ðức Chí Tôn và
Hội Thánh, chủ hôn nữ lo việc lên đèn, gọi con gái ra
đứng cùng chàng rễ lập song, cùng nhau làm lễ Từ Ðường,
kế tiếp làm lễ ra mắt họ hàng (dùng trà).
Ông sui
trai ra lễ rước dâu, và thỉnh họ đưa dâu cùng một lúc.
Ðoàn
rước dâu đi ngay đến Ðền Thánh, hay là Thánh Thất, để
làm lễ Hôn Phối, kế đến Ðiện Thờ Phật Mẫu cầu nguyện bái
lễ, rồi trực chỉ về nhà.
Ðến nhà
bên trai, Bàn Tri Sự sở tại, sui gia cầu nguyện Ðức Chí
Tôn, rồi đến cặp Tân Hôn bái lễ Ðức Chí Tôn, kỉnh lễ Hội
Thánh, và chánh quyền. Kế tiếp, bên trai lên đèn làm lễ
Từ Ðường, kế đến làm lễ ông bà (còn sống), cha mẹ, ông
mai nếu có và người thân tộc.
Ðàng
trai mở tiệc khoản đãi. Mãn tiệc, họ đàng gái ra Lễ Cáo
Từ, ông bà sui trai và cặp Tân Hôn ra cửa đưa họ.
Lễ Cưới
đã thành.
Tang lễ của Chức Sắc Ðại Thiên Phong
Phẩm: |
-
Giáo Tông
-
Hộ Pháp
-
Phật Tử
-
Chưởng Pháp
-
Thượng Phẩm
-
Thượng Sanh
|
|
Sơ
Giải: - Hành lễ theo Tiên
Vị. Thi thể được liệm vào Liên Ðài (hình bát giác), kỵ
Long Mã (bông). Liên Ðài được quàn tại Biệt Ðiện của mỗi
vị một đêm, Báo Ân Từ một đêm, Ðền Thánh một đêm, và Cửu
Trùng Thiên một đêm. Khi hành lễ xong, di Liên Ðài nhập
Bửu Tháp.
Tại Ðền
Thánh, Ðền Thờ Ðức Phật Mẫu, các Thánh Thất, Ðiện Thờ
Phật Mẫu, các dinh thự, các tư gia của toàn đạo, đều
treo cờ rũ từ bữa vào lễ cho đến ngày Liên Ðài nhập Bửu
Tháp. Miễn coi ngày giờ.
Hội
Thánh sẽ hành lễ Tiểu Tường, Ðại Tường, kỷ niệm hàng năm
và xây Bửu Tháp. Không có làm Tuần Cửu và hành pháp độ
thăng. Mỗi vị có bài thài riêng.
A. Nghi tiết hành lễ
1)
Hấp hối: Tụng bài kinh
Cầu Hồn (Rắp nhập cảnh ..... )
2)
Tắt hơi: Tụng bài "Kinh
khi đã chết rồi" ( Ba mươi sáu cõi .......)
Có
Chức Sắc Ðại Thiên Phong chứng lễ.
Khi
chơn hồn rời khỏi xác (qui thiên), tại Ðền Thánh đổ
sáu (6) hồi chuông, trống cho phẩm Giáo Tông, Hộ Pháp,
Phật Tử; còn phẩm Chưởng Pháp, Thượng Phẩm, Thượng
Sanh thì đổ năm (5) hồi.
3)
Thượng sớ Tân cố: Lễ
Viện dâng sớ tại Ðền Thánh.
4)
Tại Biệt Ðiện: Vọng một
(1) bàn linh có bửu ảnh, dàn bát bửu, 2 tàng, 2 lọng.
Có Chức Sắc cơ quan luân phiên hầu.
5)
Nhập mạch: Sau 24 giờ
qui thiên (thi thể ngồi kiết già) được Ðại liệm vào
Liên Ðài, tụng bài "Kinh Tẩn Liệm" (Dây oan nghiệt
.......)
6)
Thành phục: Lễ Viện hành
lễ Phát tang, lễ Cáo từ Tổ, có Lễ Nhạc.
7)
Hành lễ tế điện: Tang
quyến chánh tế.
Chức
Sắc, Chức Việc, Ðạo hữu và Ðồng nhi nam nữ luân phiên
tụng Di Lặc Chơn Kinh.
Ban ngày
hành lễ Triêu Tịch, đêm có nhạc hòa tấu.
B) Di Liên Ðài vào Báo Ân Từ
1. Ðạo
Kỳ
2. Bảng
Ðại Ðạo
3. Phướn
Thượng Phẩm
4. Long
Mã múa
5. Dàn
Bắc
6. Ðồng
nhi hầu Nam tả, Nữ hữu.
7. Dàn
Bát Bửu, Bàn Hương án có Bửu Ảnh, 2 tàng, 2 lọng, 2 Lễ
Sĩ hầu.
8. Tràng
hoa, vãng lụy, và bàn đưa
9. Liên
Ðài kỵ Long Mã bông, có 2 vị Chức Sắc cao cấp của cơ
quan hầu, đạo tỳ đi hai bên.
10.
Dàn
Nam
11.
Tang quyến và thân bằng
cố hữu
12.
Chức Sắc Ðại Thiên Phong,
Chức Việc và toàn Ðạo nam nữ.
Liên Ðài
đến Báo Ân Từ có đổ 6 hồi, hoặc 5 hồi chuông tùy theo
phẩm vị khi rước cũng như đưa.
C) Liên Ðài an vị tại Báo Ân Từ
(Nghi lễ
chưng dọn y như ở Biệt Ðiện)
Hành
lễ tế điện:
-
Hội
Thánh chánh tế. Thân quyến và thân bằng cố hữu phụ tế.
-
Nghi
châm chước: Lễ tế điện dâng Tam Bửu, Lễ Sĩ mặc y phục
màu phái Thượng (xanh da trời), chơn đi chữ Tâm, Ðồng
nhi đọc Ai chúc.
-
Hội
Thánh và các Cơ quan Ðạo đọc bài "Kinh Cầu Bà Con Thân
Bằng Cố Hữu đã qui liễu" ( Khi dương thế ......)
-
Tang
quyến (tùy trong gia đình quì cúng mà đọc Ai chúc).
-
Cầu
siêu:
-
Tụng
bài kinh (Ðầu vọng bái ......) và bài (Ba mươi sáu cõi
.......), tụng mỗi bài 3 lần, niệm câu chú Chí Tôn 3
lần.
-
Chức
Sắc, Chức Việc, Ðạo hữu và Ðồng nhi nam nữ luân phiên
tụng Di Lặc Chơn Kinh.
-
Ban
ngày hành lễ Triêu Tịch, đêm có Nhạc hoà tấu.
D) Di Liên Ðài đến Ðền Thánh
-
Nghi lễ rước sắp đặt
trật tự y như lễ Di Liên Ðài vào Báo Ân Từ, chuông
trống rước cũng như khi đưa, tùy phẩm cấp.
-
Liên Ðài của Giáo
Tông, Phật Tử, Chưởng Pháp để trước 7 cái Ngai (để
chính giữa).
-
Liên Ðài của Hộ
Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh để nơi Hiệp Thiên Ðài,
cũng chính giữa (nghi lễ chưng dọn y như ở Báo Ân Từ).
-
Chức Sắc, Chức Việc,
Ðạo hữu và Ðồng nhi Nam Nữ tụng Di Lặc Chơn Kinh.
-
Diễn văn tuyên dương
công trạng của vị Triều Thiên.
-
Hội Thánh cầu nguyện
Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng Liêng, bái lễ.
E) Di Liên Ðài
ra Cửu Trùng Thiên
(Ðại Ðồng Xã)
-
Nghi lễ rước sắp đặt
trật tự y như lễ rước Liên Ðài đến Ðền Thánh.
-
Liên Ðài an vị trên
Cửu Trùng Thiên, nghi lễ chưng dọn y như ở Ðền Thánh,
có 8 vị Chức Sắc Nam Phái của cơ quan đứng hầu 8 góc
Cửu Trùng Thiên.
-
Chức Sắc, Chức Việc,
Ðạo hữu và Ðồng nhi nam nữ tụng Di Lặc Chơn Kinh. Ban
đêm có Nhạc hòa tấu.
-
Hành lễ tế điện:
Hội Thánh và các cơ quan Ðạo, tang quyến và thân bằng
cố hữu tế lễ.
-
Ðại Lễ dâng Tam
Bửu:
Ba nghi, Lễ Sĩ ba (3) phái hiến lễ. Lễ Sĩ phái Ngọc
điện đến Lễ Sĩ phái Thượng, Lễ Sĩ phái Thượng điện đến
Lễ Sĩ phái Thái, Lễ Sĩ phái Thái điện đến bàn linh
(Liên Ðài).
F) Lễ di Liên Ðài nhập Bửu Tháp
-
Hành lễ châm chước,
Hội Thánh, Chức Sắc, Chức Việc, toàn Ðạo nam nữ, thân
bằng cố hữu và tang quyến vào bái lễ.
-
Di Liên Ðài qua
ngang mình Long Mã múa, rồi để lên lưng Long Mã bông
đưa đến Bửu Tháp.
-
Khi khởi hành, trong
Ðền Thánh có đổ chuông trống tùy theo phẩm cấp.
1. Ðạo
Kỳ.
2. Bảng
Ðại Ðạo.
3. Phướn
Thượng Phẩm.
4. Long
Mã múa.
5. Dàn
Bắc.
6. Ðồng
nhi nam nữ đọc kinh đưa linh.
7. Dàn
bát bửu, bàn hương án có bửu ảnh, 2 tàng, 2 lộng, 2
Lễ Sĩ hầu.
8. Tràng
hoa, vãng, lụy, và bàn đưa.
9. Liên
Ðài kỵ Long Mã bông, có 2 vị Chức Sắc của cơ quan
hầu; Ðạo tỳ đi hai bên.
10.
Dàn
Nam.
11.
Tang quyến và thân bằng
cố hữu.
12.
Chức Sắc Ðại Thiên
Phong, Chức Việc và toàn Ðạo nam nữ.
-
Ðến Bửu Tháp, Ðại
diện Hội Thánh và các cơ quan đọc Ðiếu văn.
-
Tang quyến đáp từ.
-
Ðưa Liên Ðài nhập
Bửu Tháp.
-
Ðồng nhi tụng kinh
Hạ Huyệt và chú Vãng Sanh. Khi dứt, niệm câu chú của
Thầy 3 lần.
-
Giải tán
Tang lễ Chức Sắc Ðại Thiên
Phong
Phẩm: |
-
Ðầu Sư
-
Tiên Tử
-
Thập Nhị Thời
Quân
|
|
Sơ Giải:
Hành lễ theo Tiên Vị. Thi thể được liệm vào Liên Ðài
(hình bát giác), kỵ Long Mã (bông). Liên Ðài được quàn
tại Biệt Ðiện của mỗi vị một đêm, Ðền Thánh một đêm, Báo
Ân Từ một đêm. Khi hành lễ xong, di Liên Ðài nhập Bửu
Tháp.
Tại Ðền Thánh, Ðền Thờ Ðức Phật Mẫu,
các Thánh Thất, Ðiện Thờ Phật Mẫu, các Dinh thự, các tư
gia của toàn Ðạo hữu, đều treo cờ rũ từ bữa vào lễ cho
đến ngày Liên Ðài nhập Bửu Tháp. Miễn coi ngày giờ.
Hội Thánh sẽ hành lễ Tiểu Tường, Ðại
Tường, kỷ niệm hằng năm, và xây Bửu Tháp. Không có làm
Tuần cửu và hành pháp độ thăng. Mỗi phẩm có bài thài
riêng.
A) Nghi Tiết Hành Lễ
1) Hấp hối:
Tụng bài Kinh Cầu Hồn (Rắp nhập cảnh ......)
2) Tắt hơi:
Tụng bài Kinh Khi Ðã Chết Rồi (Ba mươi sáu cõi
.......)
Có Chức Sắc Thiên Phong chứng lễ.
Khi Chơn hồn rời khỏi xác (qui
thiên), tại Ðền Thánh đổ năm (5) hồi trống chuông.
3) Thượng sớ Tân cố:
Lễ Viện dâng sớ tại Ðền Thánh.
4) Tại Biệt Ðiện:
Vọng một bàn linh có bửu ảnh, dàn bát bửu, 1 tàng, 2
lọng, có Chức Sắc của cơ quan luân phiên hầu.
5) Nhập mạch:
Sau 24 giờ qui thiên (thi thể ngồi kiết già) được Ðại
liệm vào Liên Ðài, tụng bài Kinh Tẩn Liệm (Dây oan
nghiệt ........)
6) Thành phục:
Lễ Viện hành lễ phát tang, lễ Cáo Từ Tổ, có Lễ Nhạc.
7) Hành lễ tế điện:
Tang quyến chánh tế.
8) Nghi lễ châm chước:
Lễ Tế Ðiện dâng Tam Bửu, Lễ Sĩ mặc y phục màu phái
Thượng (xanh da trời), chơn đi chữ Tâm, Ðồng nhi thài
(bài thài riêng) và tụng Ai chúc. Tùy trong tang quyến
tế lễ mà đọc bài kinh .........(Lễ phẩm cúng tế tại
Biệt Ðiện do tang quyến hoặc của thân bằng cố hữu).
Liên Ðài quàn tại Biệt Ðiện, có hành
lễ Triêu Tịch.
B) Di Liên Ðài vào Báo Ân Từ
1. Ðạo
Kỳ.
2. Bảng
Ðại Ðạo.
3. Phướn
Thượng Phẩm.
4. Long
Mã múa.
5. Dàn
Bắc.
6. Ðồng
nhi Nam tả Nữ hữu.
7. Dàn
Bát Bửu.
8. Bàn
Hương án có Bửu ảnh, 1 tàng, 2 lọng, 2 Lễ Sĩ hầu.
9. Tràng
hoa, vãng, lụy.
10.
Liên Ðài kỵ
Long Mã (bông), có 2 vị Chức Sắc cao cấp của cơ quan
hầu Liên Ðài, Ðạo Tỳ đi hai bên.
11.
Dàn
Nam.
12.
Tang quyến,
Thân bằng cố hữu và Quan khách.
13.
Chức Sắc,
Chức Việc, và toàn Ðạo nam nữ.
Liên Ðài đến Báo Ân Từ, đổ năm (5)
hồi chuông khi rước cũng như đưa.
C) Liên Ðài an vị tại Báo Ân Từ
(Nghi lễ chưng dọn y như ở Biệt Ðiện)
Hành lễ tế điện:
Hội
Thánh chánh tế. Tang quyến và thân bằng cố hữu phụ tế.
Nghi
châm chước: Lễ tế điện dâng Tam Bửu, Lễ Sĩ mặc y phục
màu Phái Thượng (xanh da trời), chơn đi chữ Tâm, Ðồng
nhi đọc Ai chúc.
Hội
Thánh và các cơ quan Ðạo đọc bài Kinh (Khi dương thế
........)
Tang
quyến tùy trong tang gia quì cúng mà đọc ai chúc.
Cầu siêu:
Tụng bài Kinh (Ðầu vọng bái Tây Phương .........) và bài
(Ba mươi sáu cõi ..........) tụng mỗi bài 3 lần, niệm
câu chú Chí Tôn 3 lần.
Chức Sắc, Chức Việc, Ðạo hữu và Ðồng
nhi nam nữ luân phiên tụng Di Lặc Chơn Kinh.
Ban ngày hành lễ Triêu Tịch, đêm có
Nhạc hòa tấu.
D)
Di Liên Ðài đến Ðền Thánh
-
Nghi lễ rước sắp đặt
trật tự y như lễ Di Liên Ðài vào Báo Ân Từ, trống
chuông rước cũng như khi đưa.
-
Liên Ðài của Ðầu Sư
và Tiên Tử để trước 7 cái Ngai (để chính giữa).
-
Liên Ðài của Thập
Nhị Thời Quân để nơi Hiệp Thiên Ðài (cũng chính giữa),
nghi lễ chưng dọn y như ở Báo Ân Từ.
-
Chức Sắc, Chức Việc,
Ðạo hữu và Ðồng nhi nam nữ luân phiên tụng Di Lặc Chơn
Kinh.
-
Diễn văn tuyên dương
công trạng của vị Triều Thiên.
-
Hội Thánh cầu nguyện
Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng Liêng, bái lễ.
E) Di Liên Ðài ra Cửu Trùng Thiên
(Ðại Ðồng Xã)
-
Nghi lễ rước sắp đặt
trật tự y như lễ rước Liên Ðài vào Ðền Thánh.
-
Liên Ðài an vị trên
Cửu Trùng Thiên, nghi lễ chưng dọn y như ở Ðền Thánh,
có 8 vị Chức Sắc của cơ quan đứng hầu 8 góc Cửu Trùng
Thiên.
-
Chức Sắc, Chức Việc,
Ðạo hữu và Ðồng nhi nam nữ luân phiên tụng Di Lặc Chơn
Kinh, ban đêm có Nhạc hòa tấu.
-
Hành lễ tế điện:
Hội Thánh, các cơ quan Ðạo, tang quyến và thân bằng cố
hữu tế lễ.
-
Ðại lễ dâng Tam
Bửu:
Ba nghi, Lễ Sĩ 3 phái hiến lễ, Lễ Sĩ phái Ngọc điện
đến Lễ Sĩ phái Thượng, Lễ Sĩ phái Thượng điện đến Lễ
Sĩ phái Thái, Lễ Sĩ phái Thái điện đến bàn linh (Liên
Ðài).
F) Lễ Di Liên Ðài nhập Bửu Tháp
-
Hành lễ châm chước:
Hội Thánh, Chức Sắc, Chức Việc, toàn Ðạo nam nữ, thân
bằng cố hữu và tang quyến vào bái lễ.
-
Di Liên Ðài qua
ngang mình Long Mã múa, rồi để lên lưng Long Mã (bông)
đưa đến Bửu Tháp.
-
Khi khởi hành, trong
Ðền Thánh có đổ năm (5) hồi trống chuông.
1. Ðạo
Kỳ.
2. Bảng
Ðại Ðạo.
3. Phướn
Thượng Phẩm.
4. Long
Mã múa.
5. Dàn
Bắc.
6. Ðồng
nhi Nam Nữ đọc Kinh Ðưa Linh.
7. Dàn
Bát bửu, Bàn Hương án có Bửu ảnh, 1 tàng, 2 lọng, 2 Lễ
Sĩ hầu.
8. Tràng
hoa, vãng, lụy, và bàn đưa.
9. Liên
Ðài kỵ Long Mã bông, có 2 vị Chức Sắc cao cấp của cơ
quan hầu, Ðạo Tỳ đi hai bên.
10.
Dàn
Nam.
11.
Tang quyến,
thân bằng cố hữu.
12.
Chức Sắc
Ðại Thiên Phong, Chức Việc và toàn Ðạo Nam Nữ.
-
Ðến Bửu Tháp: Ðại
diện Hội Thánh và các cơ quan Ðạo đọc Ðiếu văn.
-
Tang quyến đáp từ.
-
Ðưa Liên Ðài nhập
Bửu Tháp.
-
Ðồng nhi tụng Kinh
Hạ Huyệt và chú Vãng Sanh. Hễ dứt, niệm câu chú của
Thầy 3 lần.
-
Giải tán
Phụ chú:
Quý vị Ðại Thiên Phong Giáo Tông, Hộ
Pháp, Phật Tử, Chưởng Pháp, Thượng Phẩm, và Thượng Sanh,
khi qui thiên hành lễ Ðạo táng, thì Chức Sắc và toàn Ðạo
đồng thọ tang cho đến ngày mãn Lễ Ðại Tường.
Ðầu Sư, Tiên Tử và Thập Nhị Thời Quân
khi hành lễ Ðạo táng, thì Chức Sắc và toàn Ðạo đồng thọ
tang cho đến ngày Liên Ðài nhập Bửu Tháp.
Tang lễ của Chức Sắc Ðại
Thiên Phong
(Nam Nữ)
Phẩm: |
-
Chánh Phối Sư
và Phối Sư
-
Tiếp Dẫn Ðạo
Nhơn
-
Chưởng Ấn
-
Thánh Nhơn
-
Hiền Nhơn
-
Tiếp Lễ Nhạc
Quân
-
Thập Nhị Bảo
Quân
|
|
Sơ Giải:
Tước phẩm nầy hành lễ theo Thánh Vị, chèo hầu, chèo đưa,
làm tuần cửu, Tiểu Tường, Ðại Tường, bài thài theo hàng
Thánh Vị. Ðặc biệt, Chánh Phối Sư mới có dàn Bát Bửu
rước và đưa.
Hội Thánh xây Kim tỉnh và nấm mộ.
A) Nghi tiết hành lễ
1. Hấp hối:
Tụng bài Kinh Cầu Hồn (Rắp nhập cảnh Thiêng Liêng
......)
2. Tắt hơi:
Tụng bài Kinh Khi Ðã Chết Rồi (Ba mươi sáu cõi Thiên
Tào ......)
Tại Ðền Thánh, đổ 4 hồi trống
chuông.
3. Thượng sớ Tân cố:
Dâng sớ nơi Ðền Thánh.
4. Nhập mạch:
Tụng Kinh Tẩn Liệm (Dây oan nghiệt ........)
B) Di Linh Cửu vào Báo Ân Từ
1. Bảng
Ðại Ðạo.
2. Phướn
Thượng Phẩm.
3. Dàn
Bắc.
4. Ðồng
nhi rước (không có đọc kinh).
5. Bàn
Hương án 2 lọng, 2 vị Chức Sắc của cơ quan và 2 Lễ Sĩ
mặc áo Phái Ngọc hầu.
6. Thuyền
Bát Nhã chở Linh Cửu.
7. Dàn
Nam.
8. Tang
gia.
Thành phục tại Báo Ân Từ:
Lễ Cáo Tiền Bối, nghi châm chước,
Lễ Viện phát tang, lễ tế điện dâng Tam Bửu, Lễ Sĩ mặc áo
phái Ngọc đi chữ Ðinh. Tiếp theo là lễ tế dành cho các
cơ quan Ðạo, và thân bằng quyến thuộc.
Cầu siêu:
Tụng bài Kinh Cầu Siêu, tụng bài Kinh Khi Ðã Chết Rồi,
mỗi bài tụng ba lần, niệm chú Chí Tôn 3 lần.
Ban Tổng Trạo Thuyền Bát Nhã chèo
hầu, ban ngày có làm lễ Triêu Tịch, đêm có Nhạc hòa tấu,
chư Chức Sắc phải tề tựu dự lễ, và để chia buồn cùng
tang quyến. Ðồng nhi nam nữ luân phiên tụng Di Lặc Chơn
Kinh.
C) Lễ An Táng
Tại Báo Ân Từ, hành lễ châm chước,
khiển điện, di Linh cữu ra thuyền Bát Nhã đưa vào Ðền
Thánh do cửa Nghinh Phong Ðài an vị (ngay chính giữa).
Hành pháp độ thăng, Ðồng nhi tụng Kinh Cầu Siêu, Diễn
Văn tuyên dương công nghiệp, Hội Thánh vào bái lễ.
Di Linh cữu ra thuyền Bát Nhã, 2 vị
Chức Sắc của cơ quan hầu.
D) Trật tự đưa đám
1. Bảng
Ðại Ðạo.
2. Phướn
Thượng Phẩm.
3. Dàn
Bắc.
4. Ðồng
nhi tụng bài Kinh Ðưa Linh Cữu có đờn.
5. Bàn
Hương án 2 lọng, có 2 vị Chức Sắc của cơ quan và 2 Lễ
Sĩ phái Ngọc hầu.
6. Bàn
đưa, vãng lụy.
7. Thuyền
Bát Nhã chở Linh cữu, chèo đưa.
8. Dàn
Nam.
9. Tang
gia, và thân bằng cố hữu.
10.
Chức Sắc,
Chức Việc, Ðạo hữu nam nữ.
-
Ðến Cực Lạc: Ðại
diện các cơ quan đọc ai điếu nếu có.
-
Ðồng nhi tụng Kinh
Hạ Huyệt và tụng tiếp chú Vãng Sanh, khi dứt, niệm chú
Chí Tôn 3 lần.
-
Giải tán.
Phụ chú:
Nếu muốn để tại tư gia làm lễ Thành
phục, phát tang, thì tang chủ phải xin phép Hội Thánh.
Xong rồi, phải di Linh Cữu vào Báo Ân Từ cúng tế.
Tang lễ của Chức Sắc Thiên
Phong
(Nam Nữ)
Phẩm: |
-
Giáo Sư
-
Cải Trạng
-
Giám Ðạo
-
Chơn Nhơn
-
Ðạo Nhơn
-
Nhạc Sư
-
Ðốc Nhạc
-
Ðề Nhạc
-
Hộ Ðàn Pháp
Quân,
Tả, Hữu Phan Quân
|
|
Sơ Giải:
Phẩm tước nầy được thọ Bửu pháp, hành lễ theo Thánh Vị,
chèo hầu, chèo đưa, làm Tuần Cửu, Tiểu Tường, Ðại Tường.
Bài thài theo hàng Thánh Vị.
Hội Thánh xây Kim tỉnh và nấm mộ.
A) Nghi tiết hành lễ
1. Hấp hối:
Tụng bài Kinh Cầu Hồn (Rắp nhập cảnh Thiêng Liêng
......)
2. Tắt hơi:
Tụng bài Kinh Khi Ðã Chết Rồi (Ba mươi sáu cõi
.........)
3. Tại Ðền Thánh:
Ðổ (3) hồi trống chuông.
4. Thượng sớ Tân cố:
Dâng sớ tại Ðền Thánh.
5. Nhập mạch:
Tụng Kinh Tẩn Liệm (Dây oan nghiệt ...........)
B) Di Linh Cữu vào Báo Ân Từ
1. Bảng
Ðại Ðạo.
2. Phướn
Thượng Phẩm.
3. Dàn
Bắc.
4. Ðồng
nhi rước Linh cữu.
5. Bàn
Hương án, 2 lọng, 2 vị Chức Sắc của cơ quan và 2 vị Lễ
Sĩ mặc áo phái Ngọc hầu.
6. Thuyền
Bát Nhã.
7. Tang
gia và thân bằng cố hữu.
Thành phục:
Lễ cáo tiền bối, nghi châm chước, Lễ Viện phát tang,
hành lễ tế điện, Lễ Sĩ mặc áo phái Ngọc, chơn đi chữ
Ðinh. Tiếp theo, lễ dành cho các cơ quan Ðạo hay thân
bằng quyến thuộc.
Cầu siêu:
Tụng bài Kinh Cầu Siêu, tụng xen Kinh
Khi Ðã Chết Rồi, mỗi bài tụng 3 lần, niệm chú Chí Tôn 3
lần.
Lễ chèo hầu, Ðồng nhi nam nữ tụng Di
Lặc Chơn Kinh.
C) Lễ An Táng
Tại Báo Ân Từ:
Hành lễ châm chước, khiển điện, di Linh cữu ra thuyền
Bát Nhã, đưa vào Ðền Thánh, do cửa Nghinh Phong Ðài an
vị (ngay chính giữa). Hành pháp độ thăng, Ðồng nhi tụng
Kinh Cầu Siêu, Diễn Văn tuyên dương công nghiệp, Hội
Thánh vào bái lễ.
Di Linh cữu ra thuyền Bát Nhã, 2 vị
Chức Sắc của cơ quan và 2 vị Lễ Sĩ mặc áo phái Ngọc hầu.
D) Trật tự đưa đám
1. Bảng
Ðại Ðạo.
2. Phướn
Thượng Phẩm.
3. Dàn
Bắc.
4. Ðồng
nhi tụng Kinh Ðưa Linh, có đờn.
5. Bàn
Hương án 2 lọng, 2 vị Chức Sắc của cơ quan và 2 Lễ Sĩ
mặc áo phái Ngọc hầu.
6. Bàn
đưa, vãng, lụy.
7. Thuyền
Bát Nhã chở Linh Cữu.
8. Dàn
Nam.
9. Tang
gia.
10.
Chức Sắc,
Chức Việc, Ðạo hữu Nam Nữ.
-
Ðến Cực Lạc: Ðại
diện các cơ quan Ðạo đọc ai điếu (nếu có).
-
Ðồng nhi tụng Kinh
Hạ Huyệt và tụng tiếp chú Vãng Sanh, khi dứt niệm chú
Chí Tôn 3 lần.
-
Giải tán
Phụ chú:
Nếu muốn để tại tư gia làm lễ thành
phục, phát tang, thì tang chủ phải xin phép Hội Thánh.
Xong rồi, di Linh Cữu vào Báo Ân Từ cúng tế.
Tang lễ của Chức Sắc Thiên
Phong
(Nam Nữ)
Sơ Giải:
Phẩm tước nầy được thọ Bửu Pháp. Hành lễ theo Thánh vị,
chèo hầu, chèo đưa, làm Tuần Cửu, Tiểu Tường, Ðại Tường.
Bài thài theo hàng Thánh vị.
Hội Thánh xây Kim tỉnh và nấm mộ.
A) Nghi tiết hành lễ
1. Hấp hối:
Tụng bài Kinh Cầu Hồn (Rắp nhập cảnh .........)
2. Tắt hơi:
Tụng bài Kinh Khi Ðã Chết Rồi (Ba mươi sáu cõi
...........)
3. Tại Ðền Thánh:
Ðổ hai (2) hồi chuông trống.
4. Thượng sớ Tân cố:
Dâng sớ tại Ðền Thánh.
5. Nhập mạch:
Tụng Kinh Tẩn Liệm (Dây oan nghiệt ...........)
B) Di Linh Cữu vào Báo Ân Từ
1. Bảng
Ðại Ðạo.
2. Phướn
Thượng Phẩm.
3. Dàn
Bắc.
4. Ðồng
nhi theo hầu, không đọc kinh.
5. Bàn
Hương án, 2 lọng, 2 vị Chức Sắc của cơ quan và 2 Lễ Sĩ
mặc áo phái Ngọc hầu.
6. Thuyền
Bát Nhã chở Linh cữu.
7. Tang
quyến.
Tại Báo Ân Từ:
Hành lễ cáo Tiền bối, nghi lễ châm chước, thành phục,
phát tang, hành lễ tế điện, Lễ Sĩ mặc áo phái Ngọc, chơn
đi chữ Ðinh.
Tang gia chánh tế, các cơ quan Ðạo
phụ tế.
Cầu siêu:
Tụng bài Kinh Cầu Siêu, tụng xen Kinh Khi Ðã Chết Rồi.
Mỗi bài tụng 3 lần, niệm chú Chí Tôn 3 lần.
Lễ chèo hầu xong, Ðồng nhi tụng Di
Lặc Chơn Kinh.
Ngày an táng:
Tại Báo Ân Từ, làm nghi châm chước, khiển điện, di Linh
cữu ra thuyền Bát Nhã, đưa vào Ðền Thánh do cửa Nghinh
Phong Ðài an vị (ngay chính giữa). Hành lễ độ thăng,
Ðồng nhi tụng Kinh Cầu Siêu. Diễn văn tuyên dương công
nghiệp, Hội Thánh vào bái lễ. Di Linh cữu ra thuyền Bát
Nhã đưa đến Cực Lạc.
C) Trật tự đưa đám
1. Bảng
Ðại Ðạo.
2. Phướn
Thượng Phẩm.
3. Dàn
Bắc.
4. Ðồng
nhi tụng Kinh Ðưa Linh, có đờn.
5. Bàn
Hương án 2 lọng, 2 vị Chức Sắc của cơ quan và 2 vị Lễ
Sĩ mặc áo phái Ngọc hầu.
6. Bàn
đưa, vãng, lụy.
7. Thuyền
Bát Nhã chở Linh cữu.
8. Dàn
Nam.
9. Tang
gia.
10.
Chức Sắc,
Chức Việc và Ðạo hữu Nam Nữ.
-
Ðến Cực Lạc: Ðại
diện các cơ quan Ðạo đọc Ai điếu (nếu có).
-
Ðồng nhi tụng Kinh
Hạ Huyệt và tụng tiếp chú Vãng Sanh 3 lần, niệm chú
Chí Tôn 3 lần.
-
Giải tán
Phụ chú:
Nếu tang gia muốn làm lễ thành phục
phát tang tại gia, thì phải xin phép Hội Thánh. Xong
rồi, phải di Linh cữu vào Báo Ân Từ cúng tế.